Sunday, July 30, 2023

Bible Study - Introduction (Giới thiệu về việc học tập Kinh Thánh)


Dear friends,
Các bạn thân mến,

Greetings to you all in the blessed name of our Lord Jesus Christ; and welcome to the first blog from Vietnamese Orthodox Church.
Gửi lời chào tới tất cả các bạn nhân danh thánh của Chúa Giê Su của chúng ta; và chào mừng tới blog đầu tiên từ Nhà thờ Chính Thống Giáo Việt Nam.

Before we start, here is the answer for a few questions you may have:
Trước khi chúng ta bắt đầu, đây là câu trả lời cho một số câu hỏi mà các bạn có thể có:

1.    What is Holy Bible?
Kinh Thánh là gì?

The Bible simply means ‘Book’. It is Holy because it contains the Word of God. The Bible was written over a period of thousands of years. It contains the history of mankind starting from the very first couple, Adam and Eve, and how God created and take full care of them.
Kinh thánh đơn giản có nghĩa là “cuốn sách”. Nó là cuốn sách Thánh bởi vì nó có chứa Lời của Chúa. Kinh Thánh được viết trong suốt quãng thời gian hàng ngàn năm. Nó có chứa lịch sử của nhân loại bắt đầu từ cặp vợ chồng đầu tiên là Adam và Eva và cách Chúa đã tạo ra và nuôi dưỡng họ.

The Bible is divided into two sections called Old Testament and New Testament.
Kinh Thánh được chia ra làm hai phần được gọi là Cựu ước và Tân Ước.

The Old Testament starts with the creation of this world and humanity by God, and includes the course of the relationship between God and His children.
Cựu ước bắt đầu bằng sự hình thành của thế giới và nhân loại bởi bàn tay Chúa và bao gồm các diễn biến về mối quan hệ giữa Chúa và con của Ngài.

There are 39 books in the Old Testament. They are: Genesis, Exodus, Leviticus, Numbers, Deuteronomy, Joshua, Judges, Ruth, 1 Samuel, 2 Samuel, 1 Kings, 2 Kings, 1 Chronicles, 2 Chronicles, Ezra, Nehemiah, Esther, Job, Psalms, Proverbs, Ecclesiastes, Song of Solomon, Isaiah, Jeremiah, Lamentations, Ezekiel, Daniel, Hosea, Joel, Amos, Obadiah, Jonah, Micha, Nahum, Habakkuk, Zepheniah, Haggai, Zachariah, and Malachi.  
Có 39 cuốn sách trong Cựu ước. Đó là: Genesis, Exodus, Leviticus, Numbers, Deuteronomy, Joshua, Judges, Ruth, 1 Samuel, 2 Samuel, 1 Kings, 2 Kings, 1 Chronicles, 2 Chronicles, Ezra, Nehemiah, Esther, Job, Psalms, Proverbs, Ecclesiastes, Song of Solomon, Isaiah, Jeremiah, Lamentations, Ezekiel, Daniel, Hosea, Joel, Amos, Obadiah, Jonah, Micha, Nahum, Habakkuk, Zepheniah, Haggai, Zachariah, and Malachi.  

The Old Testament books were first written in Hebrew language, spoken in Israel.
Những cuốn sách Cựu ước lần đầu được viết bằng tiếng Hi-bru, là ngôn ngữ được nói tại Israel.

The New Testament starts from the arrival of Jesus Christ into this world. It talks about the birth, life and teachings of Jesus, His death on the cross, and His resurrection on the third day, and prepares us for the second coming of Jesus Christ to take all the faithful, both dead and alive, to live forever with Him (Acts 1:11; 1 Thessalonians 4:13-18).
Tân Ước bắt đầu từ khi có sự xuất hiện của Chúa Giê Su tới với thế gian. Nó nói về sự sinh ra, cuộc đời và những lời dạy của Chúa Giê Su, cái chết của Ngài trên cây Thập tự và sự phục sinh của Ngài vào ngày thứ ba, và chuẩn bị cho chúng ta về lần tới thứ hai của Chúa Giê Su để mang đi tất cả những người tin kính Ngài, cả người đã chết lẫn người còn sống, để sống mãi mãi với Ngài  (Acts 1:11; 1 Thessalonians 4:13-18).

The New Testament highlights the love of God to us. Jesus said, ‘Come to me, all you that are weary and are carrying heavy burdens, and I will give you rest” (Matthew 11:28). All those who feel lonely, sad, depressed, sick, or whatever difficulties you are facing, come to Jesus. His love is unending. He is more than happy to forgive your sins and accept you as His child.
Tân Ước khắc họa tình yêu của Chúa cho chúng ta. Chúa Giê Su nói, “Hãy đến với ta, tất cả những người đau đớn và mang các gánh nặng, và ta sẽ cho các ngươi được nghỉ ngơi" (Matthew 11:28). Tất cả những ai cảm thấy cô đơn, buồn khổ, đau thương, bệnh tật hay bất kể khó khăn gì chúng ta gặp phải, hãy đến với Chúa Giê Su. Tình yêu thương của Chúa vô bờ bến. Ngài sẵn lòng tha thứ cho mọi tội lỗi của bạn và chấp nhận bạn như là con Ngài.

There are 27 books in the New Testament. They are: Matthew, Mark, Luke, John, Acts of Apostles, Romans, 1 Corinthians, 2 Corinthians, Galatians, Ephesians, Philippians, Colossians, 1 Thessalonians, 2 Thessalonians, 1 Timothy, 2 Timothy, Titus, Philemon, Hebrews, James, 1 Peter, 2 Peter, 1 John, 2 John, 3 John, Jude, and Revelations. The New Testament books were first written in Greek language.
Có 27 cuốn sách trong Tân Ước. Đó là: Matthew, Mark, Luke, John, Acts of Apostles, Romans, 1 Corinthians, 2 Corinthians, Galatians, Ephesians, Philippians, Colossians, 1 Thessalonians, 2 Thessalonians, 1 Timothy, 2 Timothy, Titus, Philemon, Hebrews, James, 1 Peter, 2 Peter, 1 John, 2 John, 3 John, Jude, and Revelations (Khải Huyền). Tân Ước được viết lần đầu tiên bằng tiếng Hy lạp.  

To summarise, the Old Testament is before the coming of Jesus Christ into this world; and the New Testament is after the coming of Jesus into this world.
Để tóm tắt lại, Cựu Ước là có từ thời trước khi có sự xuất hiện của Chúa Giê Su và Tân Ước là sau khi Chúa Giê Su giáng thế xuống trần.

    2.  What is a Church?
          Nhà thờ là gì?

People generally think that the Church is just a building where Christians pray. It is true. But at the same time it is more than that. Church is the House of God. It is where we feel the presence of God.
Mọi người thường nghĩ rằng Nhà thờ chỉ là một tòa nhà nơi mà những người theo Đạo Thiên Chúa cầu nguyện. Điều đó là đúng. Nhưng ý nghĩa của nó còn hơn thế. Nhà thờ là Nhà của Chúa. Đó là nơi chúng ta cảm nhận được sự hiện diện của Chúa.

The very first House of God was built by King Solomon in 10th century BC. But the beginning of the temple is much older than that (we will study in detail later). This temple is called the Temple of Jerusalem and is situated in Israel.
Ngôi nhà đầu tiên của Chúa được xây dựng bởi Vua Sô lô môn vào thế kỷ thứ 10 trước Công Nguyên. Nhưng sự bắt đầu của đền thờ thì có từ trước đó rất lâu (chúng ta sẽ nghiên cứu sau). Các đền thờ này được gọi là đền thờ Jerusalem và được đặt ở Israel.

After the death of Jesus Christ, and within a few years (70 A.D), this temple was destroyed. As of today, the Jews, the Christians and the Muslims claim for the temple.
Sau cái chết của Chúa Giê Su, và trong vòng vài năm (năm 70 sau Công Nguyên), đền thờ này đã bị phá hủy. Ngày nay, những người Do Thái, Thiên Chúa giáo và những người theo Đạo Hồi đều tranh giành quyền trên đền thờ này.

