Sunday, February 26, 2023

Ma-thi-ơ Chương 20:17-19 Chúa báo trước về sự chết và sống lại của Ngài

 Vinh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất. Amen.

Anh chị em trong Đức Chúa Trời thân mến,

 

Trong lớp học lần trước, chúng ta đã học về Ma-thi-ơ Chương 20:1-16.

 

Tối nay, chúng ta sẽ cùng đọc Ma-thi-ơ Chương 20:17-19.

Chúng ta đọc thấy trong đoạn này Chúa Giê-su đã báo trước về cái chết của Ngài và sự phục sinh. Đây là lần thứ ba Chúa Giê-su nói về chủ đề này. Đoạn văn này cho chúng ta biết rằng Chúa Giê-su và các môn đồ của Ngài đang đi tới Giê-ru-sa-lem. Có rất nhiều người đi theo Chúa Giê-su tới Giê-ru-sa-lem. Trên thực tế, con đường đến Giê-ru-sa-lem rất đông đúc với một số lượng lớn người tới đó. Khi bắt đầu cuộc hành trình, Chúa Giê-su gọi các môn đồ tập trung riêng ở một chỗ và phán rằng: Chúng ta sẽ đến Giê-ru-sa-lem. Tại nơi đây, ta sẽ bị giao nộp cho các thượng tế và kinh sư. Ta sẽ bị đánh đòn, và bị đóng đinh cho đến chết. Nhưng, vào ngày thứ ba, ta sẽ hồi sinh.

 

Ngôi đền ở Giê-ru-sa-lem là nơi thờ phụng quan trọng nhất của người Do Thái. Họ gắn bó về mặt tinh thần và tình cảm với mảnh đất này. Nó được coi như nhà của Chúa. Và điều đó là sự thật bởi vì vào ngày cung hiến đền thờ, Chúa đã viếng thăm nơi đây. Chúng ta hãy đọc một vài câu về sự kiện này từ 1 Các Vua 8:10-11 Khi các thầy tế lễ vừa ra khỏi Nơi Thánh thì có đám mây tràn đầy đền thờ của Đức Giê Hô Va đến nỗi do đám mây ấy mà các thầy tế lễ không thể tiếp tục hành lễ được, vì vinh quang của Đức Giê Hô Va tràn ngập đền thờ của Ngài. Đây là một trong những lý do tại sao trong nhà thờ Chính thống giáo, nơi linh thiêng nhất có bàn thờ được đặt tại, có một bức màn và luôn được che phủ. Bức màn chỉ được kéo ra cho những người cầu nguyện và trong Thánh lễ Qurbana. Những ai đã từng đến nhà thờ Malaysia hẳn đã nhận thấy điều này.

 

Trong nghi lễ tại đền thờ Giê-ru-sa-lem, vua Sô-lô-môn đã có một bài cầu nguyện dài mà chúng ta có thể đọc trong 1 Các Vua 8:22-53. Bạn có thể đọc lời cầu nguyện này sau. Giờ chúng ta hãy cùng đọc lời cầu nguyện đầu tiên từ câu 31-32 Xin Chúa lắng nghe lời khẩn cầu mà đầy tớ Chúa và dân Isariel của Ngài hướng về nơi nầy cầu nguyện. Từ nơi ngự của Chúa trên các tầng trời, xin Chúa đoái nghe và tha thứ cho. Nếu có ai phạm tội với người lân cận mình và bị buộc phải thề, nên người ấy đến thề trước bàn thờ của Chúa trong đền thờ nầy, thì xin Chúa trên trời lắng nghe, hành động và phân xử cho các đầy tớ Ngài, kết án kẻ có tội, khiến nó phải chịu lấy hậu quả của tội lỗi mình, và xưng công chính cho người công chính bằng cách ban thưởng theo sự công chính cho người ấy. Tương tự như thế, vua Sô-lô-môn đã cầu nguyện cho những người phạm tội với Chúa, khi trời không có mưa, khi xảy ra nạn đói, khi khách ngoại quốc đến đền thờ cầu nguyện, khi những người con của Chúa ra trận mạc, và khi người ta ăn năn.

 

Nói tóm lại, mọi người luôn hào hứng khi có cơ hội đến thăm đền thờ vì họ biết rằng tội lỗi của họ sẽ được tha thứ ở đó và họ có thể nhận được nhiều phước lành. Người Do Thái coi việc viếng thăm đền thờ ít nhất mỗi năm một lần là điều quan trọng. Hơn nữa, Giê-ru-sa-lem luôn ở trong tâm trí và suy nghĩ của người Do Thái mỗi ngày. Bất cứ khi nào họ gặp khó khăn hay gặp phải những vấn đề trong cuộc sống, họ đều nhìn về hướng ngôi đền. Ngay cả khi cầu nguyện, họ cũng hướng mặt về phía ngôi đền và cầu nguyện. Chúng ta đọc điều này trong Đa-ni-ên 6:10 Khi Daniel được tin rằng chỉ dụ đó đã được ký thì về nhà, lên một phòng cao, nơi có các cửa sổ hướng về phía Giê Ru Sa Lem. Tại đó mỗi ngày ba lần ông quỳ gối cầu nguyện và ca ngợi Đức Chúa Trời như vẫn làm từ trước đến nay.

 

Đây là Giê-ru-sa-lem hữu hình mà người Do Thái cầu nguyện. Đối với chúng ta, chúng ta sẽ cầu nguyện hướng về phía Giê-ru-sa-lem ở trên trời, nơi được cho là sẽ đến từ phương đông như chúng ta đọc trong Ma-thi-ơ 24:27 Vì như tia chớp phát ra từ phương Đông và lóe sáng ở phương Tây, thì sự quang lâm của Đức Chúa Trời cũng sẽ như vậy. Đây là lý do tại sao tất cả các nhà thờ Chính thống đều được xây dựng hướng về phía Đông. Và người dân và những vị linh mục ở nhà thờ quay mặt về hướng Đông và cầu nguyện. Tất cả những lời cầu nguyện của chúng ta là để tìm kiếm lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa để chúng ta được chấp nhận ở vùng đất Giê-ru-sa-lem mới này. Việc đề cập đến Giê-ru-sa-lem mới được đưa ra trong Khải Huyền 21:10 Và trong Thánh Linh, Ngài đem tôi lên một ngọn núi cao vĩ đại và chỉ cho tôi thấy đất thánh Giê-ru-sa-lem từ trên trời và từ Đức Chúa Trời xuống.

 

Và chính vì lẽ đó, mỗi lần chúng ta đến nhà thờ, ta đều mang theo mình một sự phấn khích về mặt tâm linh vô cùng lớn. Và chúng ta cảm thấy muốn đến đó nhiều hơn nữa. Vì vậy, Vua Đa-vít đã hát trong Thi thiên 122:1-2 Tôi vui mừng khi người ta nói với tôi rằng: Chúng ta hãy đi đến nhà Đức Giê Hô Va, Hỡi Giê Ru Sa Lem chân chúng ta đang đứng trong các cổng của ngươi. Thật vậy, Vua Đa-vít ước ao được sống vĩnh viễn trong ngôi nhà của Chúa như chúng ta đọc trong Thi Thiên 27:4 Tôi đã xin Đức Giê Hô Va một điều và sẽ tìm kiếm điều ấy. Đó là tôi muốn trọn đời tôi được ở trong nhà Đức Giê Hô Va để nhìn xem sự tốt đẹp của Đức Giê Hô Va và cầu hỏi trong đền thờ của Ngài. Từ tất cả những điều này, chúng ta có thể hiểu được đền thờ Giê-ru-sa-lem quan trọng như thế nào đối với người Do Thái. Thậm chí tới ngày nay nó vẫn vậy.

 

Thật không may, mọi người giờ đã quên ý nghĩa tâm linh của ngôi đền này. Ở thời của Chúa Giê-su, nó trở nên giống với một hình thức du lịch và kinh doanh hơn. Nhiều đền thờ lớn ngày nay giống như một nơi dành cho du lịch vậy. Ví dụ, nhà thờ Hoàn Kiếm ở Hà Nội và nhà thờ ở quảng trường thành phố Hồ Chí Minh là những địa điểm du lịch nổi tiếng. Người ta không đến đó để cầu nguyện hay gặp gỡ Chúa. Họ đến đó để chụp ảnh tự sướng và đăng lên Facebook. Cũng giống như du lịch, ngôi đền trở thành nơi mua sắm. Bán và mua là điều đầu tiên xuất hiện trong tâm trí của người dân khi họ nghĩ về Giê-ru-sa-lem. Đây là lý do tại sao Chúa Giê-su phải tẩy sạch đền thờ, điều mà chúng ta sẽ được đọc trong chương tiếp theo.

 

Quay trở lại chủ đề của chúng ta, chắc hẳn các môn đệ cũng rất hào hứng được đi cùng Chúa Giê-su tới Giê-ru-sa-lem. Nhưng Chúa Giêsu đã dập tắt sự phấn khích và nhiệt tình của họ bằng một câu nói đáng sợ. Ngài nói, ta sẽ chết ở Giê-ru-sa-lem. Hãy tưởng tượng điều đó sẽ gây sốc như thế nào đối với các môn đồ, người giống như bạn bè của Chúa Giê-su. Vậy tại sao Chúa Giê-su lại nói ra điều này với các môn đệ của mình? Thực ra Chúa Giê-su muốn các môn đệ hiểu rõ ý nghĩa của đền thờ và mục đích của việc tới đền thờ. Tôi đã nói từ đầu rằng đường đến Jerusalem rất chông gai. Chúa Giê-su nói điều này với các môn đồ vì Ngài muốn họ biết rằng họ sẽ không giống như những du khách đến đền thờ. Họ khác biệt. Họ đang đi tới đền thờ để tội lỗi của họ được tha thứ. Một khi tội lỗi được tha thứ, họ sẽ sống lại là một tạo vật mới giống như Ngài sẽ sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba.

 

Đêm nay, Chúa Giêsu đang nói với chúng ta, bạn không giống như những người khác. Bạn khác biệt. Khi chúng ta khác biệt, chúng ta sẽ được chở che bởi Chúa. Các môn đệ là một nhóm nhỏ và họ khác nhau. Và chúng ta thấy rằng một trong những lời cầu nguyện cuối cùng của Chúa Giê-su với Cha là dành cho họ khi chúng ta đọc trong Giăng 17: 9 Con vì họ mà cầu xin không phải vì thế gian mà con cầu xin đâu, nhưng vì những người mà Cha đã ban cho con, vì họ thuộc về Cha. Ở đây, chúng ta thấy rằng Chúa Giê-su không bao gồm tất cả mọi người trên thế giới trong lời cầu nguyện của Ngài. Ngài đặc biệt cầu nguyện cho các môn đệ của mình. Đó là vì người môn đệ đã tin vào Chúa Giê-su là Thiên Chúa và đi theo Ngài. Ngài không chỉ cầu nguyện cho từng môn đồ. Chúa Giê-su nói, ta cầu nguyện cho tất cả những người sẽ tin vào những lời môn đồ của ta truyền giáo. Chúng ta đọc Giăng 17:20 Cha ơi! Con không chỉ cầu xin cho những người này mà thôi, nhưng cũng cho những người nhờ lời họ mà tin Con nữa để tất cả đều trở nên một, như Cha ở trong Con và Con trong Cha để họ cũng ở trong Chúng Ta, nhờ đó thế gian tin rằng Cha đã sai Con đến. Chúng ta có thể thấy Chúa Giê-su quan tâm đến những người đi theo Ngài biết bao nhiêu. Khi bạn thức dậy lúc nửa đêm và không thể ngủ được, hãy cầm lấy cuốn Kinh thánh và đọc thầm Giăng 17. Bạn sẽ có thể cảm thấy rằng Chúa Giê-su cũng đang cầu nguyện cho bạn. Và điều đó sẽ khiến bạn rơi nước mắt.

