Thursday, July 28, 2022

Matthew 15:21-28 Người phụ nữ Canaan

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thật sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ, 

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

In the last class, we studied Matthew 15:1-20. Tonight, we continue the chapter, studying verses 21-28. Let us read this passage.

Buổi trước chúng ta đã học Matthew 15:1-20. Tối nay, chúng ta sẽ tiếp tục học chương này các câu 21-28.

In this passage, we see a tough conversation between Jesus and a Canaanite woman. The same incident is also reported in Mark 7: 24-30. 

Trong đoạn này, chúng ta nhìn thấy một cuộc hội thoại khắc nghiệt giữa Chúa Giê Su và một người phụ nữ Cannanite. Tình huống xảy ra trong Mark 7:24-30.

We need to know the historical background of this woman first. As we read in this passage, she was a Canaanite woman. It means her ancestor was Canaan. So let us look at who Canaan was. Genesis 9: 18 The sons of Noah who went out of the ark were Shem, Ham, and Japheth. Ham was the father of Canaan. So Canaan was the grandson of Noah.

Chúng ta cần phải biết về lịch sử của người phụ nữ này trước đã. Như chúng ta đọc trong đoạn này, người phụ nữ này là người phụ nữ Canaanite. Có nghĩa rằng tổ phụ của họ là người Canaan. Vì vậy, chúng ta hãy xem Canaan là ai. Genesis 9:18 Các con trai của Noah ra khỏi tàu là Sem, Cham và Gia phết. Ham là cha của Canaan. Vì vậy Canaan là cháu trai của Noah.

Now let us look at what happened to Canaan. Genesis 9: 20-25. We read here that the sin was committed by Ham but the curse fell on Canaan, his son. We may think that it is unfair. Why should the children suffer because of the sins of their parents? God said in the Ten Commandments as we read in Exodus 20:4-6 You shall not make yourself an idol, whether in the form of anything that is in heaven above, or that is on the earth beneath, or that is in the water under the earth. You shall not bow down to them or worship them; for I the Lord your God is a jealous God, punishing children for the iniquity of parents, to the third and the fourth generation of those who reject me, but showing steadfast love to the thousandth generation of those who love me and keep my commandment. 

Chúng ta hãy đọc điều gì xảy ra với Canaan. Genesis 9:20-25. Chúng ta đọc được ở đây rằng tội là do Ham phạm phải nhưng sự nguyền rủa lại đổ trên Canaan, con trai của Ham. Chúng ta có thể nghĩ rằng sao nghe vô lý vậy. Tại sao con cái lại phải chịu tội do tội lỗi của cha mẹ? Chúa nói trong 10 điều răn như chúng ta đọc trong Xuất Ai cập ký 20:4-6 rằng: Con không được làm cho mình một hình tượng nào theo hình dạng của những vật trên trời cao, hoặc nơi đất thấp, hoặc trong nước dưới mặt đất. Con không được cúi lạy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng; vì Ta là Giê Hô Va Đức Chúa Trời của con là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến thế hệ thứ ba, thứ tư. Nhưng Ta sẽ ban ơn đến hàng nghìn thế hệ cho những người yêu mến Ta và vâng giữ các điều răn của Ta.

As evident from these verses, the curse of the sins committed by parents falls on the children and the future generations. It is called a generational curse. Often people ask me, how do I know what sins my parents and ancestors have committed. You do not have to investigate the sins of your parents and ancestors. Your job is to repent for the sins that your ancestors might have committed. You may not be able to repent precisely on the sins of your parents and ancestors because you do not know what sins they have committed. In your case, you know that you are the first person in the family coming to Jesus. It means your parents and your ancestors led a life without God. It also means they did not even know what sin is and might have committed many bad things. Even today, if you look around, you can see people committing sins without knowing what they are doing is a sin. 

Bằng chứng trong những câu này, lời nguyền rủa do tội lỗi phạm phải bởi cha mẹ lại đổ lên con cái và các thế hệ con cháu. Đó được gọi là lời nguyền rủa của thế hệ. Thường mọi người hay hỏi Cha rằng làm sao con biết được rằng bố mẹ và tổ tiên con đã phạm phải tội gì. Bạn không cần phải điều tra tội lỗi của bố mẹ tổ tiên. Việc của bạn là sám hối cho những tội lỗi mà tổ tiên bạn đã phạm phải. Bạn có thể không xưng đúng tội lỗi của bố mẹ tổ tiên bởi vì bạn không biết họ phạm phải tội gì. Trong trường hợp của bạn, bạn là người đầu tiên trong gia đình biết đến với Chúa. Có nghĩa rằng bố mẹ và tổ tiên bạn đã sống một cuộc sống không có Chúa. Điều đó nghĩa rằng họ có khi còn không biết tội lỗi là gì và có thể đã phạm phải nhiều điều xấu. Ngay cả ngày nay, nếu bạn nhìn quanh, bạn có thể thấy nhiều người phạm tội nhưng cũng không biết mình đang phạm tội.

Canaan was cursed due to the sin of his father. The future generations of Canaan also lived a demonic life as evident from the places where they lived. For example, Genesis 10: 19 And the families of the Canaanites extended from Sidon, in the direction of Gerar, as far as Gaza, and in the direction of Sodom and Gomorrah, Admah and Zebolim, as far as Lasha. As we see in this verse, Sidon was the place where this Canaanite woman was living. Sodom and Gomorrah were sinful cities which God completely destroyed as we read in Genesis chapter 19. 

Canaan bị nguyền rủa do tội lỗi của ông cha. Các thế hệ sau của Canaan cũng sống một đời sống ma quỷ như bằng chứng ở những nơi họ sống. Ví dụ, Genesis 10:19 Còn lãnh thổ Canaan mở rộng từ Sidon theo hướng Ghê ra thì đến tận Ga xa theo hướng Sô đôm, Gô mô rơ, Át Ma và Sê bô im thì đến tận Lê sa. Như chúng ta nhìn thấy trong câu này, Sidon là nơi người phụ nữ Canaan này sống. Sodom và Gomorah là những thành phố tội lỗi mà Chúa đã phá hủy hoàn toàn trong Genesis chương 19.

The generations of Canaan never returned to the Lord. Instead, they continued in their sins. As a result, the whole region became completely demonic. The daughter of the Canaanite woman was also possessed with demons as we read in this passage. Hence she came pleading to Jesus to heal her daughter. Jesus initially ignored her pleading but the woman did not give up. She continued following Jesus and pleading. Then the disciples requested Jesus to give what she wanted and send her away. But Jesus said, it is not fair to give the food of children to dogs. That sounds like a rude response if we do not know why Jesus said so. 

Các thế hệ của Canaan chưa bao giờ quay trở lại với Chúa. Thay vào đó, họ tiếp tục trong tội lỗi của họ. Kết quả là, cả vùng trở nên hoàn toàn ma quỷ. Cọn cái của người phụ nữ Canaan này cũng bị quỷ ám như chúng ta đọc được trong đoạn văn này. Do đó, người phụ nữ này đến để cầu xin Chúa Giê Su chữa lành cho con gái mình. Chúa Giê Su ban đầu phớt lờ lời cầu xin của bà nhưng người phụ nữ không bao giờ bỏ cuộc. Bà tiếp tục theo Chúa và nài xin. Sau đó, các môn đồ cầu xin Chúa hãy ban cho bà để bà đi đi. Nhưng Chúa Giê Su nói, sẽ là không phải nếu đem thức ăn của con cái cho chó. Điều đó nghe có có vẻ thô lỗ nếu chúng ta không biết lý do tại sao Chúa lại nói vậy.

In the Bible, dogs are symbols of demons. For example Psalm 22:20 Deliver my soul from the sword, my life from the power of the dog. Likewise Revelation 22:15 Outside are the dogs and sorcerers, and fornicators and murderers and idolators, and everyone who loves and practices falsehood. When Jesus said it is not fair to feed the dogs with the food meant for children, He meant the blessings for the children cannot be given to demons. 

Trong Kinh Thánh, chó là biểu tượng của quỷ. Chẳng hạn trong Thi Thiên 22:20 Xin hãy giải cứu linh hồn con khỏi gươm và mạng sống con khỏi loài chó. Và trong Khải Huyền 22:15 những lũ chó, những kẻ hành nghề ma thuật, những kẻ gian dâm, những kẻ giết người, những kẻ thờ hình tượng cũng những kẻ ưa thích và thực hiện sự giả dối đều ở ngoài. Khi Chúa nói thật không phải khi đem thức ăn của con cái cho chó, ngài muốn nói rằng phước lành cho con cái Chúa không thể đem cho quỷ được.

Even though Jesus ignored her, the woman did not give up. This shows her humility. She knew that she was not eligible to receive blessings or healings from God because of her demonic background. But she did not stop. Jesus taught that we should never give up praying as we read in Luke 18: 1-7. God will never reject our prayers. He will surely answer our prayers and grant our requests. But, we need to be humble. To become humble means we should change. God accepts prayers only from a humble heart. People often expect instant response from God. Such people are those who think God is their servant. It is like going to a coffee shop and ordering coffee. If the coffee is late we become angry. 