According to 1 Corinthians 3:16 every human being is a temple of God. It means that every individual is a Church because God lives inside us. 1 Corinthians 6: 19 says, our body is the temple of God which again means our body is a Church. Therefore, God lives inside our body.
Theo  1 Corinthians 3:16, mọi con người đều là đền thờ của Chúa. Điều đó có nghĩa là mọi cá thể đều là một nhà thờ bởi vì Chúa sống ở bên trong chúng ta. 1 Corinthians 6: 19 nói rằng, thân thể chúng ta là đền thờ của Chúa điều đó một lần nữa khẳng định rằng, thân thể của chúng ta là một Nhà thờ. Do đó, Chúa sống bên trong thân thể của chúng ta.

In short, every individual that has Jesus Christ in his/her life is a Church.
Nói tóm lại, mọi cá thể có Chúa Giê Su trong cuộc đời thì đều là một Nhà thờ.

3.      What is ‘Orthodox?
         Chính thống giáo là gì?

The word ‘Orthodox’ is a combination of two Greek words, orthos which means right, true, straight; and doxa which means faith. Therefore, Orthodox means ‘true faith’. The Orthodox church follows the right teachings of Jesus Christ without any changes or alterations or modifications.
Từ “Orthodox" là sự kết hợp của hai từ tiếng Hy lạp, orthos có nghĩa là “đúng" và doxa nghĩa là “niềm tin". Do đó, Orthodox có nghĩa là “niềm tin đúng". Nhà thờ Orthodox theo đuổi những lời dạy của Chúa Giê Su mà không có bất cứ sự thay đổi hay chỉnh sửa nào.

The Orthodox Church places its trust in the Holy Trinity (God the Father, God the Son and God the Holy Spirit) and confess that Jesus Christ is the Son of God who came down to save us.
Nhà thờ Orthodox đặt niềm tin vào Chúa Ba Ngôi (Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con tức Chúa Giê Su và Chúa Thánh Linh) và nhận rằng, Chúa Giê Su là con trai của Đức Chúa Trời là người đã giáng thế để cứu chúng ta.

The Church also seek the intercession of Saints such as Mary, the mother of Jesus Christ.
Nhà thờ cũng tìm kiếm sự cầu nguyện tương giao của các bậc Thánh như Đức Mẹ Mary, mẹ của Chúa Giê Su.

The Orthodox church also pray for the departed souls. We pray for our ancestors so that Lord may have mercy upon them. Our prayer is “O’ Lord God, please be kind and have mercy upon our ancestors, and accept them in heaven”.
Nhà thờ Chính thống giáo Orthodox cũng cầu nguyện cho những linh hồn đã khuất. Chúng ta cầu nguyện cho tổ tiên của chúng ta để Chúa có sự thương xót nhân từ với họ. Lời cầu nguyện của chúng ta như thế này “Ôi Chúa ơi, xin Chúa hãy thương xót và nhân từ với tổ tiên của chúng con và chấp nhận họ nơi thiên đàng"

Unlike the Catholic church which has only one global head, the Pope of Rome, the Orthodox church respects national identity. For example, in Russia, it is Russian Orthodox Church, in Greece, it is Greek Orthodox Church. Likewise, we have Coptic Orthodox Church of Egypt, Syrian Orthodox Church, Indian Orthodox Church, Ethiopian Orthodox Church, Romanian Orthodox Church and so on.
Không giống như Nhà thờ Công giáo chỉ có một người dẫn đầu trên toàn thế giới đó chính là Giáo Hoàng Roma, nhà thờ Orthodox tôn trọng các lãnh thổ. Ví dụ, ở Nga, đó là Nhà thờ Chính thống giáo Nga, ở Hy lạp, đó là Nhà thờ Chính thống giáo Hy lạp. Tương tự như vậy, chúng ta có Nhà thờ Chính thống giáo Ả rập, Nhà thờ Chính thống giáo Syria, Nhà thờ Chính thống giáo Ấn độ, Nhà thờ Chính thống giáo Ethiopia, Nhà thờ Chính thống giáo Romania vân vân…

Until now, Vietnam did not have an Orthodox Church. But now, we submit to Lord Jesus to establish the Vietnamese Orthodox Church.
Cho đến tận lúc này, Việt Nam vẫn chưa có Nhà thờ Chính thống giáo. Nhưng lúc này, chúng ta cầu nguyện và phó thác cho Chúa Giê Su để thành lập Nhà thờ Chính thống giáo Việt Nam.

Jesus Christ our Lord and Saviour. Have mercy upon us!!! Amen.
Chúa Giê Su, Chúa và Đấng cứu chuộc của chúng con. Xin hãy thương xót chúng con!!! Amen.



Saturday, July 15, 2023

Matthew 22:34-40: Điều răn lớn nhất

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Dear brothers and sisters in Christ,

In the last class, we studied Jesus' reply to the question about resurrection. Tonight, we study about the greatest commandment. Let us read Matthew 22:34-40. 

We already have seen that the Pharisees first approached Jesus with the question of paying taxes. Then the Sadducees came with the question about resurrection. After both of the groups failed, they now decided to hire a lawyer. This lawyer was a Pharisee. He thought that he could trap Jesus with a legal question. So he asked the tricky question which one is the greatest of all the commandments. 

Trong buổi trước, chúng ta đã nghiên cứu câu trả lời của Chúa Giê-su cho câu hỏi về sự sống lại. Tối nay, chúng ta học về điều răn lớn nhất. Chúng ta hãy đọc Ma-thi-ơ 22:34-40.

Chúng ta đã thấy rằng những người Pha-ri-si lần đầu tiên đến gặp Chúa Giê-su để hỏi về việc nộp thuế. Sau đó, những người Sa-đu-sê đến với câu hỏi về sự sống lại. Sau khi cả hai nhóm thất bại, giờ họ quyết định thuê luật sư. Luật sư này là một người Pha-ri-si. Anh ta nghĩ rằng anh ta có thể gài bẫy Chúa Giê-su bằng một câu hỏi hợp pháp. Vì vậy, anh ta đã hỏi một câu hỏi hóc búa rằng điều răn nào là lớn nhất trong tất cả các điều răn.

We know that there are ten commandments. All commandments are equally important. But if we look at each of the commandments it becomes clear that unless we have love in us, we cannot follow any of those commandments. Let us look at each of the commandments given in Exodus 20. The first commandment is given in vs. 1-3: I am the Lord your God….you shall have no other gods before me - If we go for other gods it means we do not love the true God. 

The second commandment is given in vs 4-5: You shall not make for yourself an idol…..you shall not bow down to them or worship them - These verses also talk about love for the true God. If we truly love God, we will not worship any idols. 

Chúng ta biết rằng có mười điều răn. Tất cả các điều răn đều quan trọng như nhau. Nhưng nếu chúng ta xem xét từng điều răn thì rõ ràng là nếu chúng ta không có tình yêu thương trong mình, chúng ta không thể tuân theo bất kỳ điều răn nào. Chúng ta hãy xem xét từng điều răn được đưa ra trong Xuất Ê-díp-tô Ký 20. Điều răn đầu tiên được đưa ra trong câu 1-3: Ta là Giê-hô-va Đức Chúa Trời của ngươi….ngươi sẽ không có thần nào khác trước mặt ta - Nếu chúng ta đi theo các thần khác, điều đó có nghĩa là chúng ta không yêu mến Thiên Chúa thật.

Điều răn thứ hai được đưa ra trong câu 4-5: Ngươi không được làm cho mình một thần tượng….. ngươi không được cúi lạy hoặc thờ lạy chúng - Những câu này cũng nói về tình yêu dành cho Đức Chúa Trời chân thật. Nếu chúng ta thực sự yêu mến Thiên Chúa, chúng ta sẽ không tôn thờ bất kỳ thần tượng nào.

The third commandment is given in vs. 7: You shall not make wrongful use of the name of the Lord your God. We will not misuse the name of our Lord if we love Him. 