 

Vì vậy, chúng ta không giống như những người khác sống trong tội lỗi. Chúng ta khác biệt. Chúng ta được đưa ra khỏi bóng tối để đến với ánh sáng của Chúa như Thánh Phê-rô đã nói trong 1 Phê-rô 2: 9 Nhưng anh em là dòng giống được tuyển chọn, là chức tế lễ hoàng gia, là dân tộc Thánh, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền công sức vĩ đại của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đưa vào vùng ánh sáng kỳ diệu của Ngài. Hãy xem chúng ta khác biệt và đặc biệt như thế nào! Chúng ta không đến nhà thờ như những du khách, chúng ta đến đó với trái tim vỡ vụn và trở về trong hạnh phúc. Chúng ta rơi nước mắt khi nhìn vào nơi linh thiêng nhất. Và nước mắt của chúng ta được lau đi bởi Chúa, Người sẽ ban phước cho chúng ta từ nơi chí thánh. Chúng ta không đến nhà thờ để kinh doanh. Chúng ta đến nhà thờ để quỳ phục Chúa và nhận được một trái tim và một cuộc sống mới. Tất cả những điều này là những đặc quyền dành riêng cho những người khác biệt.

 

Đền thờ là nơi tiến hành tất cả các sinh tế để chuộc tội như chúng ta đọc trong Lê-vi ký 16:3-5 Aron sẽ vào nơi Chí Thánh như thế nầy: Người phải đem một con bò đực tơ để làm tế lễ chuộc tội, và một con chiên đực để làm tế lễ thiêu. Aron sẽ mặc dài thánh bằng vải gai, quần ngắn bằng vải gai, thắt lưng bằng vải gai và đội một cái mũ cũng bằng vải gai. Đó là bộ lễ phục thánh mà Aron sẽ mặc sau khi đã tắm trong nước. Aron cũng sẽ nhận từ hội chúng Isariel hai con dê đực làm tế lễ chuộc tội và một con chiên đức dùng làm tế lễ thiêu.

 

Trong Cựu Ước, chức vụ tư tế bắt đầu với Aaron và kết thúc với Giăng Báp-tít. Khi Chúa Giê-su tới, Ngài cất chức tế lễ từ Giăng Báp-tít và chấm dứt chức vụ này. Thay vào đó, chính Chúa Giê-su đã trở thành thầy tế lễ. Chức vị linh mục của Ngài không tới từ một con người. Chức tư tế của Chúa Giê-su đến từ thiên đàng và là vĩnh cửu. Chúng ta đọc được điều này trong Hê-bơ-rơ 7:17 Vì Ngài đã được minh chứng rằng: Ngài là thầy tế lễ đời đời theo ban Mên-chi-xê-đéc.

 

Vì vậy, chúng ta có một linh mục mới và là linh mục vĩnh cửu, Chúa Giê-su. Chúng ta có một nhà thờ vĩnh cửu là chính thân thể của Chúa Giê-su thay cho đền thờ. Chúng ta có mạng sống của chính Ngài hy sinh vì tội lỗi của chúng ta, thay thế cho các loài động vật. Đây là điều Chúa Giê-su nói với các môn đệ. Chúa Giê-su nói, các người sẽ đến Giê-ru-sa-lem để chứng kiến ​​một điều gì đó hoàn toàn mới. Các người sẽ được thấy một thầy tế lễ mới ở đó. TA LÀ thầy tế lễ thượng phẩm đó đây. Ngôi đền mà các người hào hứng đến thăm sẽ không còn phù hợp nữa. Thay vào đó, sẽ có một ngôi đền mới là cơ thể của chính Ta. Các người sẽ được sống và tôn thờ trong cơ thể của Ta và sẽ thấy một sự hy sinh mới. Các người sẽ thấy các thầy tế lễ và thầy thông giáo nơi trần thế giết Ta giống như cách họ giết chim chóc và thú vật. Họ sẽ hành hạ Ta và họ sẽ treo Ta trên thập giá. Giống như cách mà sinh vật chết, Ta cũng sẽ chết như vậy. Những con vật mà họ giết sẽ chết mãi mãi. Còn Ta sẽ sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba.

 

Đây chính là lý do tại sao Chúa Giê-su đã báo trước cái chết và sự phục sinh của Ngài cho các môn đệ. Mùa Chay lớn là hành trình của chúng ta đến ngôi đền vĩnh cửu. Chúng ta đang đi bộ hàng ngày về phía thập giá nơi Chúa Giê-su đã hy sinh cho tội lỗi của chúng ta. Mỗi ngày trong mùa Chay này, chúng ta suy niệm về sự hy sinh vĩ đại và vĩnh cửu này. Hằng ngày, chúng ta sám hối tội lỗi và bước đến thập giá. Vào Thứ Sáu Tuần Thánh, chúng ta đến đó và trực tiếp chứng kiến sự hy sinh vĩ đại. Vào ngày Lễ Phục Sinh, chúng ta sẽ thấy Chúa Giê-su sống lại từ cõi chết. Và, chúng ta sẽ trở thành một con người mới. Đây chính là cuộc sống trần gian của chúng ta cho đến khi chúng ta đến được ngôi đền thờ vĩnh cửu là Giê-ru-sa-lem mới.

 

Chúa phù hộ bạn. Amen.

Tuesday, February 21, 2023

Matthew 20:11-16: Người làm công trong vườn nho

 Bible Study Part - 118

Chúa Giê-su

Matthew 20: 1-16

Fr Saji K. Mathew

Vinh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất. Amen.

Anh chị em trong Đức Chúa Trời thân mến,

Chúng ta đã hoàn thành Ma-thi-ơ Chương 19 từ buổi học lần trước.

Tối nay, chúng ta sẽ bắt đầu học về Ma-thi-ơ Chương 20. Chúng ta hãy cùng đọc khổ 1-16.

Trong đoạn này, Chúa Giê-su so sánh Thiên Đàng với một vườn nho. Chúng ta có thể thấy một địa chủ đi tìm kiếm người làm công trong vườn nho của mình. Ngài chỉ định những người thợ làm việc trong vườn nho của Ngài, từ sáng sớm, rồi tới 9 giờ sáng, qua trưa, tới 3 giờ chiều và 5 giờ chiều.

Vào buổi tối, lúc này là khoảng thời gian thanh toán tiền lương. Người địa chủ này bắt đầu trả lương từ những người thợ đến lúc 5 giờ chiều, 3 giờ chiều, rồi trưa, 9 giờ sáng, rồi mới tới ai đến trước nhất, từ lúc sáng sớm. Tất cả những người này đều nhận được mức lương như nhau. Và rồi có những công nhân bắt đầu làm việc từ buổi sáng sớm. Những người này cứ tưởng rằng ông chủ sẽ cho họ nhiều tiền hơn vì ông đã trả nguyên ngày công cho cả những ai đến muộn. Thế nhưng, ông chủ đã trao cho họ một số tiền như nhau. Sau đó, những người này bắt đầu phàn nàn. Sau đó, ông chủ nói, tôi không làm gì sai cả. Tôi đang trả cho các người một mức lương chính xác như những gì chúng ta đã thỏa thuận với nhau. Vì thế, có gì sai ở đây? Tôi trả tiền cho người khác như thế nào là tùy tôi. Tại sao các người lại ghen tị? Tôi đâu có lấy tiền của các người và đưa nó cho họ. Tôi đang đưa cho họ tiền của tôi. Vậy tại sao các người lại càu nhàu?

Đây là một ví dụ rất thú vị về cách Đức Chúa Trời đối xử với những người đi theo Ngài. Trước hết, chúng ta cần biết mức độ quan trọng của những khoảng thời gian được đề cập đến trong đoạn văn này. Buổi sáng, 9 giờ, trưa và 3 giờ chiều là thời gian người Do Thái cầu nguyện. Ngoài ra, họ cũng cầu nguyện lúc 6 giờ chiều, 9 giờ tối và nửa đêm. Tổng cộng, người Do Thái cầu nguyện bảy lần một ngày. Điều này được thấy trong Thi thiên 119: 164 Bảy lần một ngày và tôi sẽ ca ngợi bạn, vì những lễ giáo ngay chính của bạn. Trong Công vụ Tông đồ, chúng ta có thể thấy rằng các môn đồ đã tuân theo những khung giờ cầu nguyện này. Nhà thờ Chính thống tuân theo thông lệ này và cầu nguyện bảy lần một ngày.

Quay trở lại chủ đề, bạn cảm thấy sao về sự việc này? Bạn sẽ thấy vui mừng hay bạn sẽ càu nhàu như những người công nhân làm việc cả ngày và nhận được đồng lương như những người chỉ làm việc trong vài giờ?

Hãy để chúng ta có một góc nhìn từ quan điểm của những người thợ. Họ đang tuyệt vọng trong công việc. Nếu họ không có việc làm, đồng nghĩa với việc họ không có thu nhập. Không kiếm được tiền trong ngày có nghĩa là họ sẽ thất vọng trở về nhà. Những người thợ khi nhận lương vào buổi tối sẽ chạy ngay đến tiệm tạp hóa để mua gạo và các đồ ăn khác để mang về nhà. Ở nhà, người thân của họ đang ngóng chờ. Những đứa trẻ háo hức chờ bố vì chúng biết rằng khi bố đi làm về vào buổi tối, bố sẽ mang theo thật nhiều đồ ngọt và kẹo. Vợ của những người đàn ông này đang ngóng trông chồng mang gạo và các loại thực phẩm khác về để cô ấy có thể nấu những bữa ăn cho gia đình. Cha mẹ già cũng đang đợi con trai, mong con mang thuốc hoặc dầu để bôi lên người. Tất thảy đều chông cậy vào một người đàn ông là trụ cột của gia đình. Bây giờ hãy thử tưởng tượng, người này trở về vào buổi tối mà không mang theo bất cứ thứ gì. Không khí gia đình sẽ ảm đạm biết bao. Và sẽ thật khó khăn cho họ trong vấn đề thức ăn và thuốc men, đặc biệt là đối với những đứa trẻ và cha mẹ già của họ. Đây là điều sẽ xảy ra khi chúng ta không có việc làm và không có thu nhập.