Mặc dù Chúa Giê Su phớt lờ nhưng người phụ nữ không từ bỏ. Điều này cho thấy sự khiêm hạ của người phụ nữ này. Bà biết rằng bà không đủ điều kiện để nhận được phước lành hay sự chữa lành từ Chúa do xuất thân là ma quỷ. Nhưng bà không dừng lại. Chúa Giê Su dạy rằng chúng ta không nên từ bỏ cầu nguyện như chúng ta đọc trong Luke 18:1-7. Chúa sẽ không bao giờ từ chối lời cầu nguyện của chúng ta. Ngài chắc chắn sẽ trả lời lời cầu nguyện của chúng ta và ban cho chúng ta điều chúng ta cầu xin. Nhưng chúng ta cần phải khiêm hạ. Để trở nên khiêm hạ, chúng ta cần phải thay đổi. Chúa chỉ chấp nhận lời cầu nguyện từ một tấm lòng khiêm hạ. Mọi người thường mong đợi sự đáp lại ngay lập tức từ Chúa. Những người đó là những người nghĩ rằng Chúa là người hầu của họ. Nó giống như đi tới quán café và gọi café vậy. Nếu café đến chậm chúng ta nổi cáu.

We are now living in an era of impatience. We are impatient with the speed of the internet. If the video does not play instantly we become impatient. We expect instant response for our messages. If the download takes time, we become angry. So the devil has got a very good opportunity to manipulate the technology to make people impatient. And he has succeeded in that. If I ask you, how much time can you spend reading the Bible, you will say not much. I can give you a simple exercise. Just note down for one day the amount of time you spend on your phone. Then compare that with the time you spend reading the Bible and praying on the same day. You will realise that you did not even spend a minute portion of the mobile time to read the Bible. The reason is when you read the Bible you need time to understand and meditate. But you do not have the patience to spend that much time. At the same time, whatever you want online is readily available. In short, the devil has fairly succeeded in dragging people away from God, at least for a short period of time. 

Chúng ta hiện đang sống trong một kỷ nguyên của sự thiếu kiên nhẫn. Chúng ta thiếu kiên nhẫn với tốc độ của internet. Nếu video không chạy ngay, chúng ta trở nên mất kiên nhẫn. Chúng ta mong đợi hồi đáp ngay lập tức cho tin nhắn của chúng ta. Nếu việc download mất thời gian, chúng ta trở nên tức giận. Vì vậy quỷ có cơ hội tốt để tận dụng công nghệ và làm cho chúng ta mất kiên nhẫn. Và nó thành công. Nếu Cha hỏi bạn, bạn dành bao nhiêu thời gian để đọc Kinh Thánh, bạn sẽ nói không nhiều lắm. Hãy ghi xuống xem một ngày bạn dành bao nhiêu thời gian để đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Bạn sẽ nhận ra rằng bạn thậm chí không dành ra được một phần nhỏ để đọc Kinh Thánh so với thời gian trên điện thoại. Lý do là vì khi đọc Kinh Thánh bạn cần thời gian để hiểu và suy ngẫm. Nhưng bạn không có đủ kiên nhẫn để dành nhiều thời gian như thế. Cùng lúc đó, khi bạn lên mạng thì mọi thứ đều sẵn có. Nói ngắn gọn rằng quỷ đã khá thành công để kéo người ta ra xa khỏi Chúa, ít nhất trong một khoảng thời gian.

The Canaanite woman was desperate. She did not want her daughter to continue in the same curse that she and her family was under. Parents do not want their children to suffer. In order for children to have a better life, parents force them to study hard, take them to extra curricular activities like dancing, swimming, sports etc. The only thing that the parents forget to give their children is Jesus. But, a life with Jesus is the best thing that parents can give to their children. The Canaanite woman knew that. Hence she brought the case of her daughter to Jesus. She knew that if God is in favour of her, no other powers can harm her. Romans 8:31 What then are we to say about these things? If God is for us, who is against us? 

Người phụ nữ Canaan đã rất tuyệt vọng. Bà không muốn con gái mình tiếp tục ở trong sự nguyền rủa mà gia đình đang phải chịu. Bố mẹ không muốn con cái phải khổ cực. Để con cái có cuộc sống tốt hơn, cha mẹ bắt con cái phải học chăm chỉ, tham gia nhiều hoạt động ngoại khóa như khiêu vũ, bơi, thể thao…Điều duy nhất cha mẹ quên đó là cho con cái mình biết đến Chúa. Nhưng một cuộc sống với Chúa là điều tốt nhất mà cha mẹ có thể đem cho con cái. Người phụ nữ Canaan biết điều đó. Do đó, bà đã đem con gái mình cho Chúa Giê Su. Bà biết rằng nếu Chúa tha thứ, không có một thế lực nào khác có thể làm hại cô ấy được. Romans 8:31 Nếu Đức Chúa Trời đứng về phía chúng ta thì còn ai nghịch với chúng ta?.

You can ask this question with full confidence if you speak out Psalm 118:6 With the Lord on my side I do not fear. What can mortals do to me? Just reading this verse is not sufficient to build confidence. You need to recite this verse more often. When you keep reciting this verse day after day, you will realise gaining confidence in your life. That confidence will then build up patience. When you are confident you won't mind waiting because you know either today or tomorrow, your prayers will be answered. This is what guided the Canaanite woman. Though she knew that she was under generational curse, she also knew that Jesus came into this world to break all the curses and set mankind free. She had full faith in this. 

Bạn có thể hỏi câu hỏi này với sự tự tin nếu bạn nói to Thi Thiên 118:6 Đức Giê Hô Va bênh vực tôi, tôi chẳng sợ, loài người làm gì được tôi?. Chỉ đọc câu này thôi là không đủ để xây dựng sự tự tin. Bạn cần phải đọc đi đọc lại câu này nhiều lần. Khi bạn cứ đọc đi đọc lại câu này thật nhiều, bạn sẽ dần dần cảm thấy có được sự tự tin trong cuộc sống. Sự tự tin đó sẽ xây lên sự tự tin. Khi bạn tự tin thì bạn sẽ không ngại chờ đợi bởi vì bạn biết ngày nay hoặc ngày mai, lời cầu nguyện của bạn sẽ được đáp lại. Đó là điều đã dẫn dắt người phụ nữ Canaan. Mặc dù bà biết rằng bà ở dưới lời nguyền thế hệ, nhưng bà biết rằng Chúa Giê Su đến với thế gian để phá vỡ những lời nguyện đó và trả tự do cho con người. Bà có đầy đủ đức tin vào điều đó.

The faith in Jesus means faith in our freedom from curse and bondages. Jesus' difficult statement was to find out whether the woman realises her curse or not. The response of the woman shows that she immediately understood what Jesus meant. She replied, Yes Lord, yet even the dogs eat the crumbs that fall from the master's table (vs. 27). By saying this she was quoting from the curse of Noah as we read in Genesis 9: 25 Cursed be Canaan, lowest of slaves shall be to his brothers. The lowest of slaves means even worse than a slave which means like a dog. 

Đức tin vào Chúa Giê Su có nghĩa là đức tin vào sự tự do giải phóng chúng ta khỏi những lời nguyền và xiềng xích. Câu nói khó nghe của Chúa là để xem người phụ nữ này có nhận ra lời nguyền rủa của mình hay không. Lời đáp của người phụ nữ cho thấy bà hiểu ngay những lời mà Chúa nói. Bà đáp trong câu 27, nhưng mấy con chó vẫn được ăn những miếng vụn từ bàn chủ rơi xuống. Khi nói câu này bà đã nhắc lại lời nguyền của Noah như chúng ta đọc trong Genesis 9:25 Canaan đáng nguyền rủa, nó sẽ làm nô lệ thấp hèn nhất cho anh em nó. Nô lệ thấp hèn nhất nghĩa là chỉ giống như con chó vậy.  

When Jesus said I cannot give the food of my children to dogs, He hinted at the curse of Noah to the Canaanite woman. Jesus wanted to hear from her whether she was still living the demonic life of her ancestors or she had changed. And the woman’s answer meant, yes Lord, I remember the curse. But, I am at your mercy. That is what she meant when she said even dogs are at the mercy of their masters for food. 

Khi Chúa nói rằng, ta không thể đem thức ăn của con cái cho chó, ngài ám chỉ lời nguyền của Noah cho người phụ nữ Canaan. Chúa muốn nghe từ người phụ nữ này liệu bà ta có sống một đời sống ma quỷ như tổ tiên không hay đã thay đổi. Và câu trả lời của người phụ nữ là, vâng thưa Chúa, con nhớ tới lời nguyền. Nhưng con ở dưới sự thương xót của Ngài. Đó là ý của bà khi bà nói ngay cả chó cũng ở dưới sự thương xót của chủ để có cái ăn.

The Canaanite woman started shouting Have mercy on me, O Lord as we read in vs. 22 of tonight’s passage. We are at the mercy of our Lord. Mercy of God means steadfast love and compassion of God to forgive and wipe out all our sins. This is what we read in Psalm 51:1 Have mercy on me O God, according to your steadfast love; according to your abundant mercy blot out my transgressions. When the Canaanite woman shouted have mercy on me Jesus, she knew that only Jesus could forgive her sins and rescue her family from demonic possessions.

Người phụ nữ Canaan bắt đầu kêu lên. Xin hãy thương xót con như chúng ta đọc trong câu 22. Chúng ta ở dưới sự thương xót của Chúa. Sự thương xót của Chúa nghĩa là tình yêu thương và thương xót của Ngài để tha thứ và xóa sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Đó là điều chúng ta đọc trong Thi Thiên 51:1 Đức Chúa Trời ơi xin thương xót con, theo lòng nhân từ của Chúa. Khi người phụ nữ Canaan kêu lên, xin hãy thương xót con, bà biết rằng chỉ có Chúa Giê Su mới có thể tha thứ tội lỗi và giải cứu gia đình khỏi sự thống trị của quỷ.     