The fourth commandment is given in vs. 8-11: Remember the Sabbath day and keep it Holy…. Sabbath is a day that we spend with our Lord. If we love our Lord, we will keep the day holy and spend the whole Sabbath day with Him. 

The fifth commandment is given in vs. 12: Honour your father and your mother- This verse talks about loving other people- in this case our parents. 

The sixth commandment is given in vs. 13: You shall not murder - This is also about loving other people. If we love others we will not kill them. 

The seventh commandment is given in vs. 14: You shall not commit adultery- This verse is also about loving our partners. If we love our partners we will not commit adultery. 

The eighth commandment is given in vs. 15: You shall not steal - If we love others we will not steal anything from them. 

The ninth commandment is given in vs. 16: You shall not bear false witness against your neighbour - It means, we need to love our neighbour. 

The tenth commandment is covered in vs. 17 You shall not covet your neighbour’s house; you shall not covet your neighbour’s wife, or male or female slave, or ox, or donkey, or anything that belongs to your neighbour- This verse also talks about the love for other people. 

Điều răn thứ ba được đưa ra trong câu 7: Ngươi không được lạm dụng danh Chúa là Thiên Chúa của ngươi. Chúng ta sẽ không lạm dụng danh Chúa của chúng ta nếu chúng ta yêu mến Ngài.

Điều răn thứ tư được đưa ra trong câu 8-11: Hãy nhớ ngày Sa-bát và giữ ngày ấy là Thánh…. Ngày Sabát là ngày mà chúng ta ở với Chúa của chúng ta. Nếu chúng ta yêu mến Chúa của mình, thì chúng ta sẽ giữ ngày thánh và dành cả ngày Sa Bát với Ngài.

Điều răn thứ năm được đưa ra trong câu 12: Thảo kính cha mẹ- Câu này nói về việc yêu thương người khác- trong trường hợp này là cha mẹ của chúng ta.

Điều răn thứ sáu được đưa ra trong câu 13: Ngươi không được giết người - Đây cũng là về việc yêu thương người khác. Nếu chúng ta yêu người khác, chúng ta sẽ không giết họ.

Điều răn thứ bảy được đưa ra trong câu 14: Ngươi không được ngoại tình- Câu này cũng nói về việc yêu thương bạn đời của chúng ta. Nếu chúng ta yêu bạn đời của mình, chúng ta sẽ không ngoại tình.

Điều răn thứ tám được đưa ra trong câu 15: Ngươi không được trộm cắp - Nếu chúng ta yêu thương người khác, chúng ta sẽ không lấy cắp bất cứ thứ gì của họ.

Điều răn thứ chín được đưa ra trong câu 16: Ngươi không được làm chứng dối hại người lân cận mình - Điều đó có nghĩa là chúng ta cần phải yêu người lân cận mình.

Điều răn thứ mười được đề cập trong câu 17 Ngươi chớ tham nhà láng giềng mình; Ngươi chớ tham vợ của kẻ lân cận mình, hoặc tôi trai tớ gái, hoặc bò lừa, hoặc bất cứ vật gì thuộc về kẻ lân cận mình.

If we summarise the ten commandments, we will discover that the first four commandments talk about loving the Lord. The remaining commandments talk about loving our fellow beings. Now if we go back to tonight’s passage, Jesus summarised the ten commandments into two. Jesus said, love your Lord with all your heart, all your soul, and all your mind. Also, love your neighbour in the same way as you love yourselves. 

We need to understand how to love God with our heart, soul, and mind. Is it easy? When can we have our heart fully committed in love to the Lord. You know that when we start a relationship, we say that I love you with all my heart and soul and mind. But after sometime, the love in our heart starts decreasing and diminishing. It slowly becomes half heart, quarter heart and finally no love. The  love proposition changes and the relationship ends in quarrel, divorce, fighting and enmity. 

Nếu chúng ta tóm tắt mười điều răn, chúng ta sẽ khám phá ra rằng bốn điều răn đầu tiên nói về việc yêu mến Chúa. Các điều răn còn lại nói về việc yêu thương đồng loại. Bây giờ, nếu chúng ta quay trở lại đoạn văn tối nay, Chúa Giê-su đã tóm tắt mười điều răn thành hai. Chúa Giê-su nói, hãy yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Ngoài ra, hãy yêu người lân cận của bạn giống như cách bạn yêu chính mình.

Chúng ta cần hiểu thế nào là yêu mến Thiên Chúa bằng trái tim, linh hồn và tâm trí của mình. Nó có dễ không? Khi nào chúng ta có thể hoàn toàn phó thác lòng mình trong tình yêu cho Chúa. Bạn biết rằng khi chúng ta bắt đầu một mối quan hệ, chúng ta nói rằng tôi yêu bạn bằng cả trái tim, tâm hồn và khối óc. Nhưng sau một thời gian, tình yêu trong trái tim chúng ta bắt đầu giảm dần và giảm dần. Nó dần dần trở thành một nửa trái tim, một nửa trái tim và cuối cùng là không có tình yêu. Sau đó tình yêu thay đổi và mối quan hệ kết thúc trong cãi vã, ly hôn, đánh nhau và thù hận.

Jesus said love one another exactly the same way as I have loved you. Let us read John 13:34: I give you a new commandment, that you love one another. Just as I have loved you, you also should love one another. There is a difference between how Jesus loves us and how we love one another. I said that we start loving someone with all our hearts but the degree of love keeps declining. But if we love someone in the same way as Jesus loves us, then our love will keep increasing day after day. It means the intensity of love keeps increasing as days pass. Have you ever experienced this kind of love in your heart, soul, or mind? It can only happen when as Jesus said love your God with all of your heart, soul and mind. 

Chúa Giêsu nói hãy yêu thương nhau như Thầy đã yêu thương anh em. Chúng ta hãy đọc Giăng 13:34: Ta ban cho các ngươi một điều răn mới, là các ngươi phải yêu nhau. Như Thầy đã yêu các con, các con cũng hãy yêu thương nhau. Có một sự khác biệt giữa cách Chúa Giêsu yêu thương chúng ta và cách chúng ta yêu thương nhau. Tôi nói rằng chúng ta bắt đầu yêu ai đó bằng cả trái tim nhưng mức độ yêu cứ giảm dần. Nhưng nếu chúng ta yêu ai đó giống như cách Chúa Giêsu yêu chúng ta, thì tình yêu của chúng ta sẽ không ngừng gia tăng ngày qua ngày. Nó có nghĩa là cường độ của tình yêu không ngừng tăng lên khi ngày tháng trôi qua. Bạn đã bao giờ trải nghiệm loại tình yêu này trong trái tim, linh hồn hay tâm trí của bạn chưa? Điều đó chỉ có thể xảy ra khi như Chúa Giê-su đã nói, hãy yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí óc.

Loving God is easier said than done. It means we can say that we love the Lord, but in practice, it is not actually easy. The reason is because we have never seen the Lord. We love our parents because we have been seeing them since our birth. In the same way, we love our siblings, partners and so on because we see them, talk to them, and know them very well. It means we have an emotional attachment with them. But, how can we have an emotional attachment with someone whom we have never seen. And without any emotional attachment how can we love God? Therefore, if we have to love the Lord, we need to develop an emotional bond with the Lord. 

Yêu Chúa thì nói dễ hơn làm. Điều đó có nghĩa là chúng ta có thể nói rằng chúng ta yêu mến Chúa, nhưng trên thực tế, điều đó không thực sự dễ dàng. Lý do là vì chúng ta chưa bao giờ thấy Chúa. Chúng ta yêu cha mẹ của chúng ta bởi vì chúng ta nhìn thấy họ kể từ khi chúng ta sinh ra. Tương tự như vậy, chúng ta yêu thương anh chị em, bạn đời của mình, v.v... bởi vì chúng ta nhìn thấy họ, nói chuyện với họ và biết rất rõ về họ. Nó có nghĩa là chúng ta có một tình cảm gắn bó với họ. Nhưng, làm sao chúng ta có thể có tình cảm gắn bó với một người mà chúng ta chưa từng gặp mặt. Và không có tình cảm gắn bó thì làm sao chúng ta có thể yêu Chúa được? Vì vậy, nếu chúng ta phải yêu mến Chúa, chúng ta cần phát triển mối dây tình cảm với Chúa.