Bây giờ hãy nhìn vào một trường hợp khác. Chúng ta hãy lấy ví dụ về một công nhân chỉ được gọi đi làm lúc 5 giờ chiều. Điều đó có nghĩa là anh ấy chỉ có vỏn vẹn một giờ làm việc. Bạn có thể tưởng tượng anh ấy sẽ kiếm được bao nhiêu tiền chỉ bằng cách làm việc trong vòng một giờ. Giống như người công nhân đầu tiên, người đàn ông này cũng có một gia đình lớn. Anh ấy cũng có những đứa trẻ con đang chờ kẹo. Anh có một người vợ đang mang thai đang chờ đợi những đồ ăn ngon. Anh ấy cũng có cha mẹ già và ông bà đang chờ đợi thuốc và dầu xoa. Người đàn ông nghèo đem theo rất ít thức ăn nhưng lại chẳng hề có kẹo cho trẻ nhỏ và không có thuốc cho người già. Hãy tưởng tượng những đứa trẻ ấy sẽ buồn như thế nào, cha mẹ già và ông bà của họ sẽ cảm thấy ra sao.

Trong câu cuối cùng của đoạn văn đọc tối nay, người địa chủ hỏi xem liệu bạn có trở nên ganh ghét vì ông hào phóng không? Chúng ta đã học về lòng thương xót và ân huệ của Thiên Chúa trong buổi học lần trước. Chúng là vô điều kiện và bất cứ ai cũng có thể nhận được lòng thương xót và ân sủng của Thiên Chúa. Chúng ta cũng đã đọc trong lớp học lần trước những gì Đức Chúa Trời phán với Môi-se - hãy cùng đọc lại Xuất Ê-díp-tô Chương 33:19 Và Ngài phán rằng: Ta sẽ khiến cho mọi sự tốt lành ta làm diễn ra trước mặt ngươi, và sẽ rao truyền danh là Đức Giê-hô-va trước mặt ngươi; Ta muốn làm ơn cho ai thì ta làm ơn, xót thương ai cho ai thì ta xót thương. Đây là điều mà Chúa Giê-su đã đề cập tới trong phần cuối của đoạn văn khi người chủ hỏi các người có ghen tị vì ta hào phóng không?

Như tôi đã nói lúc đầu, vườn nho là Vương quốc Thiên Đàng. Chúa Giê-su đã dùng ví dụ về vườn nho và người chủ vườn để giúp cho chúng ta hiểu cách Ngài cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự chết chóc. Thiên Chúa thực sự là chủ vườn nho. Chúng ta đọc điều này trong Giăng 15:1 Ta là cây nho, Cha ta là người trồng nho. Chúa Giê-su đến để giúp nhân loại có được một công việc trong vườn nho, nơi đây chính là Thiên Đàng. Hãy tưởng tượng rằng bạn muốn có một công việc trong một công ty danh tiếng. Bạn sẽ hỏi những người làm việc ở đó để giúp bạn có được một vị trí ở nơi đây. Nhưng những người làm việc trong công ty đó sẽ nói với bạn rằng, ồ, công ty rất cạnh tranh và không có hình thức hối lộ hay đề xuất nào hiệu quả cả. Công ty rất nghiêm khắc. Bạn sẽ phải tham gia cạnh tranh và phải là người được chọn. Vì vậy, lựa chọn duy nhất còn lại với bạn là làm việc chăm chỉ và đạt đủ tiêu chuẩn mà thôi. Tương tự như thế, để được làm việc trong vườn nho của Đức Chúa Trời, bạn cần tụ hội đủ điều kiện.

Chúa Giê-su cho chúng ta biết làm thế nào để hội tụ đủ điều kiện trong Giăng 15:4 Hãy ở trong Ta như Ta ở trong các ngươi. Cũng như cành nho không thể tự mình sinh hoa kết trái nếu không ở trong cây nho, các ngươi cũng sẽ như thế, nếu không ở trong Ta. Vì vậy, điều đầu tiên để đủ tư cách nhận được một công việc trong vườn nho của Đức Chúa Trời là ở trong Chúa Giê-su. Vậy ở trong Chúa Giê-su có nghĩa là gì? Chúng ta hãy đọc Giăng 15:9 Như Cha đã yêu Ta thế nào, Ta cũng yêu các ngươi thế ấy; hãy luôn gần bên tình yêu của Ta. Và vì thế, điều đầu tiên để ở trong Chúa Giê-su là ở trong tình yêu của Ngài. Chúng ta cũng cần biết phẩm chất tình yêu của Chúa. Chúng ta đã nghiên cứu điều này trong Ma-thi-ơ 5:43-44 Ta đã được dạy rằng: Hãy yêu thương người xung quanh và hờn ghét kẻ thù nghịch mình. Nhưng ta nói cho các ngươi hay, hãy yêu kẻ thù và cầu nguyện cho những kẻ làm khổ các ngươi. Chúng ta biết được sự yếu đuối của tình yêu trong mình. Tình yêu của chúng ta thật ích kỷ và chúng ta không hề dành cho những người ta ghét một tình yêu từ trái tim. Nhưng Chúa Giê-su yêu những kẻ ghét Ngài và thậm chí cả những kẻ đã hành hạ Ngài. Phẩm chất thực sự của tình yêu thương được Thánh Phao-lô giải thích thêm trong 1 Cô-rinh-tô 13:4-7 Tình yêu thương cần kiên nhẫn; tình yêu thật tử tế; tình yêu không hề đố kỵ, khoe khoang, kiêu ngạo hay thô lỗ; Nó không khăng khăng phải theo cách riêng của nó; Nó không cáu kỉnh hay bực bội; Nó không nở hoa trong những điều sai trái, nhưng đề cao sự thật. Nó chịu đựng tất cả, tin tưởng tất cả, hy vọng tất cả, và sẽ trải qua tất cả. Bạn có thể so sánh tình yêu của mình với những phẩm chất này và xem tình yêu của bạn tốt như thế nào.

Câu hỏi thứ hai là chúng ta phải làm gì để ở trong Chúa Giê-su? Chúng ta hãy đọc Giăng 15:10 Nếu các ngươi vâng theo các điều răn của ta, thì các ngươi sẽ ở trong tình yêu thương của ta, cũng như ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta và ở trong tình yêu thương của Ngài. Bây giờ chúng ta hãy đọc đoạn 12 Đây là điều răn của Ta, rằng các ngươi hãy yêu thương nhau như Ta đã yêu thương các ngươi. Điều thứ hai còn quan trọng hơn cả. Tất cả chúng ta đều yêu mến Chúa Giê-su. Nhưng như vậy là chưa đủ. Để đáp ứng đủ điều kiện bước vào vườn nho của Thiên Chúa, chúng ta sẽ phải yêu thương lẫn nhau giống như cách Chúa Giêsu yêu thương chúng ta vậy. Đây là phần khó khăn nhất bởi phẩm chất tình yêu của ta vốn ích kỷ. Chúng ta yêu mến Chúa Giê-su vì chúng ta tin rằng Ngài đáp lại lời nguyện cầu của chúng ta và ban phước lành, tiền bạc cho chúng ta. Đó không phải là tình yêu trong sáng. Thay vì như vậy, chúng ta cần phải khiến tình yêu của mình trở nên thanh thuần.

Bây giờ, ta hãy trở lại với những người thợ làm việc trong vườn nho. Chúng ta đã thấy vườn nho là Thiên Đàng và chủ vườn nho là Thiên Chúa. Vậy những người lao động này là ai? Tất cả những kẻ mắc tội đều chính là những người lao động này và cũng có nghĩa là mỗi người trong số chúng ta. Các bạn còn nhớ tôi đã nói rằng người lao động rất cần việc làm vì họ cần mua thức ăn, bánh kẹo, thuốc men, v.v. Cũng giống như vậy, tội nhân bị bệnh tật và đau khổ. Họ không có thức ăn trên trời. Họ cảm thấy trần trụi vì tội lỗi của họ gây ra. Họ có bệnh về cả tinh thần lẫn thể xác, và họ đang chịu đau đớn cùng cực. Họ rất cần được thoát ra khỏi cuộc sống tội lỗi này bởi khi ở đó, họ bị buộc phải làm nô lệ cho ma quỷ. Và vì tội lỗi của họ, cả gia đình họ phải chịu đau khổ. Vì vậy, chính những tội nhân này đang tuyệt vọng chờ đợi sự giải thoát để có thể cứu sống cả gia đình mình. Những người lao động đang đợi chờ ở nơi buôn bán để xem có ai đến cho anh ta hoặc cô ta một công việc hay không. Điều đó có nghĩa là người tội nhân đang chờ đợi một người có thể đến và cứu anh ta hoặc cô ta khỏi tội lỗi.

Đây là lúc Chủ nhân hoặc chủ vườn nho xuất hiện với lời mời làm việc. Bây giờ nếu bạn đọc đoạn văn, bạn có thể thấy rằng tất cả công nhân đã ở đó từ sáng sớm. Nhưng chỉ một số ít được chọn đi làm. Những người này được chọn là ai? Họ là những tội nhân tuyệt vọng nhất mong muốn thoát ra khỏi tội lỗi của họ. Chúng tôi đã đề cập đến 1 Sa-mu-ên Chương 16:7 nơi chúng tôi thấy rằng Đức Chúa Trời nhìn thấu tấm lòng. Khi Đức Chúa Trời nhìn thấy những người tuyệt vọng thể hiện sự ăn năn, Ngài lập tức cho gọi họ và mang họ tới làm trong vườn nho. Đây là những người được chỉ định làm việc từ sáng sớm. Bây giờ hãy thử tưởng tượng họ sẽ hạnh phúc như thế nào. Chắc hẳn họ đã tính toán tiền lương cả ngày của mình và lên kế hoạch cho tất cả những việc họ sẽ làm với số tiền này. Chắc hẳn họ đã nghĩ, ôi tôi có thể mua bánh kẹo cho con tôi, tôi sẽ mua quà cho vợ hoặc chồng tôi, tôi sẽ mua hải sản ngon, tôi sẽ mua thuốc cho ông bà và cha mẹ tôi, v.v. Và người đó cảm thấy thật biết ơn người chủ đã giao việc cho họ. Nhưng bạn có thấy rằng tình yêu của người này nhiều hơn là chỉ dành cho ông chủ và gia đình của mình không. Đó là một thứ tình yêu thật ích kỷ. Anh ấy hay cô ấy thậm chí còn không nghĩ đến những người không được gọi đi làm vào buổi sáng hôm ấy. Anh ấy hay cô ấy chưa bao giờ có ý định giúp đỡ họ và nói rằng tôi sẽ chia một phần tiền lương của mình cho những người không có việc làm hôm nay. Họ cũng đau khổ, họ cũng có một cuộc sống và một gia đình để chăm sóc. Vì vậy, tôi phải giúp họ.