We may doubt whether the Canaanite woman committed any sin by herself or was it only the sins of her parents and ancestors. Let us compare this case to the case of the Samaritan woman in John 4. When the Samaritan woman prayed to Jesus to give her the spring of water for eternal life, He said, ok I will give you. But before that, can you go and bring your husband? Let us read John 4:16-18 Ngài bảo: hãy đi gọi chồng chị rồi trở lại đây Người phụ nữ thưa: tôi không có chồng. Đức Chúa Giê Su nói: chị bảo chị không có chồng là phải, vì chị đã có năm đời chồng, còn người mà chị hiện có không phải là chồng chị. Do you understand what this means? 

Chúng ta có thể thắc mắc rằng liệu người phụ nữ Canaan này có phạm tội không hay đó chỉ là tội của ông bà bố mẹ tổ tiên. Chúng ta hãy so sánh tình huống này với người phụ nữ Samaritan trong John 4. Khi người phụ nữ Samari cầu nguyện Chúa ban cho suối nước của sự sống đời đời. Ngài nói, ta sẽ ban cho nhưng trước hết ngươi hãy mang chồng đến đây. Chúng ta hãy đọc John 4:16-18 . Bạn có hiểu điều này nghĩa là gì không?

It means even if you hide, Jesus can see your sins. The Samaritan woman hid her sins from Jesus and pretended that she was a virgin when she already had five husbands and was living with the sixth man. Likewise, when Jesus mentioned the dogs to the Canaanite woman, Jesus must have seen that she was also living in sin and was demonic. We can see around us that parents live all kinds of evil lives but they want their children to be perfect. So they become strict with their children. They do not realise that the demons pass from them to their children too when they commit sin. When parents are young, they lead all kinds of demonic life. But when they get old, they try to be pure. By that time, the kids would have grown up and then they would start leading demonic lives. 

Điều này nghĩa rằng nếu bạn trốn tránh, Chúa vẫn nhìn thấy tội lỗi của bạn. Người phụ nữ Samaritan đã giấu Chúa tội lỗi và giả vờ mình là người trong trắng trong khi cô ta đã có năm đời chồng và hiện đang sống với người thứ sáu. Tương tự, khi Chúa đề cập đến chó với người phụ nữ Canaan, Chúa hẳn đã phải nhìn thấy rằng người phụ nữ này sống trong tội lỗi và ma quỷ. Chúng ta có thể nhìn thấy xung quanh chúng ta cha mẹ sống cuộc sống tội lỗi nhưng họ lại muốn con cái trở nên hoàn hảo. Vì vậy họ nghiêm khắc với con cái mình. Họ không nhận ra rằng quỷ truyền từ họ sang con cái họ nữa khi họ phạm tội. Khi cha mẹ còn trẻ, họ sống đủ kiểu tội lỗi, khi về già thì họ lại cố gắng trở nên thánh thiện. Nhưng trước đó, con cái họ đã lớn và đã bắt đầu sống cuộc sống ma quỷ rồi.

This is what could have happened to the Canaanite woman too. She is panicking because her daughter has also started leading a demonic life. So she came begging to Jesus. But in order to save the daughter, the mother needs to confess her sins first. This is what took place in the conversation between Jesus and the woman. In other words, the woman confessed her sins and pleaded to Jesus for mercy. 

Đây là điều cũng có thể đã xảy ra với người phụ nữ Canaan nữa. Bà sợ hãi bởi vì con gái cũng bắt đầu sống cuộc sống ma quỷ. Vì vậy bà tới và cầu xin Chúa. Nhưng để cứu con gái, người mẹ cần phải thú nhận tội lỗi của mình trước. Đây là điều xảy ra trong cuộc hội thoại giữa Chúa Giê Su và người phụ nữ này. Nói cách khác, người phụ nữ đã thú nhận tội lỗi và cầu xin Chúa thương xót.

We see that Jesus forgave her sins and accepted her. After the confession, Jesus said, Woman, great is your faith! Let it be done for you as you wish. And her daughter was healed instantly (vs. 28).

Chúng ta thấy ở đây rằng Chúa Giê Su đã tha thứ cho tội lỗi của bà và chấp nhận bà. Sau khi thú tội, Chúa Giê Su nói, Hỡi người phụ nữ kia, ngươi có đức tin lớn. Điều ngươi ao ước sẽ được thành! Ngay trong giờ đó, con gái bà được lành.

What we see here is instant healing. It means we can get instant answers to our prayers. But for that, we should be holy and pure. Carrying all the sins, and hiding from Jesus, and then praying for blessings cannot get answers from God. When we change, God will also change His attitude towards us. When God looks through us, He can see what spirit is inside us. If it is a demonic spirit reflecting on our face, God will say, sorry I cannot help. But, if it is a Holy Spirit reflecting on our face, God can instantly help us. 

Điều xảy ra ở đây là sự chữa lành ngay lập tức. Có nghĩa rằng chúng ta có thể nhận được câu trả lời ngay lập tức cho lời cầu nguyện của chúng ta. Nhưng để có điều đó, chúng ta cần phải trong sáng và thánh khiết. Mang theo mình đủ mọi loại tội lỗi và giấu diếm trước Chúa, sau đó cầu xin các phước lành thì chúng ta sẽ không nhận được gì cả. Khi chúng ta thay đổi, Chúa cũng sẽ thay đổi thái độ của mình với chúng ta. Khi Chúa nhìn xuyên qua chúng ta, Chúa có thể thấy linh gì đang ở trong chúng ta. Nếu đó là ác linh phản ánh trên khuôn mặt chúng ta, Chúa sẽ nói, xin lỗi ta không thể giúp được. Còn nếu có Thánh Linh phản chiếu trên mặt chúng ta, Chúa sẽ giúp chúng ta ngay lập tức.

When our children ask for food we do not ask one hundred questions before giving them food. We just give. But if it is an outsider asking, we would ask at least a few questions before giving them anything. It is quite natural because the parents know that their children are hungry. So they just give. In the same way, when God sees us, He knows whether we are His children or the children of the devil. If we are His children, we get instant response. But if we are demonic children, then He will ask questions in the same way as Jesus asked questions to the Canaanite woman and the Samaritan woman. 

Khi con cái chúng ta xin đồ ăn, chúng ta không cần phải hỏi một trăm câu hỏi trước khi cho chúng đồ ăn. Chúng ta lúc nào cũng cho. Nhưng nếu là một người ngoài cầu xin, chúng ta ít nhất cũng phải hỏi một vài câu hỏi trước khi cho họ một chút gì. Đó cũng là điều tự nhiên bởi vì cha mẹ biết rằng con cái đang đói. Vì vậy sẽ phải cho con cái ăn. Tương tự, khi Chúa nhìn thấy chúng ta, Ngài biết chúng ta là con cái Ngài hay con cái của quỷ. Nếu chúng ta là con cái Ngài, chúng ta sẽ nhận được hồi đáp ngay lập tức. Nhưng nếu chúng ta là con cái quỷ, Ngài sẽ hỏi những câu hỏi giống như Chúa hỏi người phụ nữ Canaan và Samaritan.

Tonight, those who have children should start pleading to Jesus for their children. Those who do not have children should also start pleading to Jesus for their children to be born in future. You may ask why even before having children. You have to, because there are generational curses you are carrying. And you also have sins of your own. All these will pass on to your children. Therefore, you need to confess now so that your future is safe with God and secure from the demons. 

Tối nay, những ai có con cái cần phải bắt đầu cầu xin Chúa cho con cái mình. Những ai chưa có con cái cần bắt đầu cầu xin Chúa cho con cái trong tương lai của mình. Bạn có thể hỏi tại sao phải cầu ngay cả trước khi có con. Bạn cần phải làm thế bởi vì có những lời nguyền thế hệ mà bạn đang mang. Do đó, bạn cần phải sám hối để mà tương lai được an toàn với Chúa và được giải cứu khỏi quỷ.

The Canaanite woman confessed and got her daughter saved. It means she not only saved her daughter, but her future grandchildren as well. In the same, we also need to take care of our children as well as our future generations.

Người phụ nữ Canaan đã xưng tội và con gái được cứu. Có nghĩa rằng không chỉ người con gái mà cả thế hệ tương lai cũng được cứu. Tương tự, chúng ta cũng cần phải chăm sóc cho con cái và thế hệ mai sau của chúng ta.

God bless you. Amen. 

 

Matthew 15:1-20 Rửa tay trước khi ăn

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ, 

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We completed studying Matthew chapter 14 in the last class. 

Chúng ta đã học xong Matthew chương 14 trong buổi trước.

Tonight, we start with Matthew chapter 15. Let us read Matthew 15:1-20.

Hôm nay chúng ta sẽ bắt đầu học Matthew chương 15. Chúng ta hãy đọc Matthew 15:1-20.

This section is divided into two parts: The first section covers the tradition of the elders in the Jewish custom. In the second section, Jesus explains what should actually be the tradition. 