We read in Acts 2: 14-47 about Saint Peter’s emotional speech. It is a lengthy passage which you can read later. In this passage we read that Saint Peter and other disciples were first filled with the Holy Spirit. It was the day of Pentecost. We celebrated Pentecost two weeks back. After being filled with the Holy Spirit, Saint Peter stood up with other disciples and started speaking. He first testified the Holy Spirit and the fulfilment of the prophecy. Then Saint Peter started talking about Jesus Christ. He testified about all what Jesus did including His power, deeds and signs. After that, he started talking about the most serious crime that the people have committed. He said, you crucified and killed Jesus. But God the Father raised Him from the dead, and we the disciples are witness to His resurrection. It was at this point that those who were listening to Saint Peter were caught up in their emotions. Let us read vs. 37: Now when they heard this, they were cut to the heart and said to Peter and to other apostles, Brothers, what should we do? As this verse says, they were cut to the heart. This cutting of heart happened first of all because Saint Peter spoke filled with the Holy Spirit. In other words, it is the Holy Spirit that prompts us to have our heart ready for loving the Lord. This is what we read in vs.38 Peter said to them, repent and be baptised every one of you in the name of Jesus Christ so that your sins may be forgiven; and you will receive the gift of the Holy Spirit. Secondly, when we are able to feel and experience in our heart the way Jesus loves us and gave His life as ransom for our sins, we will be able to have our heart moved. 

Chúng ta đọc trong Công Vụ Các Sứ Đồ 2:14-47 về bài diễn văn xúc động của Thánh Phi-e-rơ. Đó là một đoạn văn dài mà bạn có thể đọc sau. Trong đoạn này, chúng ta đọc thấy rằng Thánh Phêrô và các môn đệ khác lần đầu tiên được tràn đầy Chúa Thánh Thần. Đó là ngày Lễ Ngũ Tuần. Chúng tôi đã cử hành Lễ Ngũ Tuần cách đây hai tuần. Sau khi được tràn đầy Chúa Thánh Thần, Thánh Phêrô đứng dậy cùng với các môn đệ khác và bắt đầu nói. Đầu tiên ông làm chứng về Đức Thánh Linh và sự ứng nghiệm của lời tiên tri. Sau đó, Thánh Peter bắt đầu nói về Chúa Giêsu Kitô. Ông làm chứng về tất cả những gì Chúa Giê-xu đã làm kể cả quyền năng, việc làm và dấu lạ của Ngài. Sau đó, ông bắt đầu nói về tội ác nghiêm trọng nhất mà người dân đã phạm phải. Ông nói, các người đã đóng đinh và giết Chúa Giêsu. Nhưng Đức Chúa Cha đã khiến Ngài từ kẻ chết sống lại, và chúng ta, các môn đồ, là nhân chứng cho sự sống lại của Ngài. Chính tại thời điểm này, những người đang lắng nghe Thánh Peter đã bị cuốn theo cảm xúc của họ. Chúng ta hãy đọc câu 37: Nghe vậy, họ đau lòng lắm, nói cùng Phi-e-rơ và các sứ đồ khác rằng: Hỡi anh em, chúng tôi phải làm gì? Như câu này nói, họ đã bị cắt vào tim. Việc cắt lòng này xảy ra trước hết vì thánh Phêrô đã nói lời đầy Chúa Thánh Thần. Nói cách khác, chính Chúa Thánh Thần thúc đẩy chúng ta chuẩn bị tâm hồn để yêu mến Chúa. Đây là những gì chúng ta đọc trong câu 38 Phi-e-rơ nói với họ, hãy ăn năn và mỗi người trong các ngươi phải nhân danh Chúa Giê-xu Christ chịu phép báp têm để tội lỗi của các ngươi được tha thứ; và bạn sẽ nhận được món quà của Chúa Thánh Thần. Thứ hai, khi chúng ta có thể cảm nhận và trải nghiệm trong lòng cách Chúa Giê-su yêu thương chúng ta và phó mạng sống của Ngài làm giá chuộc tội lỗi chúng ta, chúng ta sẽ có thể động lòng.

In other words, we can only love the Lord with all our heart, all our soul, and all our mind only when we have deep repentance in our lives. True and divine love is planted in our hearts by the Holy Spirit at the time of baptism. After this, our love life changes completely. The evidence for this revolutionary change in our love life is given in vs. 44-47: All who believed were together and had all things in common; they would sell their possessions and goods and distribute the proceeds to all, and any had need. Day by day, as they spent much time together in the temple, they broke bread at home and ate their food with glad and generous hearts, praising God and having the goodwill of all the people. And day by day the Lord added to their number those who were being saved. 

Nói cách khác, chúng ta chỉ có thể yêu Chúa hết lòng, hết linh hồn, hết trí khôn khi chúng ta có sự ăn năn sâu sắc trong đời sống mình. Tình yêu đích thực và thiêng liêng được Chúa Thánh Thần gieo vào lòng chúng ta khi chịu phép rửa tội. Sau chuyện này, đời sống tình cảm của chúng tôi thay đổi hoàn toàn. Bằng chứng cho sự thay đổi mang tính cách mạng này trong đời sống tình cảm của chúng ta được đưa ra trong các câu 44-47: Tất cả những ai tin tưởng đều ở cùng nhau và có mọi thứ chung; họ sẽ bán tài sản và hàng hóa của mình và phân phát số tiền thu được cho tất cả mọi người, và bất kỳ ai có nhu cầu. Ngày qua ngày, khi cùng nhau dành nhiều thời gian trong đền thờ, họ bẻ bánh ở nhà và dùng bữa với tấm lòng vui vẻ và quảng đại, ngợi khen Đức Chúa Trời và thiện chí của mọi người. Và ngày qua ngày Chúa thêm vào số họ những người được cứu.

In these verses we see the quality of loving with all our heart. In their wholehearted love, those people did not bother about anything else including their property and goods. Instead, they just wanted to be with the Lord. Moreover, among themselves, the love was so pure and holy. That is the quality of love that we need. The quality of pure love is listed in 1 Corinthians 13: 4-7 Love is patient; love is kind; love is not envious or boastful or arrogant or rude. It does not insist on its own way; it is not irritable or resentful; it does not rejoice in wrongdoing, but rejoices in the truth. It bears all things, believes all things, hopes all things, endures all things. 

Trong những câu này, chúng ta thấy phẩm chất của việc yêu thương hết lòng. Trong tình yêu thương hết lòng, những người đó không bận tâm đến bất cứ điều gì khác kể cả tài sản và của cải của họ. Thay vào đó, họ chỉ muốn ở với Chúa. Hơn nữa, giữa họ, tình yêu rất trong sáng và thánh thiện. Đó là phẩm chất của tình yêu mà chúng ta cần. Phẩm chất của tình yêu thương thuần khiết được liệt kê trong 1 Cô-rinh-tô 13:4-7 Tình yêu thương hay nhịn nhục, tình yêu thương hay nhân từ, tình yêu thương không ghen tị, không khoe mình, không kiêu ngạo, không cư xử trái lẽ, không kiếm tư lợi, không nhạy giận, không nuôi dưỡng điều dữ, không vui về điều bất công, nhưng vui trong sự thật. Tình yêu thương hay dung thứ mọi sự, tin mọi sự, hy vọng mọi sự, chịu đựng mọi sự.

The lesson that we learn is that we have to thoroughly wash our heart, soul and mind to love God. That is also the most important of the commandment as Jesus said. Connecting to 1 Corinthians 13:4-7 we need to wash out all those things listed in these verses. We have to wash out impatience from our heart, we have to wash out unkindness, we have to wash out envy, boastfulness, arrogance, and rudeness from our heart. We stop being irritable, and also stop enjoying wrongdoings and wrong things. We instead need to fill our hearts with the truth about God and hope in God with endurance. By practising these, we will automatically be practising to love God with all our hearts, all our souls, and all our minds. Simultaneously, we will be practising loving our neighbours in the same way. 