Bây giờ những người được gọi muộn hơn vào những thời điểm khác nhau cho đến một giờ trước khi kết thúc cũng là những người tội lỗi. Họ không được chọn vào buổi sáng vì Chúa thấy rằng họ không đủ sức để làm việc. Điều đó có nghĩa là họ làm nửa vời hoặc lười biếng. Họ cũng giống như những người đang học với chúng ta. Mọi người đều chưa sẵn sàng để ăn năn hối lỗi. Hoặc là họ nửa vời hoặc là họ quá lười biếng. Nhưng khi thời gian trôi qua, sự đau khổ của họ dần tăng lên. Những người làm việc vào buổi sáng sẽ thoát khỏi sự khổ đau sớm hơn. Những người bị gọi tới lúc 9 giờ sáng cũng không tệ lắm vì họ chỉ bị phải chịu đựng từ sáng sớm đến 9 giờ sáng. Nhưng những người được gọi càng về sau thì càng đau khổ hơn nhiều và người được gọi lúc 5 giờ chiều là đau khổ nhất. Bạn có thể đếm những khoảng thời gian này theo số năm đau khổ của một tội nhân.

Điều tốt là ngay cả những người được gọi tới lúc 5 giờ chiều cũng đã được cứu thoát. Nhưng hãy tưởng tượng những người không bao giờ được gọi. Họ là những người không sẵn sàng ăn năn. Họ là những người không muốn chấp nhận Chúa Giê-su Kitô là Chúa và là đấng cứu tinh của họ. Họ là những người thích sống trong tội lỗi và khổ đau. Chúa Giê-su nói trong Lu-ca 13: 3 Không, tôi phải nói với bạn thế này; trừ khi bạn trở nên ăn năn, nếu không tất cả các bạn sẽ tàn lụi như họ. Hơn thế nữa, trong 1 Giôn 1: 9 có nói rằng Nếu chúng ta thú nhận tội lỗi của mình, thì Ngài là Đấng thành tín và công chính sẽ tha tội cho chúng ta và tẩy sạch chúng ta khỏi mọi điều gian ác. Chúa sẽ tha thứ và Chúa sẽ thanh tẩy chúng ta. Chúng ta biết rằng sự thanh tẩy này xảy ra qua phép rửa tội. Liên quan đến chủ đề của chúng ta, những người được gọi tới vào sáng sớm chính là những người được rửa tội và được cứu sớm. Điều đó có nghĩa là những người thường nửa vời, không quyết đoán và lười biếng sẽ phải chịu đựng nhiều hơn cho tới khi họ được gọi tên.

Có một vấn đề với những người được gọi vào sáng sớm. Đó là khi nhận lương, họ càu nhàu vì những người khác cũng nhận cùng một mức lương như vậy. Nó có nghĩa là mặc dù mọi người đã được rửa tội và được cứu, nhiều người vẫn chưa hề hoàn hảo. Họ chỉ nghĩ về bản thân họ mà thôi. Họ không quan tâm đến những tội nhân khác chưa được cứu. Điều đó là không tốt. Những người đã được cứu phải làm việc chăm chỉ không ngừng để những người khác cũng được cứu sống. Khi chúng ta đọc, người địa chủ rất tử tế và hào phóng. Tương tự như vậy, những người được gọi tới vào sáng sớm cũng nên đối xử tử tế và hào phóng với những người khác vẫn còn đang phải ở ngoài chợ lãng phí cuộc đời của họ trong tội lỗi kia. Hãy cầu nguyện cho những người như thế và tiếp tục sẻ chia Lời của Chúa. Đây mới là tình yêu đích thực. Đây là điều Chúa Giê-su đã yêu cầu. Đây mới là ý nghĩa của việc ở trong Chúa Giê-su và ở trong tình yêu của Ngài.

Chúa phù hộ bạn! Amen.


Matthew 19:23-30: Lạc đà chui qua lỗ kim

 Bible Study Part - 117

Chúa Giê-su

Matthew 19:23-30

Fr Saji K. Mathew


Vinh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất. Amen.

Anh chị em trong Đức Chúa Trời thân mến,


Trong buổi học lần trước, chúng ta đã học về cuộc trò chuyện của Chúa Giê-su với những người thanh niên giàu có. Tối nay, chúng ta hãy cùng đọc Ma-thi-ơ 19:23-30. Hãy cùng đọc đoạn văn.


Phần này nối tiếp phần trước ở cuộc trò chuyện của Chúa Giê-su với người thanh niên giàu có. Ngay khi chàng thanh niên giàu có thất vọng ra về, Chúa Giê-su giải thích cho các môn đệ về những điều Ngài đã nói với chàng thanh niên giàu có kia. Ngài nói, người giàu có tới được Thiên Đàng là một điều vô cùng khó. Con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu lên Thiên Đàng. Chúng ta đã học trong lớp trước lý do tại sao một người giàu có không thể đặt chân lên Thiên Đàng. Không phải là Chúa sẽ nói, vì bạn giàu có nên bạn không thể có được một cuộc sống vĩnh cửu. Cũng hoàn toàn không phải vì Chúa thậm chí không quan tâm đến việc bạn giàu hay nghèo. Chúng ta đọc trong cuốn 1 Sa-mu-ên Chương 16:7 Nhưng Đức Giê-hô-va nói với Sa-mu-ên rằng: Chớ nhìn vào bề ngoài hoặc vóc dáng cao lớn của anh ta, bởi ta đã từ chối anh ấy; vì Chúa không thấy những gì người phàm thấy; họ chỉ nhìn bề ngoài, nhưng Chúa nhìn thấu vào sâu thẳm trái tim. Như đoạn này cho chúng ta hay, Đức Chúa Trời không nhìn vào vẻ đẹp, sự giàu có hay bất cứ thứ gì thuộc về trần thế. Đức Chúa Trời muốn soi tỏ tấm lòng của chúng ta. Miễn là lòng chúng ta trong sạch và hướng về Chúa, thì Ngài sẽ vui lòng.


Vấn đề duy nhất với những người giàu có là trái tim của họ chỉ luôn hướng về tiền bạc và sự giàu có mà thôi. Ngày đêm mọi suy nghĩ trong lòng họ chỉ là làm thế nào để kiếm được nhiều tiền hơn. Đây là lý do tại sao Chúa Giê-su nói, con lạc đà chui qua lỗ kim còn dễ hơn người giàu lên tới Thiên Đàng. Bây giờ, khi Chúa Giê-su đề cập đến con lạc đà nghe thật lạ lẫm bởi vì nó là một con vật to lớn. Và lỗ kim thì lại rất nhỏ. Ngay cả một con kiến cũng không thể lọt qua lỗ hay mắt kim. Giờ chúng ta so sánh những người giàu có với những con lạc đà. Họ chắc chắn không thể lên Thiên Đàng như thể không chui qua được lỗ kim. Vậy chúng ta hãy so sánh những người nghèo khổ với những con kiến. Dù họ có giống như kiến nhưng họ cũng không thể nào chui lọt lỗ kim. Đây là lý do tại sao tôi nói, Chúa không quan tâm bạn giàu hay nghèo. Chúng ta có thể có ấn tượng sai lầm rằng vì không hề giàu có nên chúng ta có thể dễ dàng lên Thiên Đàng. Không, chúng ta không thể vì nếu không thay đổi chính mình, chúng ta sẽ chẳng thể lên tới Thiên Đàng được đâu.


Ta sử dụng kim để may vá. Nếu bạn đã từng sử dụng kim, bạn sẽ biết việc luồn một sợi chỉ qua lỗ kim khó khăn như thế nào. Điều đó có nghĩa là, chỉ một sợi chỉ mỏng manh cũng không dễ dàng chui qua lỗ kim. Đây là lý do tại sao các môn đồ đặt câu hỏi như chúng ta đọc trong câu 25 Khi các môn đồ nghe thấy điều đó, họ vô cùng kinh ngạc và nói: “Vậy thì liệu ai có thể được cứu?”


Bạn có hình dung được sự kinh ngạc của các môn đồ sau khi nghe câu nói của Chúa Giê-su không? Bây giờ hãy so sánh nó với tình huống của chính bạn. Các môn đệ đã ở cạnh Chúa Giê-su về mặt thể chất. Họ đã thực sự đang nhìn thấy và trải nghiệm sự tồn tại của Ngài trong mọi khoảnh khắc. Nhưng, chúng ta chưa bao giờ thấy được Chúa Giê-su bằng đôi mắt của mình. Chúng ta chỉ nhìn thấy Ngài qua đức tin khi đọc trong 2 Cô-rinh-tô Chương 5:7 Vì chúng ta bước đi bằng đức tin, không phải bằng mắt thấy. Và tất cả những ai tin vào Chúa Giê-su đều chưa từng được gặp Ngài. Nếu các môn đệ sau khi nhìn thấy Chúa Giê-su và trải nghiệm sự tồn tại về thể xác cùng Ngài mà còn sửng sốt, thì bạn và tôi sẽ kinh ngạc tới đâu? Sau khi đọc xong đoạn văn tối nay, hầu hết mọi người sẽ nói, ồ không, tôi không thể đi theo Chúa Giê-su vì Ngài rất nghiêm khắc. Nhưng đồng thời, tất cả chúng ta đều muốn tới Thiên Đàng. Sẽ không ai nói rằng, tôi rất vui khi được xuống địa ngục và sống vĩnh viễn cùng ma quỷ cảcả.


Vậy giải pháp ở đây là gì? Chúa Giê-su trả lời câu hỏi của các môn đồ rằng: Đối với loài người thì điều đó không thể được, nhưng đối với Đức Chúa Trời thì mọi sự đều có thể thực hiện được. Điều đó có nghĩa là chỉ có Đức Chúa Trời mới có thể tới được Thiên Đàng mà thôi. Nhưng, chúng ta đọc trong Giăng Chương 14:3 rằng Nếu ta đi chuẩn bị nơi chốn cho các ngươi, thì ta sẽ trở lại mang các ngươi đi cùng ta, để dù cho ta ở đâu, các ngươi cũng sẽ ở đó. Như câu này và nhiều câu khác đã gợi ý, Đức Chúa Trời muốn mọi người ở cùng Ngài trên Thiên Đàng. Khi Chúa Giê-su nói, con người không thể làm được, điều đó có nghĩa là không ai lên Thiên Đàng bằng sự nhanh trí, trí thông minh hay bằng cách làm việc chăm chỉ. Nếu ai đó nghĩ rằng mình giàu có nên có thể dễ dàng có được một vị trí trên Thiên Đàng thì đó hẳn là một sự ngu ngốc. Chỉ có nhờ vào sự ân đức và lòng thương xót của Đức Chúa Trời thì bất cứ ai mới có thể lên Thiên Đàng được mà thôi. Vì vậy, giải pháp là nhận được ân sủng và lòng thương xót của Thiên Chúa. Điều này dẫn chúng ta đến câu hỏi tiếp theo, vậy làm thế nào để chúng ta có thể nhận được ân huệ và lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Có một ai hay tất cả mọi người đều có thể nhận được ân huệ và lòng thương xót của Đức Chúa Trời?