Đoạn này chia làm hai phần: phần đầu tiên nói về truyền thống của những cổ nhân trong văn hóa người Do Thái. Trong phần thứ hai, Chúa Giê Su giải thích cái truyền thống thực sự cần phải như thế nào.

This section starts with a complaint about the disciples of Jesus. The scribes and the Pharisees complained to Jesus that His disciples were not following the tradition of the elders. The tradition was washing hands before eating. 

Phần này bắt đầu với lời phàn nàn về các môn đồ của Chúa Giê Su. Các thầy thông giáo và người Pha ri si đã phàn nàn với Chúa Giê Su rằng các môn đồ của Ngài không tuân theo các truyền thống của họ. Truyền thống ở đây là phải rửa tay trước khi ăn.

We wash our hands before and after eating. It is not a ritual but it is something that we do as part of hygiene. In the Jewish daily life, it was made a religious law that one should wash his/her hands before eating and after eating, before prayers, and after rising up from sleep. The purpose of this law of washing was to reflect on the holiness of God. As we read in Leviticus 11:44 God commanded His people, For I am the Lord your God; sanctify yourselves therefore, and be holy, for I am holy. 

Chúng ta rửa tay trước và sau khi ăn. Đây không phải là nghi lễ mà nó là để cho hợp vệ sinh. Trong truyền thống hàng ngày của người Do Thái, nó được biến thành một luật lệ tôn giáo rằng một người cần phải rửa tay trước khi ăn và sau khi ăn, trước khi cầu nguyện và sau khi ngủ dậy. Mục đích của luật rửa tay này cũng phản ánh sự thánh khiết của Chúa. Chúng ta đọc trong Chúa có ra lệnh cho con cái Chúa rằng: Leviticus 11:44 Vì ta là Đức Giê Hô Va Đức Chúa Trời của các con, hãy biệt mình ra Thánh và phải Thánh vì Ta là thánh

The holiness of God means He is completely pure and holy. Can you imagine God as beautiful outside and ugly inside? That is what the idols and statues look like. Statues and idols are painted beautifully. People paint the statues and idols every year. But they paint only the outer part of the statue. They never clean or paint inside. But the true God does not need cleaning and painting by people. He is eternally holy and pure. It is not only God who wants to be holy. He has commanded all His children also to be holy and pure. Hence God commanded Be Holy as I am Holy. 

Sự thánh sạch của Chúa nghĩa rằng Ngài là hoàn toàn trong sáng và thánh khiết. Bạn có thể tưởng tượng được Chúa chỉ đẹp bên ngoài và xấu bên trong không? Đó là những gì mà hình tượng và các bức tượng trông như vậy. Các tượng thần bên ngoài trông rất đẹp. Người ta sơn lại các thần tượng mỗi năm. Nhưng người ta chỉ sơn được bên ngoài của bức tượng thôi. Họ chẳng bao giờ sơn hay làm sạch bên trong. Nhưng Chúa thực sự thì không cần mọi người phải sơn hoặc tô vẽ. Ngài trong sáng và thánh khiết đời đời. Không chỉ Chúa là người muốn được thánh khiết. Ngài cũng ra lệnh cho tất cả con cái Ngài cũng phải trong sáng và thánh khiết. Do đó Chúa ra lệnh: Hãy thánh sạch như ta là thánh sạch.

Unfortunately, the meaning of cleansing was lost and was reduced to a ritualistic practice. This is the reason why Jesus defended His disciples, when the scribes and the Pharisees complained. Do not misunderstand that Jesus was in favour of eating without washing hands before eating. Not at all. This was a conversation between Jesus one one side and the scribes and Pharisees on the other side. The scribes and the Pharisees were the most learned people. They knew the law of God and the teachings by heart. They were leaders and all the ordinary people depended on them to learn about God’s law and commandments. So Jesus wanted to open their eyes to the fact that they were practising hypocrisy instead of truly following the commandments of God. 

Không may, ý nghĩa của sự thánh sạch đã bị mất đi và được tối giản chỉ còn bằng một nghi lễ. Đó là lý do tại sao Chúa Giê Su bảo vệ các môn đồ mình khi những thầy thông giáo và người Pha ri si phàn nàn. Đừng hiểu nhầm rằng Chúa thích ăn mà không rửa tay. Không phải vậy. Mà đây là cuộc hội thoại giữa Chúa một bên và các thầy thông giáo và người Pha ri si một bên. Thầy thông giáo và người Pha ri si là những người học sâu hiểu rộng. Họ biết tất cả những luật lệ cũng như những lời dạy bảo. Họ là những nhà lãnh đạo và tất cả người dân phụ thuộc vào họ để học về những luật lệ và lời răn của Chúa. Vì vậy Chúa Giê Su muốn mở mắt họ trước thực tế rằng là họ chỉ như những kẻ giả tạo thay vì thực sự tuân theo những điều răn của Chúa.

We have referred to 1 Samuel 16 in one of our previous classes. God commanded prophet Samuel to go to the house of Jesse to anoint one of his sons as the king. As soon as prophet Samuel saw the first son, he thought this is who God has chosen because he is tall and handsome. But God said no. Let us read 1 Samuel 16:7 But the Lord said to Samuel, do not look on his appearance or on the height of his stature, because I have rejected him; for the Lord does not see as mortals see; they look on the outward appearance, but the Lord looks on the heart. We can see many statues and idols around us. We also hear people admiring the beauty and the height of the statues. But, as I said, what about the hearts? Statues and idols are made of metal and clay so they do not have a heart at all. 

Chúng ta đề cập đến 1 Samuel 16 trong các buổi học trước. Chúa đã ra lệnh cho nhà tiên tri Samuel đi tới nhà của Jesse để xức dầu một trong những con trai của ông làm vua. Ngay khi nhà tiên tri Samuel nhìn thấy người con trai đầu tiên, ông nghĩ đó là người Chúa chọn bởi vì nó cao và đẹp trai. Nhưng Chúa nói không hề. Chúng ta hãy đọc 1 Samuel 16:7 Nhưng Đức Giê Hô Va phán với Sa mu en: Đừng xét theo diện mạo và vóc dáng cao lớn của nó, vì Ta đã loại bỏ nó Đức Giê Hô Va không xem như cách loài người xem; loài người xem bề ngoài nhưng Đức Giê Hô Va nhìn thấy trong lòng. Chúng ta có thể nhìn thấy nhiều hình tượng xung quanh chúng ta. Chúng ta cũng nghe thấy người ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp hay nhiều cao của các bức tượng. Nhưng trái tim thì sao? Các bức tượng được làm bằng đất sét và kim loại vì thế nó đâu có trái tim.  

The scribes and Pharisees knew this but they did not practice it because of their hypocrisy. Hence Jesus rebuked them as we read in Matthew 23: 25 Woe to you, scribes and Pharisees, hypocrites! For you clean the outside of the cup and of the plate, but inside they are full of greed and self-indulgence. As God said to prophet Samuel, the Lord looks on the inside and not just the outside. Our beauty should never be artificial. A true child of God will have a glowing face. But the glow does not come from cosmetics. The glow will be the spiritual radiation from inside. If you want to experience this, just start meditating regularly on the Word of God. After a few days, others will say that there is a big glow on your face. I have experienced this. You can also experience the same. 

Thầy thông giáo và người Pha ri si biết điều này nhưng họ không thực hành nó bởi sự giả tạo của họ. Do đó Chúa Giê Su đã quở trách họ như chúng ta đọc trong Matthew 23:25 Khốn cho các ngươi, thầy thông giáo và người Pha-ri-si là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi rửa sạch bên ngoài chén đĩa, nhưng bên trong thì đầy rẫy sự tham lam và phóng túng. Như Chúa đã nói với nhà tiên tri Samuel, Chúa trông chờ vào bên trong chứ không phải chỉ bên ngoài. Vẻ đẹp của chúng ta vì vậy không nên là thứ giả tạo. Một người con thực sự của Chúa sẽ có một khuôn mặt bừng sáng. Nhưng ánh sáng đó không đến từ mỹ phẩm. Ánh sáng đó đến từ ánh hào quang từ tâm linh bên trong. Nếu bạn muốn trải nghiệm điều này, hãy cứ suy ngẫm về Lời của Chúa. Sau vài ngày, mọi người sẽ nói rằng có một ánh sáng lớn trên khuôn mặt bạn. Tôi đã từng trải nghiệm điều này. Bạn cũng có thể trải nghiệm tương tự.

Romans 2:28-29 For a person is not a Jew who is one outwardly, nor is true circumcision something external and physical. Rather, a person is a Jew who is one inwardly, and real circumcision is a matter of the heart- it is spiritual and not literal. Such a person receives praise not from others but from God. For us there is no circumcision. It is replaced with baptism. So the question is how can we live up to the true meaning of baptism. It can only happen when we focus on our inner spirituality and not on just showing others our status and pride. 

Romans 2-28:29 Vì một người chỉ bề ngoài là người Do Thái thì không phải người Do Thái thật, còn sự cắt bì về mặt thể xác bên ngoài thì không phải sự cắt bì thật. Nhưng một người bên trong là người Do Thái mới thực là người Do Thái. Sự cắt bì thật phải xuất phát từ tấm lòng, bởi Thánh Linh, chứ không theo chữ nghĩa. Một người như vậy sẽ được khen ngợi, không phải từ loài người mà từ Đức Chúa Trời.  Đối với chúng ta không có sự cắt bì. Điều đó được thay thế bởi sự báp tiêm. Vì vậy câu hỏi là làm thế nào chúng ta có thể sống cho tương ứng với ý nghĩa thực sự của sự báp tiêm. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi chúng ta tập trung vào tâm linh bên trong của chúng ta và không chỉ vào việc thể hiện cho người khác vị thế và sự tự hào của chúng ta.