Bài học mà chúng ta học được là chúng ta phải rửa sạch tâm hồn và tâm trí mình để yêu mến Thiên Chúa. Đó cũng là điều quan trọng nhất của điều răn như Chúa Giêsu đã nói. Kết nối với 1 Cô-rinh-tô 13:4-7, chúng ta cần rửa sạch tất cả những điều được liệt kê trong những câu này. Chúng ta phải gột rửa tính nóng nảy khỏi lòng mình, chúng ta phải gột rửa tính không tử tế, chúng ta phải gột rửa lòng đố kỵ, khoe khoang, kiêu căng và thô lỗ. Chúng ta ngừng cáu kỉnh, và cũng ngừng thích thú với những điều sai trái và thiếu đạo đức. Thay vào đó, chúng ta cần lấp đầy lòng mình bằng lẽ thật về Đức Chúa Trời và hy vọng nơi Ngài với sự kiên trì. Bằng cách thực hành những điều này, chúng ta sẽ tự động tập yêu mến Thiên Chúa hết lòng, hết linh hồn và hết trí khôn. Đồng thời, chúng ta sẽ thực tập yêu thương những người lân cận của mình theo cách tương tự.

Therefore, let us make a difference in our lives, and in the lives of others. Through the love of God, we will be able to win the hearts of other people as well.

Vì vậy, chúng ta hãy tạo ra sự khác biệt trong cuộc sống của chúng ta và cuộc sống của những người khác. Nhờ tình yêu của Chúa, chúng ta cũng sẽ có thể chiếm được cảm tình của người khác. 

May God bless us.

Amen. 

 

 

Matthew 22:23-33 Câu hỏi về sự phục sinh

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

In the last class, we studied Jesus' reply on the question of paying taxes.  Tonight, we cover the following passage. Let us read Matthew 22:23-33. 

This passage is on the question about resurrection. The Sadducees were a group within the Jewish religion. They also worked closely with the Pharisees. But there was a slight difference in their beliefs. The Pharisees believed in the resurrection of the dead but the Sadducess did not believe in resurrection. I have explained about the Sadducees earlier. They were a group of aristocratic families, priests and merchants. As they were mostly business families, their focus was on money. They were wealthy and they enjoyed the luxuries of life. The main difference between the Pharisees and the Sadducees is given in Act 23:8 The Sadducees say that there is no resurrection, or angel, or spirit; but the Pharisees acknowledge all three. 

Trong buổi học trước, chúng ta đã nghiên cứu câu trả lời của Chúa Giê-su về vấn đề nộp thuế. Tối nay, chúng ta sẽ học đoạn văn sau đây. Chúng ta hãy đọc Ma-thi-ơ 22:23-33.

Đoạn này nói về câu hỏi về sự sống lại. Người Sa-đu-sê là một nhóm trong tôn giáo Do Thái. Họ cũng hợp tác chặt chẽ với người Pha-ri-si. Nhưng có một sự khác biệt nhỏ trong niềm tin của họ. Người Pha-ri-si tin có sự sống lại của kẻ chết nhưng người Sa-đu-sê không tin có sự sống lại. Tôi đã giải thích về người Sa-đu-sê trước đó. Họ là một nhóm các gia đình quý tộc, linh mục và thương nhân. Vì họ chủ yếu là những gia đình kinh doanh nên trọng tâm của họ là tiền bạc. Họ giàu có và họ tận hưởng cuộc sống xa hoa. Sự khác biệt chính giữa người Pha-ri-si và người Sa-đu-sê được đưa ra trong Công vụ 23:8 Người Sa-đu-sê nói rằng không có sự sống lại, thiên sứ hay thần linh; nhưng người Pharisi thừa nhận cả ba.

As per their belief, the Sadducees only believed in a life in this world. So their motto was to enjoy life to the maximum. If we believe in this life only, we can imagine what are all the things that we will be thinking everyday. For example, we will be thinking of how much money can I make in this life, what are all the things I want to enjoy in this life and so on. So it is obvious that such people plan for their life by way of a good job or business, a good house, a good marriage, children and so on. Jesus cautioned about this attitude to life in Luke 12: 16-21 (please read). We have read this parable of the rich fool earlier as well. Jesus clearly said here that if you want to be rich, do not depend on the richness of this world. Instead, you should be rich toward God. 

Theo niềm tin của họ, người Sa-đu-sê chỉ tin vào một cuộc sống trên thế giới này. Vì vậy, phương châm của họ là tận hưởng cuộc sống đến mức tối đa. Nếu chúng ta chỉ tin vào cuộc sống này, chúng ta có thể hình dung tất cả những điều mà chúng ta sẽ suy nghĩ hàng ngày là gì. Ví dụ, chúng ta sẽ nghĩ về việc tôi có thể kiếm được bao nhiêu tiền trong cuộc đời này, tất cả những điều tôi muốn tận hưởng trong cuộc đời này là gì, v.v. Vì vậy, rõ ràng là những người như vậy lên kế hoạch cho cuộc sống của họ bằng cách có một công việc tốt hoặc một công việc kinh doanh tốt, một ngôi nhà tốt, một cuộc hôn nhân tốt đẹp, con cái, v.v. Chúa Giê-xu đã cảnh báo về thái độ sống này trong Lu-ca 12:16-21 (xin đọc). Chúng ta cũng đã đọc câu chuyện ngụ ngôn về người giàu có ngu ngốc này trước đó. Chúa Giê-xu đã nói rõ ràng ở đây rằng nếu bạn muốn giàu có thì đừng phụ thuộc vào sự giàu có của thế gian này. Thay vào đó, bạn nên giàu có nơi Đức Chúa Trời.

So the question then is how can we be rich toward God. Simple answer would be whatever is valuable in the Kingdom of God is what richness toward God is. Imagine that you have 100 billion Vietnam Dong in your bag. And you come to Australia with that money. You go shopping and try to pay in VN Dong. But no shop is going to accept the VN Dong in Australia. You are rich in Vietnam but that does not mean you are equally rich in Australia. If you want to shop in Australia you will need Australian dollars. In the same way, you may have wealth, beauty, and possessions in this world. But none of these are going to be of any use in the KIngdom of God. That is why, we say that when we die, we are not going to take any of the worldly possessions with us. 

Vì vậy, câu hỏi đặt ra là làm thế nào chúng ta có thể giàu có nơi Đức Chúa Trời. Câu trả lời đơn giản sẽ là bất cứ điều gì có giá trị trong Vương quốc của Đức Chúa Trời là sự giàu có đối với Đức Chúa Trời. Hãy tưởng tượng bạn có 100 tỷ đồng Việt Nam trong túi. Và bạn đến Úc với số tiền đó. Bạn đi mua sắm và cố gắng thanh toán bằng đồng Việt Nam. Nhưng không có cửa hàng nào chấp nhận Đồng Việt Nam tại Úc. Bạn giàu ở Việt Nam nhưng điều đó không có nghĩa là bạn giàu như ở Úc. Nếu bạn muốn mua sắm ở Úc, bạn sẽ cần đô la Úc. Tương tự như vậy, bạn có thể có của cải, sắc đẹp và tài sản trong thế giới này. Nhưng không cái nào trong số này sẽ được sử dụng trong Vương quốc của Đức Chúa Trời. Đó là lý do tại sao chúng ta nói rằng khi chết, chúng ta sẽ không mang theo bất kỳ của cải thế gian nào với mình.

Hence Jesus said, as we studied in Matthew 6:19-21 Do not store up for yourselves treasures on earth, where moth and rust consume and where thieves break in and steal; but store up for yourselves treasures in heaven, where neither moth nor rust consumes and where thieves do not break in and steal. For where your treasure is, there your heart will be also. Do not misunderstand that we should not earn money at all. That is not what the words of Jesus mean. We should never fill our hearts with the treasures of this world. Instead, we should always aim to have our heart hooked to the treasures in the Kingdom of God. 