Thánh Phao-lô trích dẫn Exodus Chương 33:19 trong Romans Chương 9:15 và nói Vì Ngài phán với Môi-se rằng: Ta sẽ thương xót những người ta thương xót, và cảm thông với những người ta cảm thông. Như câu này nói, chính Đức Chúa Trời là người quyết định ai sẽ được ban cho ân điển và lòng thương xót của Ngài. Hãy tưởng tượng cách nhân viên cố gắng làm hài lòng ông chủ của họ như thế nào. Đầu tiên, họ sẽ được ông chủ để mắt tới. Tiếp đó, họ sẽ hoàn thành công việc của mình một cách hoàn hảo và đúng hạn. Tiếp theo, họ sẽ lịch sự, khiêm tốn và có một thái độ tích cực. Một chiến lược tương tự có thể được áp dụng để làm hài lòng Chúa. Rô-ma 8:8 và những người còn tồn tại về thể xác không thể làm hài lòng được Đức Chúa Trời. Vì vậy, cách để đạt được điều đó là thay đổi chính chúng ta từ việc tập trung về thể xác thành tinh thần. Điều đó có nghĩa là chúng ta phải ngừng lo lắng về những ham muốn xác thịt và ngày càng suy nghĩ nhiều hơn về cách trở thành một con người tâm linh.


Đây là những gì chúng ta thấy trong câu trả lời của Chúa Giê-su cho Thánh Phi-e-rơ trong đoạn văn tối nay. Chúng ta hãy đọc câu 27-28 Bấy giờ Phi-e-rơ thưa rằng: Ngài hãy nhìn xem, chúng tôi đã bỏ tất cả để theo Ngài. Và rồi chúng tôi nhận lại gì chứ? Đức Chúa Giê-su phán rằng: Quả thật, ta nói với các ngươi, khi vạn vật đổi thay, khi Con người ngồi trên ngôi vinh hiển của Ngài, thì các ngươi, những kẻ đi theo ta, cũng sẽ ngồi trên mười hai ngôi mà phán xét mười hai chi phái Y-sơ-ra-ên. Chúng ta hãy cố gắng phân biệt những gì Chúa Giê-su nói trong câu trả lời của Ngài. Thánh Peter nói, chúng tôi đã bỏ lại tất cả. Điều đó có nghĩa là họ đã từ bỏ mọi ham muốn và đam mê của xác thịt để hoàn toàn đi theo Chúa. Sau đó, Chúa Giê-su trả lời, khi mọi sự đổi thay, ngươi sẽ được tới Thiên Đàng. Chúa Giêsu đã nói, khi mọi vật đổi thay. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta ngừng sống cho xác thịt và bắt đầu sống cho tinh thần của mình, Chúa sẽ hài lòng. Khi Đức Chúa Trời hài lòng, Ngài sẽ nhân từ và thương xót chúng ta.


Vì vậy, nếu chúng ta muốn có một cuộc sống sau khi chết cùng với Chúa, thì chúng ta nên trở nên tâm linh hơn. Nó có nghĩa là cuộc sống của chúng ta nên giống như một linh hồn. Từ Hy Lạp cho linh hồn là “pneuma”. Nó có nghĩa là hơi thở hoặc không khí. Có ai có thể nhìn thấy hơi thở hoặc không khí không? Không hề, chúng ta chỉ có thể cảm nhận được hơi thở hoặc không khí mà thôi. Bây giờ chúng ta hãy trở lại với lỗ kim. Không khí có thể lọt qua lỗ kim không? Điều đó rất dễ dàng. Và vì thế, như tôi đã nói, để qua được lỗ kim, chúng ta phải trở thành hơi thở hay không khí. Đây là điều Chúa Giêsu đã nói với người phụ nữ Sa-ma-ri-tan và với Ni-cô-đê-mô. Trước tiên chúng ta hãy đọc những gì Ngài đã nói với Ni-cô-đê-mô, trong Giăng 3:7-8 Đừng ngạc nhiên về điều Ta đã nói với các ngươi, Các ngươi phải được sinh ra từ trên cao. Gió thổi tới nơi mà nó muốn tới, ngươi nghe tiếng nhưng không thể biết gió đến từ đâu và sẽ đi đâu. Mọi người được sinh ra từ linh hồn cũng vậy. Ở đây, Chúa Giê-su đang nói về phép rửa tội. Qua việc rửa tội, một người được biến đổi từ xác thịt thành linh hồn. Qua việc rửa tội, tất cả những điều xấu xa và tội ác liên quan đến xác thịt đều được rửa sạch. Sau khi rửa tội, một người trở thành một con người mới thuộc về tâm linh. Đây là lý do tại sao ma quỷ ghét lễ rửa tội. Chúng ta sở hữu một trong những kinh nghiệm tốt nhất để chiến đấu với ma quỷ để rửa tội cho mọi người. Khi chúng ta bắt đầu lớp học này, có khoảng hơn một chục người tham dự thường xuyên. Ngay khi chúng ta bắt đầu chuẩn bị cho lễ rửa tội, chỉ còn lại hai hoặc ba người lui tới. Tất cả những người khác đều biến mất vì lý do này hay lý do khác. Đó là vì ma quỷ đã kéo họ đi để được ở lại trong những thú vui xác thịt xấu xa của họ. Ni-cô-đê-mô học Kinh Thánh hàng ngày. Nhưng, anh ta không thể biến mình từ xác thịt thành linh hồn. Nhưng chúng ta lại đọc trong Kinh Thánh rằng Ni-cô-đê-mô rất đau lòng khi biết Chúa Giê-su đã chết. Chúng ta hãy cùng đọc Giăng 19: 39-42 Ni-cô-đê-mô, người mà ban đầu tới với Chúa Giê-su vào ban đêm, cũng đến, mang theo một hỗn hợp nhựa thơm và lô hội, nặng khoảng một trăm cân. Họ lấy thân thể Chúa Giê-su, lấy vải liệm quấn với thuốc thơm, theo tục lệ chôn cất của người Do Thái. Nơi Ngài bị đóng đinh có một cái vườn, và trong vườn có một ngôi mộ mới chưa chôn cất ai. Và cũng bởi, đó là ngày Chuẩn bị của người Do Thái, và ngôi mộ lại ở gần đó, nên họ đặt Chúa Giê-su ở nơi đây.


Bạn có thể hình dung Ni-cô-đê-mô đã đau lòng và mất mát như thế nào vào lúc đó không. Anh ấy hẳn đang phải đau đớn lắm, ôi không, lẽ ra tôi nên lắng nghe Chúa Giê-su khi Ngài phán với tôi về nghi lễ rửa tội. Nếu tôi chấp nhận rửa tội vào lúc đó, tôi sẽ được ở với Chúa Giê-su mãi mãi. Bây giờ Ngài đã ra đi. Tôi không thể làm bất cứ điều gì để thay đổi.


Câu thứ hai là lời Chúa Giê-su nói với người đàn bà Sa-ma-ri, như chúng ta đọc trong Giăng 4:23-24 Nhưng giờ đã điểm, và giờ đây, khi những kẻ thờ phụng thành tâm sẽ thờ phụng Cha bằng tâm hồn và sự thật, vì Cha luôn tìm kiếm những người như thế để thờ phụng Ngài. Đức Chúa Trời là thần linh, và những ai thờ phụng Ngài phải làm như vậy từ tâm và tấm lòng chân thật. Như Chúa Giê-su đã nói trong những câu này, nếu chúng ta không trở nên tâm linh và chân thật, thì đừng nói tới việc lên Thiên Đàng, ngay cả sự thờ phụng của bạn cũng sẽ không được chấp nhận đâu. Điều đó có nghĩa là, cho dù bạn cầu nguyện hay đọc Kinh thánh chăm chỉ đến đâu, trừ khi có một sự thay đổi thực sự trong cuộc sống của bạn, thì sẽ chẳng có gì xảy ra hết. Không đời nào một người cứ bị bao trùm và chìm đắm trong những đam mê xác thịt, tham lam, tiền tài và đủ thứ trần thế lại vẫn mơ ước được lên Thiên Đàng. Thà con lạc đà chui qua lỗ kim còn hơn là một người sống hàng ngày chỉ nghĩ đến tiền, tiền và tiền, hay những đam mê, ước mơ và vui thú trần tục. Đây là những gì Chúa Giê-su đã dạy trong bài đọc tối nay.


Chúa Giê-su yêu cầu người thanh niên giàu có thay đổi bản thân khỏi việc chỉ nghĩ đến tiền và bắt đầu nghĩ đến một cuộc sống vĩnh cửu. Và Chúa Giê-su bảo đảm với các môn đệ rằng vì con đã bỏ mọi sự thế gian mà theo Ta, nên Ta sẽ trở lại và đem con theo Ta lên Thiên Đàng. Do đó, sự lựa chọn nằm ở bạn mà thôi. Bạn muốn gì? Như tôi đã chỉ ra lúc đầu, bạn muốn sống với Chúa Giê-su hay là với ma quỷ? Hãy cầu xin Chúa Giê-su giúp bạn đưa ra quyết định đúng đắn.


Chúa phù hộ bạn. Amen.


Matthew 19:16-22 Người giàu vào vương quốc thiên đàng

 Vinh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất. Amen.

Anh chị em trong Đức Chúa Trời thân mến,


Trong buổi học lần trước, chúng ta đã học về quan niệm của Chúa Giê-su về việc để những đứa trẻ đến với Ngài. Lớp học tối nay, chúng ta sẽ học Ma-thi-ơ 19:16-22. Hãy cùng đọc đoạn văn.


Chúng ta vừa kết thúc ba ngày Mùa Chay Ni-ni-vê. Như chúng ta đã học ở lớp trước, mỗi Mùa Chay là thời gian để chúng ta trở lại làm một đứa trẻ và bắt đầu lại cuộc sống của mình một lần nữa. Chúng ta gột rửa tội lỗi và thay đổi cơ thể mình, tâm trí và tinh thần của mình thông qua việc thực hành mỗi Mùa Chay. Khi chúng ta thiền định trong ba ngày Mùa Chay, nhà tiên tri Giô-na đã ở trong bụng cá voi ba ngày ba đêm. Ba ngày đó có thể kể là những ngày đẹp đẽ nhất trong cuộc đời của ngài vì ngài có nhiều thời gian để suy ngẫm về cuộc đời mình, và cầu xin Chúa tha thứ cho mọi lỗi lầm trong cuộc sống. Hơn thế nữa, Ngài còn có cơ hội rũ bỏ lòng kiêu hãnh không nên có, cái tôi và sự giận dữ của mình. Khi Giô-na ra khỏi bụng cá voi, Ngài trở thành một người mới, giống như một đứa trẻ vậy. Đó là bài học mà chúng ta học được. Và đó là những gì chúng tôi mong đợi sẽ áp dụng trong cuộc sống của mình. Sau 16 ngày nữa, chúng ta sẽ bước vào Mùa Chay Lớn. Vì vậy, chúng ta hãy chuẩn bị canh tân đời sống bằng cách nhìn lại cuộc đời và sửa đổi từng điều sai trái trong cuộc đời mình.