The Jews converted washing of hands and legs as a show off. They just wanted to show others that they observe ritual purity. But inside they were fully corrupt in everything. You might have seen people making offerings to gods, observing hard rituals, following full moon festivals, and special days. Along with these things, they also commit adultery, and engage in all kinds of demonic things. That is a hypocrite life. Nowadays, you can see more of such hypocrisy on social media. People just post pictures of gods, temples, or prayers and songs, and think that they will get blessings by doing so. 

Người Do Thái đã chuyển hóa sự rửa tay và chân thành một sự khoe khoang. Họ chỉ muốn chỉ cho người khác thấy là họ tuân theo sự thanh sạch theo nghi lễ. Nhưng bên trong họ thực sự ô uế trong tất cả mọi thứ. Bạn có thể nhìn thấy người ta dâng tế lễ cho Chúa, tuân theo những nghi lễ khó, thực hiện lễ hội trăng tròn và những ngày đặc biệt khác. Nhưng cùng với đó, họ phạm tội ngoại tình, và tham gia vào tất cả những điều xấu xa khác. Đó là sự giả tạo. Ngày nay, bạn có thể nhìn thấy nhiều hơn những điều giả tạo đó trên mạng xã hội. Người ta đăng rất nhiều ảnh các tượng thần, miếu, bài hát cầu nguyện vv.. và nghĩ rằng họ có thể nhận được phước lành khi làm thế.

Do you think that God will be pleased by all these things? Not at all. Isaiah 1: 12-14 When you come to appear before me, who asked this from your hand? Trample my courts no more; bringing offerings is futile; incense is an abomination to me. New moon and sabbath and calling of convocation- I cannot endure solemn assemblies with iniquity. Your new moon and appointed festivals my soul hates; they have become a burden to me, I am weary of bearing them. As we can make out from these verses, God feels suffocated when people hide their sins and pretend that they are holy. 

Bạn nghĩ rằng Chúa sẽ hài lòng bởi tất cả những điều này? Không hề Isaiah 1:12-14 Khi các ngươi đến trước mặt Ta, Ai đòi hỏi điều nầy từ tay các ngươi, để các ngươi giày đạp hành lang Ta? Đừng tiếp tục đem tế lễ chay vô ích đến nữa. Ta ghê tởm trầm hương, lễ hội trăng mới, ngày sa bát và các cuộc nhóm họp khác. Ta không chịu nổi việc cứ phạm tội rồi lại nhóm họp trọng thể. Ta chán ghét các lễ hội trăng mới và những lễ hội định kỳ của các ngươi. Các lễ hội ấy trở thành gánh nặng cho Ta. Ta mệt mỏi mà mang chúng. Như chúng ta đọc từ những câu này, Chúa cảm thấy ngột ngạt khi người ta giấu những tội lỗi của họ và giả vờ rằng họ là thánh khiết.

Washing of hands is a hygienic thing. God is not against that. But, if you do not wash your heart and cleanse all your sins hiding inside, there is no point in showing others that you always practice healthy habits. So what we need is to practise healthy habits to keep our heart and our lives pure and pleasing to God. 1 John 1:8-9 If we say we have no sin, we deceive ourselves, and the truth is not in us. If we confess our sins, He who is faithful and just will forgive us our sins and cleanse us from all unrighteousness. This is very important. When I have prayer sessions with people, one thing I notice is that they always try to present themselves to me as sincere, honest, truthful and hardworking. They start talking about other people in their family and friend circle as cheaters, liars, lazy and even cruel. I tell them, ok, Jesus taught us to forgive others. Can you forgive them? They would say, no, I cannot because I suffered a lot. What we see here is hypocrisy. Often people do not want to change so they blame others. 

Rửa tay là vấn đề vệ sinh. Chúa không cấm điều đó. Nhưng nếu bạn không rửa cả tâm hồn và rửa tất cả những tội lỗi bên trong bạn, chẳng có ích gì chỉ cho người khác thấy bạn thực hành những thói quen đó. Vì vậy điều chúng ta cần là thực hành những thói quen có lợi có sức khỏe để giữ cho tấm lòng và cuộc sống chúng ta được thanh sạch và hài lòng trước Chúa. 1 John 1:8-9 Nếu chúng ta nói mình không có tội thì chúng ta tự lừa dối mình và chân lý không ở trong chúng ta. Còn nếu chúng ta xưng tội mình thì Ngài là thành tín, công chính, sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều bất chính. Điều này vô cùng quan trọng. Khi tôi có buổi cầu nguyện với mọi người, một người tôi nhận thấy rằng mọi người luôn cố gắng thể hiện bản thân mình như là chân thành, trung thực, thật thà và chăm chỉ. Họ bắt đầu nói về những khác trong gia đình và những người xung quanh như là kẻ giả dối, lười biếng và thậm chí độc ác. Tôi nói họ, được, Chúa Giê Su dạy chúng ta phải tha thứ cho người khác. Bạn có thể tha thứ cho người khác không? Họ nói, không, con không thể tha thứ được, con đã chịu đựng quá nhiều rồi. Điều chúng ta thấy ở đây đó là sự giả dối. Thường thì người ta không muốn thay đổi vì thế họ đổ lỗi cho người khác.

Do you know why many people left this class? It is because I asked unmarried women to stop fornication. And I asked married but divorced women to forgive their husband and go back to marriage. So the simple reason is they still want to follow Jesus but do not want to change their lives. If I tell them, you do whatever you want to do, but just follow Jesus, we will have hundreds of students in this class. 

Bạn có biết tại sao nhiều người rời bỏ lớp học này không? Đó là bởi vì tôi đã bảo những phụ nữ chưa chồng là đừng quan hệ trước hôn nhân. Và tôi bảo phụ nữ có chồng và đã ly dị hãy tha thứ cho chồng họ và quay lại hôn nhân. Vì vậy, lý do đơn giản là họ vẫn muốn theo Chúa nhưng không muốn thay đổi cuộc sống của họ. Nếu tôi bảo họ, hãy làm gì cũng được, chỉ cần theo Chúa, chúng ta sẽ có hàng trăm học sinh trong lớp này.

We studied in Matthew 7:21 Not everyone who says to me, Lord, Lord, will enter the kingdom of heaven, but only the one who does the will of my Father in heaven. If you are calling O Lord, O Lord in a loud voice just to show others that you have a beautiful voice and you are very pious, it is hypocrisy. God is not interested in your loud voice if it is coming out from a tongue that always swears and speaks lies. Psalm 15:1-3 O Lord, who may abide in your tent? Who may dwell on your holy hill? Those who walk blamelessly, and do what is right, and speak the truth from their heart; who do not slander with their tongue, and do no evil to their friends, nor take up their reproach against their neighbours. 

Chúng ta đọc trong Matthew 7:21 Không phải bất cứ ai nói với Ta: Lạy Chúa! Lạy Chúa. Đều được vào vương quốc thiên đàng đâu. Nhưng chỉ người nào làm theo ý muốn của Cha Ta ở trên trời mà thôi. Nếu bạn gọi Chúa, ôi Chúa ơi bằng tiếng lớn chỉ để chỉ cho người khác thấy bạn có một giọng hay và bạn là người sùng đạo, đó là sự giả tạo. Chúa không quan tâm đến tiếng kêu lớn của bạn nếu nó đến từ miệng lưỡi mà luôn thề và nói dối. Thi Thiên 15:1-3. Lạy Đức Hô Va, ai sẽ được ngụ trong đền tạm Ngài? Ai sẽ được ở trên núi thánh Ngài? Đó là người bước đi ngay thẳng, làm điều công chính, và lời nói thật từ trong lòng mình. Người có lưỡi không nói hành, chẳng làm hại bạn hữu, cũng không gieo sỉ nhục cho người lân cận mình.

Living in the tent of the Lord means living with the Lord. Imagine that you live with your family under one roof but practice hypocrisy. You smile, laugh, and talk to your family members but inside your heart there is no love. It means that your relationship with your family members looks normal outside but actually it is broken. It means you are only pretending and showing your neighbours and friends that everything is ok in your family. But the fact is the opposite. God does not want such a kind of relationship. Our relationship with God should be from our heart. It should be genuine, sincere, and honest. God only lives in a house where there is an honest relationship. If you want God to live in your house, you need to set your house in order. Isaiah 38:1 In those days Hezekiah became sick and prophet Isaiah son of Amoz came to him, and said to him, Thus says the Lord, Set your house in order, for you shall die; you shall not recover. 