Do đó, Chúa Giê-su đã nói, khi chúng ta nghiên cứu trong Ma-thi-ơ 6:19-21 Các con đừng tích trữ của cải ở dưới đất, là nơi có mối mọt, ren rỉ làm hư và kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Nhưng hãy tích trữ của cải ở trên trời, là nơi không có mối mọt, ten rỉ làm hư, cũng chẳng có kẻ trộm đào ngạch, khoét vách mà lấy. Vì của cải các con ở đâu thì lòng các con ở đó. Đừng hiểu lầm rằng chúng ta không nên kiếm tiền. Đó không phải là ý nghĩa của những lời của Chúa Giêsu. Chúng ta đừng bao giờ lấp đầy trái tim mình bằng những kho báu của thế giới này. Thay vào đó, chúng ta nên luôn nhắm đến việc gắn kết lòng mình với kho báu trong Nước Đức Chúa Trời.

So what are all the things that make us rich toward God? Of course it is our faith and hope in God that makes us rich. In Hebrews 11: 24-26 we read about the difference between worldly richness and richness in God. Let us read. These words talk about Moses the leader of Israel. Moses was brought up in the King’s palace. He was the adopted grandson of the King but was originally an Israelite. He could continue living in the palace enjoying all the worldly pleasures that a royal family enjoyed. But when he was called by God, Moses decided to leave the palace and follow the Lord. As I said, there is nothing wrong with having money. But the question is when we have to choose between money and God, what would we choose? Are we going to deny God for money or do we have the mental courage to deny money and accept the Lord? We studied Matthew 10:32-33 earlier. Let us read again: Everyone therefore who acknowledges Me before others, I also will acknowledge before My Father in heaven; but whoever denies Me before others, I also will deny before My Father in heaven. Have you ever thought what would happen if we were denied by Jesus after death? Where would our spirit go? We cannot even think of such a situation where our spirit will be wandering without any place to rest. To avoid such a tragic life after death, we need to be rich in faith and hope in Christ. 

Vì vậy, tất cả những điều làm cho chúng ta giàu có đối với Thiên Chúa là gì? Dĩ nhiên, chính đức tin và hy vọng của chúng ta nơi Đức Chúa Trời làm cho chúng ta giàu có. Trong Hê-bơ-rơ 11:24-26, chúng ta đọc về sự khác biệt giữa giàu có thế gian và giàu có trong Chúa. Hãy đọc. Những lời này nói về Môi-se, người lãnh đạo của Y-sơ-ra-ên. Môi-se được nuôi dưỡng trong cung điện của Vua. Ông là cháu nuôi của Quốc vương nhưng vốn là người Israel. Ông hoàn toàn có thể tiếp tục sống trong cung điện hưởng thụ mọi thú vui trần tục mà một gia đình hoàng gia được hưởng. Nhưng khi được Chúa gọi, Môsê đã quyết định bỏ cung điện mà theo Chúa. Như tôi đã nói, không có gì sai khi có tiền. Nhưng vấn đề là khi phải chọn lựa giữa tiền bạc và Thiên Chúa, chúng ta sẽ chọn điều gì? Chúng ta sẽ từ chối Chúa vì tiền hay chúng ta có đủ can đảm để từ chối tiền và tin nhận Chúa? Chúng ta đã nghiên cứu Ma-thi-ơ 10:32-33 trước đó. Chúng ta hãy đọc lại: Vậy ai nhận biết Ta trước mặt người khác, thì Ta cũng sẽ nhận biết trước mặt Cha Ta ở trên trời; nhưng ai chối Ta trước mặt người khác, thì Ta cũng sẽ chối trước mặt Cha Ta ở trên trời. Bạn có bao giờ nghĩ điều gì sẽ xảy ra nếu chúng ta bị Chúa Giê-su chối bỏ sau khi chết không? Linh hồn của chúng ta sẽ đi về đâu? Chúng ta thậm chí không thể nghĩ đến một tình huống mà linh hồn của chúng ta sẽ lang thang không có nơi nào để nghỉ ngơi. Để tránh một cuộc sống bi thảm như vậy sau cái chết, chúng ta cần phải giàu niềm tin và hy vọng vào Chúa Kitô.

So the next question is how can we develop faith in God. The answer is given in Romans 10: 17 So faith comes from what is heard, and what is heard comes through the word of Christ. There are people who are lazy and instead of reading the Bible, they use the audio Bible online. That is not the hearing that is said in this verse. The verse says hearing is through the Word of Christ. It means when we read the Bible and meditate on the verses, we hear an inner voice. That inner voice is the word of Christ. So, do not interpret that the Bible says faith comes from hearing so I am listening to audio Bible. Our faith keeps on increasing everyday as we get to hear our inner voice from our Lord. 

Vì vậy, câu hỏi tiếp theo là làm thế nào chúng ta có thể phát triển đức tin nơi Đức Chúa Trời. Câu trả lời được đưa ra trong Rô-ma 10:17 Vì vậy, đức tin đến từ những gì được nghe, và những gì được nghe đến là nhờ lời của Đấng Christ. Có những người lười biếng và thay vì đọc Kinh thánh, họ sử dụng Kinh thánh âm thanh trực tuyến. Đó không phải là cái nghe được nói trong bài kệ này. Câu này nói nghe là nhờ Lời của Đấng Christ. Điều đó có nghĩa là khi chúng ta đọc Kinh thánh và suy ngẫm về những câu Kinh thánh, chúng ta nghe thấy tiếng nói bên trong. Tiếng nói bên trong đó là lời của Chúa Giê Su Kitô. Vì vậy, đừng giải thích rằng Kinh thánh nói rằng đức tin đến từ việc nghe, vì vậy tôi đang nghe Kinh thánh âm thanh. Đức tin của chúng ta tiếp tục gia tăng mỗi ngày khi chúng ta nghe được tiếng nói bên trong của mình từ Chúa.

Another form of laziness is just reading the Bible once a week or once a month. If you are familiar with the Bible, you are also familiar with the voice of Jesus that you hear in the form of your inner voice. When I ask you to read sections from the Bible, how quick are you to open that section? There is only one person who is quick enough to open the section and read. Others are quiet which means you are not reading the Bible regularly and you do not know where that section is. If you are a regular reader, you will be very fast in reading that section. From next class onwards, I want to see everyone quick enough to open the section that I quote and read. In short, it is the hope and it is the faith in Christ that will make us rich. 

Một hình thức lười biếng khác là chỉ đọc Kinh Thánh mỗi tuần một lần hoặc mỗi tháng một lần. Nếu bạn quen thuộc với Kinh thánh, bạn cũng quen thuộc với tiếng nói của Chúa Giê-su mà bạn nghe thấy dưới hình thức tiếng nói nội tâm của bạn. Khi tôi yêu cầu bạn đọc các phần trong Kinh thánh, bạn mở phần đó nhanh đến mức nào? Chỉ có một người đủ nhanh để mở phần đó và đọc. Những người khác im lặng, điều đó có nghĩa là bạn không đọc Kinh thánh thường xuyên và bạn không biết phần đó ở đâu. Nếu bạn là người đọc thường xuyên, bạn sẽ đọc phần đó rất nhanh. Từ buổi học tiếp theo trở đi, tôi muốn thấy mọi người đủ nhanh để mở phần mà tôi trích dẫn và đọc. Nói tóm lại, chính niềm hy vọng và chính niềm tin vào Chúa Kitô sẽ làm cho chúng ta trở nên giàu có.

Faith and hope both apply to our future. For example, we all worry about our future. It is a human thing. But, if you have faith in God, your worries will not cause troubles for you. If you do not have faith, then you will keep worrying about your future and have trouble sleeping. Your physical and mental health gets affected by your worries and anxieties. Likewise, if we have faith, we also have hope. If we do not have faith, we cannot hope for anything good in life. 