Trong phân đoạn Kinh thánh tối nay, chúng ta đọc về một thanh niên giàu có hỏi Chúa Giê-su về sự sống vĩnh cửu. Ngay từ đầu, chúng ta cần biết rằng có ba giai đoạn trong cuộc đời của một con người. Giai đoạn đầu tiên là trước được sinh ra. Như tôi đã nói trong một trong những lớp học đầu tiên của mình, nó bắt đầu từ A-đam và E-va. Mỗi con người trên thế giới này đều được sinh ra từ A-đam và Ê-va. Giai đoạn thứ hai là sau khi chúng ta đã được sinh ra trên thế giới này. Nó bắt đầu từ ngày chúng ta được sinh ra và sinh sống trên trái đất này. Nó rất ngắn và có thể kéo dài tối đa là 80, 90 hoặc 100 năm. Giai đoạn thứ ba của cuộc đời bắt đầu sau cái chết thể xác. Chúng ta có thể đếm những ngày trước khi sinh. Đó là thời gian từ A-đam và Ê-va đến ngày sinh nhật của chúng ta. Thậm chí còn dễ dàng hơn để đếm số ngày sinh sống của chúng ta trên trái đất này. Đó là từ ngày sinh nhật cho tới ngày chết. Nhưng chúng ta không thể ước tính giai đoạn thứ ba của cuộc đời vì nó là vĩnh cửu. Nó có nghĩa là giai đoạn thứ ba của cuộc đời chúng ta không bao giờ kết thúc. Đó là cuộc sống có Chúa hay không có Chúa.


Niềm tin vào cuộc sống vĩnh cửu là điều mà con người từ thuở sơ khai của lịch sử nhân loại đã luôn mang theo. Các Triết Gia Hy Lạp nổi tiếng như Plato và A-rit-xtốt sống trước khi Chúa Giê-su giáng thế đã dạy về cuộc sống vĩnh cửu. Khổng Tử, triết gia Trung Hoa, cũng sống trước Chúa Giê-su dạy về sự sống vĩnh cửu. Có hai triết gia Việt Nam đã dạy về cuộc sống vĩnh cửu vào thế kỷ 15 sau Chúa Giê-su Kitô. Cả hai đều là những nhà Nho gia. Tất cả những người này đã dạy về việc sống một cuộc sống đạo đức nếu một người muốn có cuộc sống vĩnh cửu. Đức Phật dạy về vòng luân hồi. Nó có nghĩa là bạn sẽ phải sinh ra và sống một cuộc sống đạo đức hết lần này đến lần khác cho đến khi bạn trở nên hoàn hảo để có được một cuộc sống vĩnh cửu. Thật không may, không có con người nào có thể hoàn hảo, cho dù người ta có cố gắng thế nào đi chăng nữa. Vậy có điều gì là độc đáo trong sự dạy dỗ của Chúa Giê-su về sự sống vĩnh cửu?


Trước hết, những triết gia này và Đức Phật cũng chỉ là những con người mà thôi. Tất cả những gì họ có thể dạy chúng ta là làm sao để sống một cuộc sống đạo đức. Tuy nhiên, trong cuộc đối thoại giữa Chúa Giê-su và người đàn ông giàu có này, chúng ta thấy rằng chỉ sống một cuộc đời đạo đức thôi thì chưa đủ để có được sự sống vĩnh cửu. Khi người thanh niên giàu có hỏi về sự sống vĩnh cửu, Chúa Giê-su nói chỉ cần làm theo mười điều răn. Người thanh niên nói, Tôi đã tuân theo tất cả các điều răn. Tôi không giết người; Tôi không ngoại tình; tôi không ăn cắp; Tôi không làm chứng giả; Tôi tôn kính cha mẹ mình; và Tôi yêu quý những người hàng xóm xung quanh. Vậy tôi còn thiếu điều gì? Người đàn ông hỏi câu hỏi này, "Tôi còn thiếu điều gì?" cho thấy ông vẫn chưa thể yên tâm về sự sống vĩnh cửu. Nói cách khác, anh ấy đang nói, Chúa ơi, con đang sống một cuộc sống đạo đức, nhưng con vẫn cảm thấy chưa đủ để bước vào cuộc sống vĩnh cửu.


Trước đó, chàng thanh niên giàu có đã hỏi Chúa Giê-su điều gì là tốt. Trong Mác 10:17, chúng ta đọc về một sự kiện tương tự. Ở đó, người đàn ông gọi Chúa Giê-su là “Thầy nhân lành”. Và chúng ta đọc trong cả hai phần Chúa Giêsu trả lời, chỉ có một người là tốt. Và người đó là Chúa. Đây thực sự là điều đầu tiên mà chúng ta nên hiểu rõ ràng. Các triết gia và các nhà tôn giáo học của con người đều có một số đông tín đồ. Và những tín đồ đó tin rằng tôn giáo của họ và thầy của họ là những người tốt duy nhất. Nhưng, chỉ có một Thiên Chúa thực sự mà thôi. Và chỉ có Chúa là Đấng tốt lành. Con người không thể hướng thiện vì ẩn chứa bên trong mỗi người còn rất nhiều điều xấu xa. Nếu bạn nói rằng bạn là người tốt, điều đó nên có nghĩa bạn là người hoàn hảo và không có bất kỳ điều xấu nào trong xác thịt và tư tưởng của bạn. Thi Thiên 53:2-3 Đức Chúa Trời từ trời cao ngó xuống loài người xem ai là người khôn ngoan và đi theo Ngài. Hết thảy đều sa ngã, đều hư hỏng như nhau; không có ai làm điều tốt cả, dù chỉ một người cũng không.


Như chúng ta đọc trong những phần này, khi Đức Chúa Trời nhìn xuống con người, thậm chí không có ai là hoàn hảo hết. Chúng ta phải luôn ý thức được sự thật này để không khoe khoang về bản thân. Chúng ta theo Chúa vì Ngài là Chúa duy nhất và chỉ có Ngài là tốt lành mà thôi. Đây là bài học đầu tiên Chúa Giê-su dạy cho chàng thanh niên giàu có. Bài học thứ hai là về việc chỉ tuân theo một vài điều răn của thế gian. Những điều răn đó đã được đưa ra bởi Môi-se khi chúng ta đọc trong Xuất Ai cap ky Chương 20. Những quy tắc đó rất hữu ích để xây dựng một xã hội văn minh. Và mỗi quốc gia và xã hội đều có các luật lệ và quy tắc công dân riêng. Nhưng chỉ làm theo những điều đó sẽ không mang lại sự sống vĩnh cửu cho bất cứ ai. Những quy tắc đó là những quy định chỉ có thể giúp tránh bị phạt và tránh bị cảnh sát bắt. Việc bước vào cuộc sống vĩnh cửu lại là một điều hoàn toàn khác biệt.


Chúa Giê-su nói với người thanh niên giàu có rằng bất cứ điều gì anh đang làm đều tốt cả. Thế nhưng, chúng không được coi là điều kiện để bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Nếu bạn muốn bước vào cuộc sống vĩnh cửu, bạn sẽ phải bán hết tài sản của mình và phân phát cho người nghèo. Sau đó, bạn sẽ có một kho báu trên thiên đàng, có nghĩa là bạn có thể bước vào cuộc sống vĩnh cửu. Chúng ta đọc rằng người thanh niên giàu có không thể chấp nhận điều này và đã rời bỏ Chúa Giê-su. Chúng ta không thể đổ lỗi cho người đàn ông này. Nếu hôm nay Chúa Giê-su yêu cầu bạn và tôi làm điều này, chúng ta sẽ nói xin lỗi Chúa Giêsu, con không thể làm điều đó. Vì vậy, câu hỏi được đặt ra ở đây là, chính xác thì Chúa Giê-su hàm ý gì khi Ngài nói điều này?


Đức Chúa Trời không hề phản đối việc giàu có về tiền bạc và tài sản theo nghĩa đen. Trong Cựu Ước, chúng ta đọc về Áp-ra-ham, Y-sác, Gia-cốp, Vua Đa-vít và Vua Sa-lô-môn rằng tất cả họ đều được ban cho vàng, bạc, đất đai và tài sản. Trong Gióp 42:10, chúng ta đọc thấy Đức Chúa Trời khôi phục lại tài sản và ban cho Gióp gấp đôi số tiền ông có trước đây. Vì vậy, Đức Chúa Trời không chống lại những người có tiền và của cải. Ý nghĩa thực sự của Đức Chúa Trời được đưa ra trong Thi thiên 62:10b rằng Nếu sự giàu có gia tăng, đừng nên đặt trái tim của bạn vào chúng. Đây thực sự là vấn đề với sự giàu có. Càng có nhiều tiền, chúng ta càng bận rộn. Khi có ít tiền hơn, chúng ta sẽ tới cửa hàng gần nhà và mua bất cứ thứ gì có thể mua được. Nhưng khi có nhiều tiền hơn, chúng ta sẽ tìm đến những cửa hàng lớn, hàng hiệu xa xỉ. Sau đó, chúng ta bắt đầu lên kế hoạch cho các kỳ nghỉ, các chuyến du lịch nước ngoài, v.v. Nói tóm lại, chúng ta tiếp tục tìm cách và phương tiện để tiêu tiền. Và chúng ta càng tiêu nhiều tiền, chúng ta càng dành nhiều thời gian hơn để kiếm tiền để chúng ta có thể tiêu nhiều hơn. Bằng cách này, chúng ta sẽ thấy mình ngày càng bận rộn hơn và trái tim của chúng ta sẽ ngày đêm bận rộn nghĩ đến tiền bạc. Như vậy, chúng ta sẽ có ít thời giờ cho Chúa.


Khi Chúa Giê-su đến thăm nhà La-xa-rơ, có hai chị em là Ma-thê và Ma-ri ở đó. Ngay khi Chúa Giê-su bước vào nhà họ và ngồi xuống, Ma-ri ngồi dưới chân Chúa Giê-su và bắt đầu trò chuyện và lắng nghe Ngài. Ma-thê bận rộn với tất cả công việc nhà của cô ấy. Bấy giờ. Ma-thê đến phàn nàn với Chúa Giê-su rằng: Lạy Chúa, Ma-ri chẳng giúp gì được cho con việc gì cả. Sau đó, Chúa Giê-su trả lời khi chúng ta đọc trong Lu-ca 10:41-42 Ma-thê rằng Ma-thê, con đang bị lo lắng và phân tâm bởi quá nhiều chuyện; con chỉ cần một điều duy nhất mà thôi. Ma-ri đã chọn điều tốt nhất, phần mà sẽ không thể bị lấy đi khỏi cô ấy.


Nếu nhìn vào chính mình, tất cả chúng ta đều giống như Ma-thê này vậy. Chúng ta đưa ra hàng trăm lý do để không đến nhà thờ, không đọc Kinh thánh, không tuân theo Mùa Chay, cầu nguyện hàng ngày, hoặc thậm chí không tham gia lớp học Kinh thánh. Những lời bào chữa này là bởi vì chúng ta ưu tiên cho sự giàu có của mình. Chúng ta nghĩ rằng tất cả mọi thứ trong cuộc sống đều quan trọng hơn Thượng Đế là Đấng thực sự ban cho chúng ta tất cả những thứ đó. Môi-se lớn lên trong cung điện của Vua. Nhưng khi được Chúa kêu gọi, ông Môi-se đã rời bỏ cung điện xa hoa để phục vụ Chúa. Chúng ta đọc điều này trong Hê-bơ-rơ 11:24-26 Bởi đức tin của mình, Môi-se, khi lớn lên, đã từ chối được gọi là con gái của Pha-ra-ông, lựa chọn chịu sự đối xử tệ bạc cùng với những người dân của Đức Chúa Trời hơn là tận hưởng những thú vui phù du của tội lỗi. Ông coi sự lạm dụng phải chịu vì Đấng Christ là của cải lớn hơn cả kho báu của Ai Cập, vì ông đã trông đợi phần thưởng.