Sống trong lều của Chúa nghĩa là sống cùng với Chúa. Tưởng tượng rằng bạn sống với gia đình bạn dưới một mái nhà nhưng bạn là kẻ giả tạo. Bạn cười, nói với mọi người trong gia đình nhưng bên trong trái tim bạn không có tình yêu cho họ. Có nghĩa rằng mối quan hệ của bạn với các thành viên trong gia đình bên ngoài thì trông bình thường nhưng thật ra nó đã đổ vỡ rồi. Có nghĩa rằng bạn chỉ giả vờ và chỉ cho mọi người thấy rằng mọi thứ đều ổn trong gia đình bạn. Mối quan hệ của bạn với Chúa cần phải bắt đầu từ trái tim. Đó là sự chân thành, thánh thiện và trung thưc. Chúa chỉ sống trong một ngôi nhà mà ở đó có mối quan hệ trung thực. Nếu bạn muốn Chúa sống trong nhà bạn, bạn cần phải sắp xếp nhà bạn trong trật tự. Isaiah 38:1 Trong những ngày đó, E xê chia lâm bệnh sắp chết. Nhà tiên tri Ê sai con trai A mốt đến gặp vua và nói: Đức Giê Hô Va phán thế nầy: hãy sắp đặt việc nhà của con vì con sắp chết, không sống được nữa.

This verse is a warming sign for each one of us. King Hezekiah fell sick and he was going to die soon. The message from God was, before you die, set your house in order. The message is for all of us. We will all die one day. We do not know when. But, God wants us to set our house in order. Setting our house in order means we need to correct all the disorders in our family. There could be relationship disorders. There could be disorders caused by demonic worship. There could be disorders caused by all types of hypocrisy. If we knew our date and time of death, we could plan accordingly. But, as we read in James 4:14 You do not even know what tomorrow will bring. What is your life? For you are a mist that appears for a little while and then vanishes. Isn't this true with all our lives? Does anyone know what will happen tomorrow? Are you sure that you will live for 100 years? Or say 70 or 80 years. No one can say that. We may disappear anytime from this world.

Câu này là một lời cảnh báo cho mỗi chúng ta. Vua Hezekiah bị ốm và sắp chết. Thông điệp của Chúa là trước khi người chết, hãy sắp xếp nhà cửa ngăn nắp. Thông điệp này cũng dành cho tất cả chúng ta. Một ngày kia chúng ta cũng phải chết. Chúng ta đâu biết là khi nào. Nhưng Chúa muốn chúng ta sắp xếp nhà trong sự ngăn nắp. Sắp xếp nghĩa là chúng ta cần phải sửa tất cả những sự bất ổn trong gia đình. Đó có thể là sự bất ổn trong các mối quan hệ. Có thể bất ổn gây ra bởi sự thờ phượng ma quỷ. Cũng có thể là bất ổn gây ra bởi tất cả các sự giả dối. Nếu chúng ta biết ngày và giờ mình chết, chúng ta có thể lên kế hoạch theo đó. Nhưng trong James 4:14 Nhưng anh em không biết ngày mai sẽ thế nào, sự sống của anh em là gì? Vì anh em chỉ như hơi nước, xuất hiện trong giây lát rồi tan biến ngay. Điều này chẳng phải là đúng với tất cả chúng ta sao? Ai biết được rằng điều gì sẽ xảy ra vào ngày mai? Bạn có chắc rằng bạn sẽ sống được 100 tuổi không? Hay là 70 hay 80 năm. Không ai có thể nói được. Chúng ta có thể biến mất bất kỳ lúc nào.

Think of a rose or a butterfly. The colour of the rose and its fragrance lasts for a few days only. But as long as the rose is on the plant, it shines and spreads its fragrance. Likewise butterflies. It has a very short lifespan. But it shines beautifully as long as it lives. We should make butterflies and roses as our models. In the same way as they shine and spread fragrance, we should too. In our limited lifespan on this earth, we share the beauty, love and fragrance of God to our family members, friends, neighbours and relatives. 2 Corinthians 2:14-15 But thanks be to God, who in Christ always leads us in triumphal procession, and through us spreads in every place the fragrance that comes from knowing Him. For we are the sweet aroma of Christ among those who are being saved and among those who are perishing. 

Hãy nghĩa đến bông hồng hay một con bướm. Màu sắc của hoa hồng và hương của nó chỉ kéo dài có vài ngày. Nhưng khi bông hồng còn ở trên cây, nó sẽ tỏa sáng và tỏa hương thơm. Con bướm cũng vậy. Nó có tuổi đời rất ngắn. Nhưng nó tỏa sáng đẹp đẽ khi nó còn sống. Chúng ta  hãy lấy hoa hồng và bướm làm hình mẫu của mình. Tương tự như chúng tỏa sáng và tỏa hương thơm, chúng ta cũng cần phải như thế. Trong cuộc sống ngắn ngủi của chúng ta trên trái đất, chúng ta chia sẻ vẻ đẹp, tình yêu và hương thơm của Chúa cho người thân, bạn bè, gia đình và họ hàng. 2 Corinthians 2:14-15 Nhưng tạ ơn Đức Chúa Trời là Đấng luôn dẫn đầu chúng tôi trong cuộc diễu hành chiến thắng trong Đấng Christ và qua chúng tôi, Ngài làm cho hương thơm về sự hiểu biết Ngài lan tỏa khắp nơi. Vì chúng tôi là hương thơm của Đấng Christ dâng lên Đức Chúa Trời, giữa những người được cứu rỗi và những kẻ bị hư mất.

Do you want to spread the fragrance of Christ? If yes, you need to stop being like the scribes and the Pharisees who were hypocrites. The beauty is always inside. The fragrance comes from inside. If you focus on outwards beauty and fragrance whilst your inner side is rotten, you will never be able to spread fragrance. 

Bạn có muốn tỏa hương thơm của Đấng Christ không? Nếu có, bạn cần phải ngừng trở nên như thầy thông giáo và người Pha ri si họ là những kẻ giả dối. Vẻ đẹp luôn luôn phải từ bên trong. Hương thơm đến từ bên trong. Nếu bạn tập trung vào bên ngoài trong khi bên trong mọt rỗng, bạn sẽ không bao giờ tỏa hương được.

Therefore, let us cleanse all the sins hiding inside us with the holy blood of Jesus Christ. Let us confess our sins. Let us repent from our sins. Let God always live inside us. In that way we'll be pure both inside and outside.  

Do đó, chúng ta hãy thanh tẩy tất cả những tội lỗi ẩn giấu bên trong chúng ta với máu thánh của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy thú nhận tội lỗi của chúng ta. Chúng ta hãy sám hối tội lỗi mình. Hãy để Chúa luôn sống bên trong chúng ta. Bằng cách đó, chúng ta sẽ trong sạch cả bên ngoài lẫn bên trong.

God bless you Amen.

 

Matthew 14:13-21 - Chúa cho đoàn dân ăn

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ, 

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We started with Matthew 14 in the last class. 

Buổi trước chúng ta đã bắt đầu với Matthew chương 14.

We continue with the chapter looking at verses 13-21. Let us read Matthew 14:13-21.

Chúng ta tiếp tục với chương này các câu từ 13 đến 21. Chúng ta hãy đọc Matthew 14:13-21.

The section talks about one of the most popular miracles that Jesus performed. This miracle is reported in all the four gospels, Matthew, Mark, Luke and John. 

Phần này nói về một trong những phép lạ kỳ diệu nhất của Chúa. Phép lạ này được đưa ra trong cả bốn cuốn Tin Lành, Matthew, Mark, Luke và John.

As we read here, there was a crowd of around five thousand men, apart from women and children. Jesus taught them about the Kingdom of God and also healed the people who came to him. This continued for the whole day. As it was getting darker in the evening, the disciples came and requested Jesus to send the people so that they may go to the neighbouring places and buy food. But Jesus said, no need to send them away, we should arrange food for all the people here. After this the miracle happened as we just read. 

Như chúng ta đọc ở đây, có một đoàn dân đông khoảng 5000 người, ngoại trừ phụ nữ và trẻ em. Chúa Giê Su đã dạy họ về vương quốc Thiên Đàng và cũng chữa lành cho những người đến với Ngài. Điều này tiếp tục trong cả một ngày. Khi trời trở về chiều, các môn đồ tới và yêu cầu Chúa cho mọi người về để mọi người đi tới các nơi lân cận và mua đồ ăn. Nhưng Chúa nói, không cần phải bảo họ đi đâu cả, chúng ta sẽ chuẩn bị đồ ăn cho tất cả mọi người ở đây. Sau đó, phép lạ đã xảy ra như chúng ta vừa mới đọc.

Here we see that the disciples of Jesus were worried about feeding the people. We studied earlier in Matthew 6:25-26 where Jesus said Therefore I tell you, do not worry about your life, what you will eat or what you will drink, or about your body, what you will wear. Is not life more than food, and the body more than clothing? Look at the birds of the air; they neither sow nor reap nor gather into barns; and yet your heavenly Father feeds them. Are you not more valuable than they? 

Ở đây chúng ta thấy rằng các môn đồ của Chúa Giê Se đã lo lắng về việc cho mọi người ăn. Chúng ta đọc trước đó trong Matthew 6:25-26 Chúa bảo rằng là: Vì vậy, Ta phán với các con: Đừng vì mạng sống mà lo phải ăn gì, uống gì; đừng vì thân thể mà lo phải mặc gì. Mạng sống không quý trọng hơn thức ăn sao, thân thể không quý trọng hơn quần áo sao? Hãy xem loài chim trời: không gieo, không gặt, không tích trữ vào kho nhưng Cha các con trên trời vẫn nuôi chúng. Các con lại chẳng quý trọng hơn loài chim sao?

We have discussed anxiety and worry in one of our previous classes. A person is worried when s/he does not know what is going to happen in the next moment or in future. Worry affects the body and mind equally. For example when a person is worried s/he may start shivering or sweating. The person’s mind will also get distracted due to worry. As we studied in the last class, when our body and mind are affected, the devil has the perfect opportunity to attack us. Hence, Jesus said, “do not worry”. 