Coming back to our topic, the Sadducees did not believe in resurrection. But still they are asking Jesus about resurrection. If they did not believe in resurrection, they should not have asked Jesus a question about resurrection. So the purpose of asking the question was just to test Jesus. One of the biggest traps that the devil plants in our minds is unbelief. We have studied in Matthew 13:58 that God cannot work when there is unbelief: And He did not do many deeds of power there, because of their unbelief. 

Niềm tin và hy vọng đều áp dụng cho tương lai của chúng ta. Ví dụ, tất cả chúng ta đều lo lắng về tương lai của mình. Đó là một điều của con người. Nhưng, nếu bạn có niềm tin vào Chúa, những lo lắng của bạn sẽ không gây rắc rối cho bạn. Nếu bạn không có niềm tin, thì bạn sẽ luôn lo lắng về tương lai của mình và khó ngủ. Sức khỏe thể chất và tinh thần của bạn bị ảnh hưởng bởi những lo lắng và hồi hộp của bạn. Tương tự như vậy, nếu chúng ta có niềm tin, chúng ta cũng có hy vọng. Nếu chúng ta không có niềm tin, chúng ta không thể hy vọng bất cứ điều gì tốt đẹp trong cuộc sống.

Trở lại chủ đề của chúng ta, người Sa-đu-sê không tin có sự sống lại. Nhưng họ vẫn đang hỏi Chúa Giêsu về sự sống lại. Nếu họ không tin có sự sống lại, họ không nên hỏi Chúa Giê-xu về sự sống lại. Vì vậy, mục đích của việc đặt câu hỏi chỉ là để thử Chúa Giêsu. Một trong những cái bẫy lớn nhất mà ma quỷ gài vào tâm trí chúng ta là sự vô tín. Chúng ta đã nghiên cứu trong Ma-thi-ơ 13:58 rằng Đức Chúa Trời không thể làm việc khi có sự vô tín: Và Ngài đã không làm nhiều việc quyền năng ở đó, vì sự vô tín của họ.

Only those who believe in baptism can understand the power of resurrection. Through baptism we die with Christ and resurrect with Christ. Dying with Christ means, in the same way as Jesus carried our sins and died on the cross, we carry our sins with Jesus and die of sins. This is the first part of baptism. In the second part, in the same way as Jesus resurrected from death, we also resurrect with Jesus from our sins. Immediately after dying for sins, the Holy Spirit starts working inside us. It is the Holy Spirit that raises us from death as we read in Romans 8:10-11. 

The devil plants the argument in us saying that whether you are rich or poor, you die. Whether you follow the Lord or not, you still die. Whether you pray, read the Bible, observe Lent or not, you still die. Whether you sin or live without sin, you die. So what is the point? Just enjoy your life and do not waste time praying and avoiding the passions of the flesh. These are all the unbeliefs that the devil tries to make us believe. The Sadducees were thus following this trap. For them marrying and remarrying, again and again, was the most important thing because they wanted to enjoy their flesh. Moreover, they thought, even if there is a resurrection, they can still continue enjoying the flesh. 

Chỉ những ai tin vào phép rửa tội mới hiểu được quyền năng của sự sống lại. Nhờ phép rửa tội, chúng ta chết với Chúa Kitô và phục sinh với Chúa Kitô. Chết với Chúa Kitô có nghĩa là, giống như Chúa Giêsu mang tội lỗi của chúng ta và chết trên thập tự giá, chúng ta mang tội lỗi của mình với Chúa Giêsu và chết vì tội lỗi. Đây là phần đầu tiên của lễ rửa tội. Trong phần thứ hai, giống như Chúa Giêsu đã sống lại từ cái chết, chúng ta cũng sống lại với Chúa Giêsu từ tội lỗi của chúng ta. Ngay sau khi chết vì tội lỗi, Chúa Thánh Thần bắt đầu hoạt động bên trong chúng ta. Chính Đức Thánh Linh đã khiến chúng ta sống lại từ sự chết như chúng ta đọc trong Rô-ma 8:10-11.

Ma quỷ đặt lý lẽ trong chúng ta rằng dù bạn giàu hay nghèo, bạn đều chết. Dù bạn có theo Chúa hay không, bạn vẫn chết. Cho dù bạn cầu nguyện, đọc Kinh thánh, tuân giữ Mùa Chay hay không, bạn vẫn chết. Cho dù bạn phạm tội hay sống không phạm tội, bạn sẽ chết. Vậy vấn đề là gì? Chỉ cần tận hưởng cuộc sống của bạn và đừng lãng phí thời gian cầu nguyện và tránh xa những đam mê của xác thịt. Đây là tất cả những điều không tin mà ma quỷ cố làm cho chúng ta tin. Do đó, người Sa-đu-sê đã đi theo cái bẫy này. Đối với họ, kết hôn và tái hôn hết lần này đến lần khác là điều quan trọng nhất vì họ muốn tận hưởng xác thịt của mình. Hơn nữa, họ nghĩ rằng, ngay cả khi có sống lại, họ vẫn có thể tiếp tục vui hưởng xác thịt.

As we just read in Romans 8:10 But if Christ is in you, though the body is dead because of sin, the Spirit is life because of righteousness. Because, we have a sinful body, no matter whether we are saints or sinners, we will die. The question is what happens after we die. As we just read, we continue living in spirit if we have accepted Jesus Christ as our Lord and Savior. That happens through baptism. Jesus made this very clear as we read in tonight’s passage. Let us read vs. 29-32 once again. 

After death, our body gets decayed in soil. But our spirit never decays. We become like angels in heaven. In the same way angels do not have a body like us, we also will not have a body after death. If you do not have a human body, how are you going to live as husband and wife in heaven? Jesus made this clear that there is no husband and wife, parents and children, or any such kind of relationships in heaven. Everyone will be like angels and serve the Lord. In order to prove that Jesus quoted a verse from Exodus 3:6 He said further, I am the God of your father, the God of Abraham, the God of Isaac, and the God of Jacob…. This verse is said in present tense, which means Abraham, Isaac, and Jacob are still living even though they physically died thousands of years ago. 

Như chúng ta vừa đọc trong Rô-ma 8:10 Vậy nếu Đấng Christ ở trong an hem, thì dù thân thể an hem chết vì tội lỗi, tâm linh anh em vẫn sống nhờ sự công chính. Bởi vì, chúng ta mang thân xác tội lỗi, dù là thánh nhân hay tội nhân rồi cũng sẽ chết. Câu hỏi đặt ra là điều gì sẽ xảy ra sau khi chúng ta chết. Như chúng ta vừa đọc, chúng ta tiếp tục sống trong tinh thần nếu chúng ta đã chấp nhận Chúa Giê Su Ky Tô là Chúa và Cứu Chúa của chúng ta. Điều đó xảy ra qua phép báp têm. Chúa Giê-xu đã làm rõ điều này khi chúng ta đọc đoạn Kinh Thánh tối nay. Chúng ta hãy đọc lại câu 29-32 một lần nữa.

Sau khi chết, cơ thể chúng ta bị phân hủy trong đất. Nhưng tinh thần của chúng ta không bao giờ suy tàn. Chúng ta trở nên giống như những thiên thần trên thiên đàng. Cũng vậy, thiên thần không có thân xác như chúng ta, chúng ta cũng sẽ không có thân xác sau khi chết. Nếu không có thân người thì làm sao chung sống như vợ chồng trên trời? Chúa Giê-su nói rõ rằng không có vợ chồng, cha mẹ và con cái hay bất kỳ mối quan hệ nào như vậy trên thiên đàng. Mọi người sẽ giống như các thiên thần và phục vụ Chúa. Để chứng minh rằng Chúa Giê-su trích dẫn một câu từ Xuất Ê-díp-tô Ký 3:6, Ngài nói thêm: Ta là Đức Chúa Trời của tổ phụ ngươi, Đức Chúa Trời của Áp-ra-ham, Đức Chúa Trời của Y-sác và Đức Chúa Trời của Gia-cốp…. Câu này được nói ở thì hiện tại, có nghĩa là Áp-ra-ham, Y-sác và Gia-cốp vẫn đang sống mặc dù họ đã chết về thể xác hàng ngàn năm trước.