Như chúng ta đọc ở đây, Môi-se không đặt tấm lòng của mình vào sự giàu có mà ông tận hưởng khi sống trong cung điện. Thay vào đó, ông đặt lòng mình vào sự sống vĩnh cửu và đi theo Chúa.


Đây là điều Chúa Giê-su muốn nói khi Ngài nói với người giàu có rằng hãy bán hết tài sản của mình đi để có được một kho tàng trên thiên đàng. Thật không may, trái tim của chàng trai trẻ giàu có đã vướng vào tiền bạc và tài sản của anh ấy. Anh ấy không sẵn sàng hy sinh giai đoạn thứ hai của cuộc đời ngắn ngủi của mình vì lợi ích của giai đoạn thứ ba vĩnh cửu. Đây là những gì tất cả chúng ta phải chịu đựng ngày hôm nay. Chúng ta chỉ tin vào cuộc sống này. Chúng ta không tin vào cuộc đời tiếp theo mà thực sự mới là cuộc sống thực.


Ngay cả khi chúng ta theo Chúa, chúng ta làm điều đó với ý định ích kỷ. Chúng ta chỉ muốn Chúa Giê-su đáp ứng những nhu cầu của chúng ta trong cuộc sống hiện tại. Vì vậy, chúng ta mong đợi Chúa Giê-su ban cho chúng ta nhiều tiền hơn, một công việc tốt, một sức khỏe tốt và một cuộc sống không rắc rối. Cho nên niềm hy vọng của chúng ta chỉ đặt vào đời sống hiện tại. Nhưng Thiên Chúa đã ban cho cuộc sống này như một giai đoạn chuẩn bị cho cuộc sống tiếp theo. Trong khi sống ở đời này, chúng ta chuẩn bị mỗi ngày để được chấp nhận vào cuộc sống vĩnh cửu với Chúa Giê-su. Thánh Phao-lô đã nói trong 1 Cô-rinh-tô Chương 15:19 Nếu chỉ bởi đời sống hiện tại mà chúng ta đặt niềm tin vào Chúa, thì chúng ta là những kẻ đáng thương nhất trên đời.


Người đàn ông giàu có được sống vĩnh cửu nhưng hy vọng của anh ấy là Chúa Giê-su sẽ ban phước cho anh ấy nhiều hơn bằng tiền bạc và sự giàu có. Điều đó có nghĩa là anh ta đang cố lừa dối Chúa rằng: Ôi Chúa Giê-su, con yêu Chúa, con muốn theo Chúa. Con muốn có một cuộc sống vĩnh cửu với Ngài. Và, con đang tuân theo tất cả các quy tắc để sống một cuộc sống đạo đức. Anh ta hẳn đã nghĩ rằng Chúa Giê-su sẽ nói, ồ tuyệt vời, ta sẽ giúp con trở nên thật giàu có. Nhưng Chúa Giêsu đã nhìn thấy trái tim của anh và nói, trái tim con đang bị mắc kẹt bởi tiền bạc. Con thật ích kỷ. Hãy đi và bán tất cả mọi thứ, rồi ta sẽ cho con sự sống vĩnh cửu. Và người đàn ông đã thất vọng và rời bỏ Chúa Giê-su.


Chúng ta có nhiều người như thế trong số mình. Họ mong đợi Chúa Giê-su ban phước cho họ bằng tiền bạc và sự giàu có. Vì vậy, họ giả vờ rằng họ cầu nguyện, đọc Kinh thánh và đi theo Chúa. Nhưng trong thâm tâm, họ là những kẻ lừa đảo. Thật không may, những người như vậy rồi sẽ bị Chúa từ chối. Bất cứ ai cố gắng lừa dối Chúa đều bị nguyền rủa. Vì vậy, chúng ta đừng nên khiến Ngài nổi thịnh nộ.


Hãy trung thực. Nếu chúng ta có tiền, hãy đừng đặt tâm trí vào nó. Thay vào đó, hãy cảm tạ Chúa và dành cho Ngài ưu tiên hàng đầu trong cuộc sống. Nếu chúng ta không đủ giàu, chúng ta càng nên tạ ơn Chúa vì chúng ta có nhiều thì giờ dành cho Chúa hơn là dành cho việc quản lý của cải.


Chúng ta đừng như thanh niên giàu có đạo đức giả này. Hãy sống chân thật. Chúng ta không tốt, nhưng chúng ta muốn trở nên tốt đẹp, và chúng ta cố gắng mỗi ngày để tốt hơn ngày hôm trước. Bằng cách này, chúng ta đang hướng tới một sự sống vĩnh cửu.


Chúa phù hộ bạn. Amen.




Chương 19:13-15: Trở nên giống như con trẻ

 Bible Study Part - 115

Chúa Giê-su

Matthew 19:13-15

Fr Saji K. Mathew

Vinh Danh Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, một Thiên Chúa duy nhất. Amen.

Anh chị em trong Đức Chúa Trời thân mến,

Chúng ta đã hoàn thành phần đầu tiên của Chương 19 của cuốn Ma-thi-ơ từ buổi học lần trước. Sau đó, chúng ta bắt đầu kỳ nghỉ kéo dài năm tuần. 

Ở lớp học trước chúng ta đã học về quan niệm của Chúa Giê-su về việc ly hôn. Tối nay chúng ta sẽ học Ma-thi-ơ Chương 19:13-15. Chúng ta hãy cùng bắt đầu đọc đoạn văn.

Chúng ta đã cùng nhau bước vào một năm mới. Hãy cùng chúc mừng ngày đầu năm 2023 và cũng là đầu năm mới âm lịch.

Tôi muốn bạn nhớ đến lễ Tết. Hãy nhớ rằng nó cũng vui vẻ và thú vị như thế nào. Trong những ngày lễ, bạn hẳn đã tận hưởng việc trao đổi quà tặng, thăm thú gia đình và bạn bè, ăn những món ngon, mặc những bộ cánh mới, v.v. Có thể có một điều mà bạn đã bỏ lỡ hoặc lãng quên trong suốt những ngày lễ này. Đó là việc cảm ơn Chúa vì tất cả các phước lành và sự bảo vệ mà bạn đã nhận được từ Ngài trong năm qua. Giống như chúng ta bắt đầu và kết thúc một ngày của mình bằng cách cảm tạ Chúa, chúng ta cũng nên bắt đầu năm mới bằng cách cảm tạ Ngài.

Chúng ta thường không nhớ đến Chúa trong những dịp như vậy nhưng Chúa luôn bảo vệ và ban phước cho chúng ta từng giây từng phút. Chúng ta hãy đọc Bài Thánh Ca Chương 36:7-8. Tình yêu bền vững của Chúa thật đáng quý biết bao! Tất cả mọi người đều được che chở trong vòng tay của Chúa. Họ tận hưởng sự đủ đầy nơi ngôi nhà của Ngài, và Ngài cho họ uống nước từ dòng sông của Ngài. Khi chúng ta đọc những dòng này, chính tình yêu quý giá và bền vững của Thượng Đế đã đưa chúng ta bước qua năm cũ để đón chào mỗi năm mới. Có một câu ngạn ngữ bằng tiếng Anh rằng "count your blessings" (đong đếm phước lành của bạn). Việc ghi nhận và trân quý từng phước lành mà chúng ta nhận được từ Chúa là điều rất quan trọng.

Trong văn hóa Anh, chúng ta nói 'cảm ơn' cho mọi điều tốt đẹp nhận được. Nhưng trong văn hóa Á Đông, người ta chỉ giữ im lặng. Nói 'cảm ơn' là một biểu hiện của lòng biết ơn. Nó cho thấy rằng bạn cảm thấy biết ơn. Chúng ta nên biết ơn Chúa và cảm ơn Ngài để thể hiện của lòng biết ơn về mọi thứ bạn nhận được. Trong văn hóa châu Á, mọi người thường coi phước lành là một điều hiển nhiên. Nếu chúng ta coi mọi thứ là hiển nhiên, chúng ta sẽ không coi trọng chúng. Nhưng chỉ khi đánh mất nó, chúng ta mới nhận ra giá trị của nó và bắt đầu cằn nhằn, phàn nàn và đau khổ. Kết cục là, văn hóa châu Á rất giỏi trong việc phàn nàn nhưng lại chưa hề tốt trong việc cảm ơn. Là con cái của Đức Chúa Trời, bạn nên thay đổi tập tục này. Bài Thánh Ca Chương 34:1 nói rằng ta sẽ chúc tụng Chúa mọi lúc; Ta sẽ mãi mãi nói những lời ấy mà thôi.

Điều này đưa chúng ta đến với chủ đề tối nay. Đức Chúa Jêsus từng nói rằng: Hãy để những đứa trẻ đến với ta, đừng ngăn cấm chúng. Vì vậy, điều khác biệt nào về những đứa trẻ nhỏ mà Chúa lại muốn chúng đến với Ngài? Đó rõ ràng là bản chất ngây thơ và thật thà của những đứa trẻ ấy. Bạn có để ý xem trẻ em thích ở bên và chơi với ai không? Chúng thích dành thời gian cho những người yêu thương và quan tâm đến chúng. Bằng cách dành nhiều thời gian hơn với những người như vậy, trẻ em đang bày tỏ lòng biết ơn của chúng.

Bạn bắt đầu thấy chán sau khi đọc nửa trang Kinh Thánh? Bạn có thể cầu nguyện mỗi ngày, sáng và tối mà không thấy chán không? Trẻ nhỏ không cảm thấy buồn chán khi dành thời gian cho những người yêu thương và chăm sóc chúng. Chúng sẽ không bao giờ cảm thấy nhàm chán khi chơi cả ngày với những người bạn của mình. Họ thậm chí có thể quên cả ăn uống khi ở bên người mình thương yêu. Vậy tại sao người lớn chúng ta cảm thấy buồn chán? Lý do đơn giản là chúng ta không nhận ra giá trị của tình yêu dành cho Thiên Chúa. Và do đó, chúng ta trở nên vô ơn. Chúng ta hãy đọc Lu-ca Chương 17:11-19. Ở đây chúng ta thấy trong số 10 người, chỉ có một người trở lại để nói lời cảm ơn với Chúa Giê-su. Và người đó có thể được so sánh với một đứa trẻ. Ông nhận ra giá trị của tình yêu Thiên Chúa. Chính vì tình yêu của Chúa mà ông đã nhận được sự chữa lành. Vì vậy, ông đã trở lại để nói 'cảm ơn Chúa’. Và vì thế, để nhận ra được tình yêu của Thiên Chúa, chúng ta cần trở lại làm những đứa trẻ thơ.