Chúng ta đã học về sự lo lắng trong các bài học trước đây. Một người lo lắng vì họ không biết điều gì sẽ xảy ra cho họ tiếp theo đó hoặc trong tương lai. Sự lo lắng ảnh hưởng tới tâm trí và thể xác như nhau. Ví dụ như khi một người lo lắng, người đó bắt đầu run rẩy, mồ hôi vã ra. Tâm trí của một người cũng bị xao lãng khi người đó lo lắng. Như chúng ta đã học trong buổi trước, khi đầu óc và tâm trí bị ảnh hưởng, quỷ có cơ hội tuyệt vời để tấn công chúng ta. Vậy nên Chúa Giê Su dạy chúng ta rằng “đừng lo lắng’.

People think that worrying is a natural phenomenon. For God’s children, worry is an attempt by the devil to drag them away from God. Worry does occur to God’s children. But, they know how to fight off worry. We fight worry with the promise of God as we read in Deuteronomy 31:6 Be strong and bold; have no fear or dread of them, because it is the Lord your God who goes with you; He will not fail you or forsake you. Now God has said so. But, what if God does not keep His promise? Never. Because in Psalm 145:13b it is said The Lord is faithful in all His words, and gracious in all His deeds. We make a lot of promises but we either forget or fail to uphold them. But God is not like us. If He has promised something, even if we forget, He will not. 

Mọi người nghĩ rằng sự lo lắng là việc bình thường. Với con cái Chúa, lo lắng là nỗ lực của quỷ để kéo chúng ta ra xa khỏi Chúa. Sự lo lắng có xẩy đến với con cái Chúa. Nhưng họ biết cách làm thế nào để chiến thắng nó. Chúng ta đấu tranh chống lại sự lo lắng với lời hứa của Chúa như chúng ta đọc trong Phục truyền luật lệ ký 31:6 Hãy mạnh dạn, hãy can đảm! Đừng sợ, đừng kinh khiếp trước mặt các dân tộc đó, vì Giê Hô Va Đức Chúa Trời của anh em đi với anh em. Ngài chẳng lìa khỏi anh em, chẳng từ bỏ anh em đâu! Vậy thì Chúa đã nói thế. Nhưng nếu Chúa không giữ lời thì sao? Không hề có chuyện đó. Bởi vì trong Thi Thiên 145:13b  có nói rằng: Chúa là thành tín trong mọi lời của Ngài và nhân từ trong mọi hành động của Ngài. Chúng ta hứa rất nhiều nhưng hoặc là chúng ta quên hoặc chúng ta thất bại trong việc giữ lời hứa. Nhưng Chúa thì không giống chúng ta. Nếu Ngài hứa điều gì thì ngay cả nếu chúng ta quên, Ngài sẽ không quên đâu.

Jesus said, do not worry about food. This is also a promise of God as we read in Proverbs 10:3 The Lord does not let the righteous go hungry, but He thwarts the craving of the wicked. As this verse says, the righteous need not worry because God always cares for them. We have many examples in the Bible how God took care of His children when they were hungry. For example, when God’s people were in the desert and were hungry, we read in Exodus 16:4 The Lord said to Moses, I am going to rain bread from heaven for you, and each day the people shall go out and gather enough for the day. 

Chúa Giê Su nói, đừng lo lắng về đồ ăn. Đây là một lời hứa của Chúa như chúng ta đọc trong Châm ngôn 10:3 Đức Giê Hô Va không để linh hồn người công chính phải đói khát, Nhưng Ngài loại bỏ tham vọng của kẻ gian tà. Như câu này nói, người công chính sẽ không cần phải lo lắng bởi vì Chúa chăm lo cho họ. Chúng ta có nhiều ví dụ trong Kinh Thánh về việc Chúa chăm sóc cho con cái mình khi họ đói. Ví dụ như khi con cái Chúa ở trong sa mạc và bị đói chúng ta đọc trong Exodus 16:4 rằng: Đức Giê Hô Va phán với Môi se: Nầy, để thử xem họ có đi theo luật lệ của Ta không. Ta sẽ ban mưa bánh từ trời cho các con và mỗi ngày dân chúng sẽ đi ra lượm phần bánh trong ngày.

Another example is given in 1 Kings 17:8-16. We have read this section in one of our previous classes, but let us read it again. We see here how God planned to feed his prophet, and the poor widow and her son, during the famine. 

Một ví dụ khác ở trong 1 Kings 17:8-16. Chúng ta đọc được trong phần này trong một buổi học trước, nhưng chúng ta hãy đọc lại một lần nữa. Ở đây chúng ta thấy Chúa đã lên kế hoạch để cho nhà tiên tri được ăn và người góa phụ nghèo và con trai mình trong suốt nạn đói đó.

What these examples tell us is that God’s children need not have to worry about food. Psalm 37:25 I have been young, and now am old, yet I have not seen the righteous forsaken, or their children begging for food. The reason why the righteous or their family will never starve is because they trust the Lord and His promises. In tonight’s passage God’s care for His children is clearly evident. People were sitting at Jesus’ feet and listening to the Word of God for the whole day. They forgot about hunger and thirst. They also did not care that it was late and getting dark. Now let us take our own example.

Những câu ví dụ này nói với chúng ta rằng con cái Chúa không cần phải lo lắng về thực phẩm. Thi Thiên 37:25 Trước kia tôi còn trẻ, nay tôi đã già. Tôi chẳng hề thấy người công chính nào bị bỏ, hay dòng dõi người ấy đi ăn mày.. Lý do tại sao người công chính hoặc gia đình họ sẽ không bao giờ chết đói là bởi vì họ tin cậy ở Chúa và những lời hứa của Ngài. Trong đoạn văn tối nay, sự chăm lo của Chúa cho con cái Ngài được thể hiện rõ ràng. Mọi người ngồi dưới chân của Chúa và lắng nghe Lời Chúa cả một ngày dài. Họ đã quên cả đói và khát. Họ cũng không quan tâm rằng trời đã muộn và tối. Bây giờ chúng ta hãy dẫn chứng chính mình.

How much time can we spend with Jesus without getting bored and distracted? It means how much time can you spend reading and meditating on the Word of God, and in prayers? How much time can you attend this class without being distracted with phone calls, messages and other things? We read in this passage that people forgot everything else when they were with Jesus. That was because they knew how worthy it was to spend time with the Lord as we read in Psalm 84:10 For a day in your court is better than a thousand elsewhere. Unfortunately, for us, it is the other way round- an hour chatting with friends is better than reading the Bible for several hours. 

Chúng ta có thể dành bao nhiêu thời gian cho Chúa Giê Su mà không bị chán hay bị xao lãng? Có nghĩa rằng có bao nhiêu thời gian bạn có thể dành vào việc đọc và suy ngẫm về Lời của Chúa và cầu nguyện? Có bao nhiêu thời gian bạn có thể tham gia lớp học mà không bị xao lãng bởi điện thoại, tin nhắn hay nhiều thứ khác? Chúng ta đọc trong đoạn này rằng người ta quên mọi thứ khác khi họ ở cùng với Chúa. Đó là bởi vì họ biết dành thời gian với Chúa đáng giá như thế nào như chúng ta đọc trong Thi Thiên 84:10 Vì một ngày trong hành lang Chúa đáng hơn một nghìn ngày ở nơi khác. Không may, với chúng ta, đó lại là con đường ngược lại, một tiếng nói chuyện với bạn bè tốt hơn là đọc Kinh Thánh vài giờ.

We see in the passage that people forgot everything else when they were with Jesus. But, God did not forget them. God knew that they needed to eat. God also knew that it is getting dark and people will find it difficult to get food. As I said before, God never forgets His promise. He has promised that “I will never leave you nor forsake you.” And we see here, God upheld His promise by not leaving the people hungry and thirsty.

Chúng ta nhìn thấy trong đoạn văn này rằng người ta quên đi tất cả mọi thứ khác khi họ ở cùng với Chúa. Nhưng Chúa đã không quên họ. Chúa biết họ cần phải ăn. Chúa cũng biết rằng trời đã tối và họ sẽ gặp khó khăn để kiếm ăn. Như tôi đã nói, Chúa không bao giờ quên lời hứa của Ngài. Ngài đã hứa rằng “ta sẽ chẳng bao giờ rời con hay từ bỏ con đâu”. Và chúng ta thấy ở đây, Chúa đã giữ lời hứa của Ngài bằng cách không để cho mọi người bị đói hay khát.

The opposite of worry is trust and peace. Trust is believing in God and having full faith in God. Peace means there is no worry at all. Jesus said in John 14:1 Let not your heart be troubled. You believe in God, believe also in Me. Likewise, in Mark 5:36 Jesus said, Do not be afraid, only believe. Both these verses mean do not worry. In our passage for tonight, Jesus asked to bring to Him what they had. In John 6:9 we read Andrew replying to Jesus There is a boy here who has five barley loaves and two fish. But what are they among so many people? 