Điều khác biệt thứ hai ở một đứa trẻ là sự phụ thuộc của chúng. Trẻ nhỏ phụ thuộc vào cha mẹ và bạn bè xung quanh. Ở nhà chúng có thể hỏi: “Mẹ nấu cho con món này, món kia được không?”. Hoặc chúng có thể hỏi: "Bố ơi, bố có thể mua cho con món đồ chơi này hay món đồ chơi kia được không?" Ở trường, chúng hỏi bạn bè rằng, này, chúng ta sẽ chơi trò chơi này hay trò chơi kia nhỉ. Nhưng khi trưởng thành, chúng ta lại nghĩ rằng chúng ta chẳng cần bất cứ ai. Do đó mọi người nói, tôi sẽ làm những gì tôi muốn làm; và tôi sẽ đi bất cứ nơi nào tôi muốn đi; Tôi sẽ ngủ khi tôi muốn ngủ; Tôi sẽ thức dậy khi tôi muốn thức dậy. Thái độ sống này thể hiện sự nổi loạn. Và sự nổi loạn lại như là ma quỷ vậy. Chính Sa-tan là kẻ đầu tiên phản nghịch Đức Chúa Trời. Trong Vườn Địa Đàng, anh ta đã cố tẩy não Eve bằng cách nói rằng, tại sao cô phải tuân theo mọi điều mà Chúa đã nói. Tại sao cô không thể ăn những gì cô muốn? Chúng ta đọc về điều này trong vài câu đầu tiên của Genesis 3. Chúng ta đọc ở đây rằng Ê-va đã rơi vào bẫy của Sa-tan.

Chúng ta cũng rơi vào cái bẫy ma quỷ giống như cái bẫy mà Ê-va đã từng rơi vào trước đó. Trong mùa chay này, chúng ta có thể nghe thấy câu hỏi trong đầu mình và tự hỏi, ăn thịt có gì sai? Tại sao chúng ta lại phải quan sát nhiều lần vào mùa Chay? Nó không chỉ là một giọng nói trong đầu chúng ta và nói chuyện. Đó là chính là ma quỷ đang nói. Nếu chúng không nói chuyện ở trong đầu chúng ta, chúng sẽ sử dụng những người khác để nói chuyện với chúng ta. Và chúng ta sẽ bắt đầu nghe thấy bạn bè và đồng nghiệp hỏi chúng ta những câu hỏi tương tự. Đó chính là tiếng nói nổi loạn của Satan nói chuyện với chúng ta bằng những cách khác nhau. Vì vậy, chúng ta nên hết sức cẩn thận với những cái bẫy như vậy.

Tại thời điểm này, tôi có thể nhắc bạn về Mùa Chay Lớn sẽ bắt đầu từ ngày 20 Tháng 2. Trước đó, chúng ta có ba ngày Mùa Chay để tưởng nhớ Chúa đã cứu người dân thành Ni-ni-ve và Giô-na khỏi sự hủy diệt như thế nào. Nó sẽ bắt đầu vào ngày mai và kết thúc vào thứ Tư. Bạn sẽ được nghe rất nhiều lời thì thầm của ma quỷ và những giọng nói nổi loạn trong những ngày này. Để tránh rơi vào cạm bẫy của ma quỷ, bạn cần phải trở nên giống như một đứa trẻ. Hãy phụ thuộc vào Chúa và tuân phục Ngài giống như một đứa trẻ lệ thuộc vào cha mẹ và bạn bè của chúng. Nếu bạn cảm thấy khó khăn trong việc nương cậy hoàn toàn vào Chúa, hãy đọc lại Bài Thánh Ca Chương 62:5-6 Vì Chúa và chỉ một mình Ngài, linh hồn tôi yên lặng chờ đợi, bởi niềm hy vọng của tôi chỉ đến từ Ngài mà thôi. Một mình Ngài là sự che chở và cứu rỗi tôi, bảo vệ tôi; Tôi sẽ không bị lung lay. Bạn có thể cầu nguyện bằng cách lặp lại bài Thánh ca này bất cứ khi nào bạn bè hoặc những người khác ép buộc bạn từ bỏ mùa chay. Hoặc khi tâm trí của bạn khiến bạn phá vỡ sự kỷ luật của bản thân mình. Dù thế nào đi chăng nữa, chúng ta cần phải giống những đứa trẻ nhỏ để không tự cao tự đại về bất cứ điều gì. Thay vào đó, chúng ta nên tự hào về tình yêu thương của Đức Chúa Trời và phụ thuộc vào Ngài trong tất cả mọi thứ. Đó cũng là cách con cái tự hào về cha mẹ mình. Mỗi đứa trẻ đều tin rằng cha mẹ của nó là tuyệt nhất.

Yếu tố thứ ba về trẻ nhỏ là chúng thích nghi với môi trường rất nhanh chóng. Bạn có thể để ý rằng những đứa trẻ đi học về và sẽ nói mẹ ơi, mẹ nấu cho con món này món kia nhé. Đó là bởi vì đứa trẻ đã nhìn thấy bạn của mình ăn món ăn đó. Khẩu vị và sở thích của trẻ nhỏ liên tục thay đổi tùy thuộc vào sở thích của bạn bè chúng.

Nếu một đứa trẻ được nuôi dưỡng trong một môi trường gia đình bị bạo hành và lạm dụng, nó chắc chắn sẽ lớn lên thành một kẻ lạm dụng. Dù hoàn cảnh gia đình như thế nào, đứa trẻ sẽ dần bị bó buộc theo hướng đó. Bạo lực gia đình, ly hôn, rượu chè, ma túy, trộm cắp, hối lộ - mọi thứ đều có tác động tới sự phát triển của đứa trẻ. Lý do là bởi trẻ nhỏ có khả năng dễ thích nghi với môi trường của chúng. Đây là một trong những lý do tại sao trong Nhà thờ Chính thống, chúng ta làm lễ rửa tội cho trẻ em trong vòng ba tháng sau khi chúng chào đời. Chúng tôi trao đứa trẻ cho Chúa Giê-su khi còn nhỏ để nó bắt đầu lớn lên theo Chúa Kitô. Và cha mẹ và cha mẹ đỡ đầu có trách nhiệm nuôi dạy đứa trẻ theo Chúa Kitô. Chúa  Giê-su đã từng nói, đừng ngăn cản những đứa trẻ nhỏ đến với Ta.

Khi những đứa trẻ bắt đầu cảm nhận tình yêu của Chúa Giê-su từ khi còn nhỏ như vậy, chúng sẽ không bao giờ quên hoặc rời xa Chúa Giê-su. Đây là điều mà Châm-ngôn Chương 22:6 đã nói: Hãy dạy dỗ trẻ thơ một cách đúng đắn để khi lớn lên, chúng sẽ bị không trở nên lạc lối. Trách nhiệm của cha mẹ là rất lớn. Các bậc cha mẹ châu Á nghĩ rằng chỉ khi họ cho con cái ăn uống đầy đủ và buộc chúng phải học hành và kiếm một công việc tốt thì chúng mới thành công. Hoàn toàn không phải. Một người sẽ không được nói đến bởi sức khỏe hay công việc của họ. Một người được biết đến bởi hành vi và tính cách mà họ bộc lộ. Những ai có Chúa Giê-su trong họ sẽ  phản chiếu tình yêu của Chúa Giê-su khi họ nói chuyện, trong hành vi và tính cách. Một người sinh ra và lớn lên trong môi trường gia đình ma quỷ sẽ phản ánh hành vi và tính cách của ma quỷ. Để tránh trẻ em đi theo con đường ma quỷ ấy, Đệ Nhị Luật Chương 11: 18-21 Bạn hãy đặt những lời này của tôi vào trái tim và linh hồn của bạn, và bạn nên gắn chúng như một dấu hiệu trên đôi tay mình, và gắn chúng như một biểu tượng trên trán của bạn. Hãy dạy chúng cho con cái, nói về chúng khi bạn ở nhà cũng như khi bạn đi vắng, khi bạn đi ngủ cũng như khi bạn thức giấc. Hãy viết chúng trên các cột cửa nhà và trên các cổng của bạn, để ngày sống của bạn và con cháu bạn được phát triển trên mảnh đất mà Chúa đã thề với tổ tiên bạn sẽ ban cho chúng chừng nào các thiên đàng còn ở phía trên mặt đất. Như những câu này đã đưa chỉ dẫn rõ ràng, trách nhiệm chính của cha mẹ là nuôi dạy con cái trong tình yêu thương của Chúa. Đây là cách duy nhất mà chúng ta có thể cứu thế hệ tiếp theo của chúng ta.

Sẽ rất khó để thay đổi thế hệ hiện tại nếu họ được sinh ra và lớn lên phần lớn trong môi trường ma quỷ. Nhưng nếu bất kỳ ai trong thế hệ hiện tại muốn thay đổi, họ phải trở nên giống như một đứa trẻ như Chúa Giê-su đã nói với Ni-cô-đem trong Giăng 3. Điều đó có nghĩa là, một người sẽ cần được tái sinh. Khao khát và mong muốn và được tái sinh phải xuất phát từ sâu thẳm trái tim. Bây giờ chúng ta cần biết làm thế nào để điều này xảy ra. Hãy tưởng tượng rằng bạn đang thất vọng với hoàn cảnh cuộc sống hiện tại của mình. Bạn đã thử mọi cách có thể để thành công trong cuộc sống nhưng không có gì hiệu quả. Rồi bạn bắt đầu nghĩ, ước gì mình có thể bắt đầu lại cuộc sống của mình từ thời thơ ấu. Rồi bạn mơ ước rằng nếu mình trở lại là một đứa trẻ, mình sẽ không mắc phải những lỗi lầm mà mình đã phạm phải từ thời thơ ấu. Mình sẽ chỉ làm những điều tốt đẹp mà thôi. Tất cả chúng ta đều mong muốn điều đó trong cuộc sống của mình. Bạn không thể trở thành một đứa trẻ một lần nữa bằng cơ thể vật lý của mình. Nhưng bạn có thể trở thành một đứa trẻ trong tâm trí và tinh thần của bạn. Điều đó chỉ có thể xảy ra khi bạn chấp nhận Chúa Giê-su là Đức Chúa Trời và Đấng Cứu Thế của mình.

Những người không biết về Chúa Giê-su sẽ không biết làm thế nào để thoát khỏi sự thất vọng của họ. Nhưng, những người biết về Chúa Giê-su cũng sẽ biết rằng khi trải qua quá trình rửa tội, chúng ta bắt đầu lại cuộc sống của mình như một đứa trẻ nhỏ. Rô-ma Chương 6:4 có viết: Vì vậy, chúng ta được chôn vùi cùng với Ngài bằng việc rửa tội khi chết, để, giống như Đấng Christ đã từ cõi chết sống lại, ta cũng mới có thể bắt đầu một sự sống mới.

Cầu Chúa phù hộ bạn. Amen.