Đối lập với sự lo lắng là sự tin tưởng và bình an. Sự tin tưởng là tin vào Chúa và có đức tin hoàn toàn ở nơi Chúa. Bình an có nghĩa rằng không cần phải lo lắng bất kỳ điều gì cả. Chúa Giê Su đã nói trong John 14:1 Lòng các con đừng bối rối. Hãy tin Đức Chúa Trời, cũng hãy tin Ta nữa. Tương tự trong Mark 5:36 Đừng sợ, chỉ tin mà thôi Chúa nói. Cả hai câu này đều có nghĩa rằng đừng lo lắng. Trong đoạn văn tối nay, Chúa Giê Su đã yêu cầu mang cho Ngài những gì họ có. Trong John 6:9, chúng ta đọc Andrew đáp lại Chúa nói rằng, có một cậu bé có năm chiếc bánh lúa mạch và hai con cá nhưng đông người như thế nầy thì ngần ấy có thấm vào đâu?

If we analyse Saint Andrew’s reply, we can see a clear difference between an adult and a child in terms of the trust in God. For instance, as adults, we depend less on faith and more on rationale. Saint Andrew started his own calculations with the five loaves of bread and two fish. And he compared that to five thousand men and their families. And he concluded that there is no way that we can feed five thousand men and their families with five loaves of bread and two fish. And it may sound common sense to us too. 

Nếu chúng ta phân tích lời đáp của Thánh Andrew, chúng ta có thể thấy sự khác biệt rõ ràng giữa một người trưởng thành và một cậu bé trong sự tin cậy vào Chúa. Ví dụ, như là người trưởng thành, chúng ta thường ít đặt niềm tin cậy vào đức tin mà sẽ dựa nhiều hơn vào lý trí. Thánh Andrew bắt đầu tính toán với năm ổ bánh mì và hai con cá. Và đem so sánh với năm ngàn người và gia đình của họ. Và kết luận rằng không có cách gì có thể cho năm ngàn người và gia đình họ ăn với năm ổ bánh và hai con cá được. Và với chúng ta thì điều đó cũng là điều khá dễ liên tưởng.

We too have the same attitude and approach when we talk about giving to God or giving others. We would say, oh I get only very little money. After all my expenses I won’t have any money left to give. That is rationalism. 

Chúng ta cũng có cùng thái độ và sự tiếp cận đó khi chúng ta nói về việc mang cho Chúa và cho người khác. Chúng ta có thể nghĩ rằng, ôi tôi chỉ có rất ít tiền. Sau tất cả các chi phí của mình, tôi sẽ chẳng còn tí tiền nào để cho cả. Đó là chủ nghĩa lý trí.

On the other side, we have a boy here. He has no reluctance in giving away all that he had. He did not make any calculations. He did not argue. He did not refuse. That is faith. As we saw in the case of the widow of Zarephath, she just gave all what he had to prophet Elijah. She did that when there was a famine and people were dying. Likewise in Mark 12:41-44 we read about another widow’s offering. Let us read that section. Jesus taught an important lesson here. The lesson is, it is not how much you give to god, but it is the willingness of your heart that is more important. 

Mặt khác chúng ta có một cậu bé ở đây. Cậu bé này không có chút do dự nào mà đem cho tất cả những gì mình có. Cậu bé không hề tính toán. Cậu bé trong tranh cãi. Cậu bé không từ chối. Đó chính là đức tin. Cũng giống như người góa phụ của Zarephaph đem cho tất cả những gì mình có cho nhà tiên tri Elijah. Bà làm thế khi có nạn đói và tất cả đều chết. Tương tự trong Mark 12:41-44 chúng ta đọc được về một sự dâng hiến của một góa phụ khác. Chúng ta hãy đọc đoạn này. Chúa Giê Su đã dạy chúng ta một bài học quan trọng ở đây. Bài học là, không phải là bạn đem cho Chúa bao nhiêu và sự sẵn lòng ấy mới là điều quan trọng.

The heart of giving is a blessing of God. I can give you the example of a little boy who received plenty of gifts on his birthday. What he did was amazing. He arranged all the gifts he received in order. Then from each of the gifts, he took one part and placed them in front of the picture of Jesus and said, Jesus these are for you, because it is your blessings that brought so many gifts to me. The most amazing thing happened after that. He placed another gift in front of Jesus’ picture and said, this is the best gift I received. But, you take it because I love you more than all these gifts. We should all have such innocent hearts. We should learn to give rather than thinking of receiving from others. 

Sự sẵn lòng là một phước lành của Chúa. Tôi có thể kể cho các bạn ví dụ về một cậu bé nhận được rất nhiều quà trong ngày sinh nhật của mình. Điều cậu bé làm rất kinh ngạc. Cậu bé xếp tất cả những món quà mình nhận được theo thứ tự. Sau đó từ mỗi món quà, cậu lấy ra một phần và đặt trước ảnh Chúa và nói, Jesus, đây là để cho Ngài, bởi vì chính là phước lành của Ngài mà con nhận được nhiều quà như thế. Điều đáng kinh ngạc sau đó nữa là. Cậu bé đặt một món quà khác trước Chúa và nói, đây là món quà tuyệt vời nhất con nhận được. Nhưng Ngài hãy nhận nó bởi vì con yêu Ngài hơn cả những món quà này. Chúng ta hãy đều có một trái tim trong sáng như thế. Chúng ta hãy học cách cho đi thay vì chỉ nghĩ đến việc nhận được gì từ người khác.

When Saint Andrew approached with the request, the boy readily gave all what he had. We read in vs. 19 that Jesus looked up to heaven, and blessed and broke the loaves, and gave them to the disciples, and the disciples gave them to the crowd. What happened next was a real miracle. Apart from women and children, five thousand men were fed. And the leftovers were collected in twelve baskets full. 

Khi Thánh Andrew đến gần với lời đề nghị, cậu bé đã sẵn sàng đem cho tất cả những gì mình có. Chúng ta đọc trong câu 19 Ngài ngước mắt lên trời tạ ơn rồi bẻ bánh ra trao cho môn đồ, họ phân phát cho dân chúng rằng, Điều xảy ra sau đó là một phép lạ thực sự. Ngoại trừ phụ nữ và trẻ em, năm ngàn người đã được cho ăn. Và những mẩu vụn thừa thu đầy mười hai giỏ.

I was thinking, what would have Jesus prayed when he lifted the bread up to heaven. We do not know. But, I would assume that Jesus must have first thanked God the Father for the little boy. In John 6:11 we read Jesus took the loaves, and when He had given thanks, He distributed them to those who were seated. Hence I assume that Jesus thanked God the Father for that blessed boy. 

Chúa đã cầu nguyện gì khi Ngài nâng bánh mì lên nhìn trời. Chúng ta không biết. Nhưng Chúa hẳn đã cảm tạ đức Chúa Cha vì cậu bé này. Trong John 6:11 chúng ta đọc rằng, Đức Chúa Giê Su cầm bánh, dâng lời tạ ơn rồi phân phát cho những người đã ngồi, cá cũng được phân phát như vậy. Do đó, tôi tin rằng Chúa đã cảm ơn Chúa Cha vì cậu bé được ban phước này.

Look at it from another angle. Thousands of people eating their fill, and enjoying the food. But the little boy was the star. History does not remember all those people who ate and went their way. But even today, we remember that little boy. It is just because of his kind heart and faith in Jesus. He was not worried about what would happen to me if I gave away my bread and fish. Rather, he trusted the Lord. It was from his trust all others received the blessing. 

Hãy nhìn nó từ một góc nhìn khác. Hàng ngàn người ăn phần của họ và thích thú phần thức ăn của họ. Nhưng cậu bé nhỏ thực sự là một ngôi sao. Lịch sử không nhớ tới tất cả những người ăn rồi ra về. Nhưng tận ngày nay, chúng ta nhớ đến cậu bé đó. Đó chỉ bởi vì trái tin nhân hậu và đức tin nơi Chúa Giê Su. Câu không hề lo lắng điều gì sẽ xảy ra nếu tôi đem cho hết đồ ăn và cá của mình. Thay vào đó, cậu tin cậy Chúa. Chính là sự tin cậy của cậu mà những người khác nhận được phước lành.

What it means is, one person can bring blessings to the whole family. As I said earlier, it is only you in your family that follow the Lord. but, because of your faith, your family will also be blessed. 

Điều này có nghĩa rằng một người có thể mang tới những phước lành cho cả gia đình. Như tôi đã nói, chỉ có bạn trong gia đình là người theo Chúa. Nhưng bởi đức tin của bạn, gia đình của bạn sẽ được ban phước.

Therefore, tonight, let us ask Jesus to give us the faith and heart of that little boy. Ask Jesus to take away our rational thinking and give us a faithful heart. As we pray in Psalm 51:10 Create in me a clean heart, O God, and put a new and right spirit within me. 

Do đó, tối nay, chúng ta hãy cầu xin Chúa Giê Su ban cho chúng ta đức tin và tấm lòng của cậu bé này. Hãy cầu xin Chúa mang đi những suy nghĩ lý trí của chúng ta và cho chúng ta đức tin trong lòng. Như chúng ta cầu trong Thi Thiên 51:10, xin hãy dựng nên trong con một lòng trong sạch và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng.

When we have a clean heart and pure spirit, we will have full faith in God. That is when, we will not think twice to pay our tithe or help others. 

Khi chúng ta có một trái tim trong sáng và thánh khiết, chúng ta sẽ có đầy đủ đức tin ở trong Chúa. Đó là khi, chúng ta không cần phải nghĩ lại về việc mình có nên đóng tiền tithe hay giúp đỡ người khác hay không.

God bless you. Amen.