The lesson for us is never get trapped in the teachings of the devil that there is only one life. It is wrong because there is a life after death. The life in this world is short, but the life after our death is long and never ending. Let us prepare for that long and eternal life which is with Christ and the angels. 

Bài học cho chúng ta là đừng bao giờ mắc bẫy trong lời dạy của ma quỷ rằng chỉ có một cuộc đời. Điều đó là sai bởi vì có một cuộc sống sau khi chết. Cuộc sống trên thế giới này ngắn ngủi, nhưng cuộc sống sau khi chết của chúng ta thì dài và không bao giờ kết thúc. Chúng ta hãy chuẩn bị cho cuộc sống lâu dài và vĩnh cửu với Chúa Kitô và các thiên thần.

God bless you. Amen. 

 

 

Matthew 22:15-22 - Hãy trả cho Sê sa những gì thuộc về Sê sa.

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Dear brothers and sisters in Christ,

In the last class, we studied Matthew 22:1-14. Tonight, we will study the following passage. Let us read Matthew 22:15-22. 

The most important part of this passage is Jesus’ reply to the Pharisees. When the Pharisees asked about paying taxes to the local government, Jesus immediately understood their hypocrisy. Jesus said, give to the emperor what is due to him, and give God what belongs to God. To understand what Jesus said, we need to know what was the hypocrisy related to tax that the Pharisees were practising. 

Trong buổi trước, chúng ta đã học Ma-thi-ơ 22:1-14. Tối nay, chúng ta sẽ nghiên cứu đoạn sau. Chúng ta hãy đọc Ma-thi-ơ 22:15-22.

Phần quan trọng nhất của phân đoạn này là câu trả lời của Chúa Giê-xu cho người Pha-ri-si. Khi người Pha-ri-si hỏi về việc đóng thuế cho chính quyền địa phương, Chúa Giê-su hiểu ngay sự giả hình của họ. Chúa Giê-su nói, hãy trả cho hoàng đế những gì thuộc về hoàng đế, và hãy trả cho Đức Chúa Trời những gì thuộc về Đức Chúa Trời. Để hiểu những gì Chúa Giê-su nói, chúng ta cần biết sự giả hình liên quan đến thuế mà người Pha-ri-si đang thực hành là gì.

There are two types of taxes that an honest person pays. The first one is to God and the second one is to the local government. The tax that we pay to God are in different forms. Primarily, we pay it in the form of a tithe. Why should we pay tithe? Does God need our money? Not at all. We have referred to Psalm 116:12 a few times. Let us read it again: What shall I return to the Lord for all of His bounty to me? In this Psalm, King David goes in deep gratitude on the love and mercy of God. He recounts all the blessings received throughout his life. Then he remembers that oh, I was a shepherd boy and my brothers were much better than me. But, the Lord called me and anointed me as the King of Israel. Then he remembers that God gave him all the richness in life. God helped me to defeat the enemies and save the Kingdom. God blessed my family to have the Messiah born in my family. God blessed me to be a musician so that I could sing and play lyre. When I committed adultery and murder, I was in deep trouble. But I confessed my sin, and God forgave me. In Psalm 116 we read that King David was in a near death situation, and he was suffering from distress and anguish. It means he was mentally and physically sick. But, he prayed to God, confessed all his sins, and repented. 

Có hai loại thuế mà một người trung thực phải trả. Cái đầu tiên là dành cho Chúa và cái thứ hai là cho chính quyền địa phương. Thuế mà chúng ta phải trả cho Chúa dưới nhiều hình thức khác nhau. Chủ yếu, chúng ta trả dưới hình thức một phần mười (tiền thập phân). Tại sao chúng ta nên đóng tiền thập phân? Chúa có cần tiền của chúng ta không? Không có. Chúng tôi đã nhắc đến Thi thiên 116:12 một vài lần. Chúng ta hãy đọc lại: Tôi sẽ lấy gì đền đáp Chúa vì tất cả ân huệ Ngài dành cho tôi? Trong Thi Thiên này, Vua Đa-vít cảm tạ sâu xa về tình yêu và lòng thương xót của Đức Chúa Trời. Ông kể lại tất cả những phước lành nhận được trong suốt cuộc đời của mình. Sau đó, ông nhớ lại rằng ồ, tôi là một cậu bé chăn cừu và các anh trai của tôi tốt hơn tôi rất nhiều. Nhưng, Chúa đã gọi tôi và xức dầu cho tôi làm Vua của Y-sơ-ra-ên. Sau đó, ông nhớ rằng Chúa đã ban cho ông tất cả sự giàu có trong cuộc sống. Chúa đã giúp tôi đánh bại kẻ thù và cứu Vương quốc. Chúa đã ban phước cho gia đình tôi để có Đấng cứu thế được sinh ra trong gia đình tôi. Chúa ban phước cho tôi trở thành một nhạc sĩ để tôi có thể hát và chơi đàn lia. Khi tôi phạm tội ngoại tình và giết người, tôi đã gặp rắc rối lớn. Nhưng tôi đã thú nhận tội lỗi của mình và Chúa đã tha thứ cho tôi. Trong Thi thiên 116, chúng ta đọc thấy rằng Vua Đa-vít đang ở trong tình trạng cận kề cái chết, và ông đang đau khổ và thống khổ. Nó có nghĩa là anh ta bị bệnh về tinh thần và thể chất. Nhưng,ông cầu nguyện với Chúa, thú nhận mọi tội lỗi của mình và ăn năn.

As soon as King David confessed and repented, his life changed. God saved him as we read in vs. 8 For you have delivered my soul from death, my eyes from tears, my feet from stumbling. It means after repentance, his body and mind were completely healed. Before repentance, he was in tears every day and night. But after repentance, God wiped his tears off. He received joy in his heart from God. Before repentance, David could not even walk properly. His feet used to stumble due to his sin and sickness. But, after the Lord touched him, he could stand strong on his feet. 

Ngay sau khi vua David xưng tội và ăn năn, cuộc đời của ông đã thay đổi. Đức Chúa Trời đã cứu ông khi chúng ta đọc trong câu 8 Vì Ngài đã giải cứu linh hồn tôi khỏi sự chết, mắt tôi khỏi giọt lệ, Chân tôi khỏi vấp ngã. Nghĩa là sau khi sám hối thân tâm lành hẳn. Trước sự ăn năn hối cải, ngày đêm ông rơi nước mắt. Nhưng sau khi sám hối, Chúa đã lau nước mắt. Ông đã nhận được niềm vui trong lòng từ Chúa. Trước khi ăn năn, Đa-vít thậm chí không thể đi lại bình thường. Đôi chân từng vấp ngã vì tội lỗi và bệnh tật. Nhưng sau khi Chúa chạm đến ông, ông có thể đứng vững trên đôi chân của mình.

King David counted all these blessings one by one, and fell on his knees with the thought that my God is so loving and kind that he rescued me from falling to death. Should I not give something in return for these countless blessings? He was in a kind of panicky mode because he did not know how to return for all these blessings. Imagine that you get a phone call from the Prime Minister of Vietnam saying hey I am coming to your house tomorrow. Would you not be panicking? You will because you do not know how to welcome the PM or treat him. What food should you cook and where to make him sit etc. David was in a spiritually panicked situation when he counted all his blessings. Thus he prays in the spirit that we read in Psalm 116:12. Let us read that verse once again and also please underline the verse if you have not done so before. 

Vua Đa-vít đếm từng phước lành này và quỳ xuống với ý nghĩ rằng Đức Chúa Trời của tôi rất yêu thương và nhân từ đã giải cứu tôi khỏi cái chết. Tôi có nên làm một cái gì đó để đáp lại vô số phước lành này không? Và ông đã ở trong tình trạng hoảng loạn vì không biết làm thế nào để đáp lại tất cả những phước lành này. Hãy tưởng tượng rằng bạn nhận được một cuộc điện thoại từ Thủ tướng Việt Nam nói rằng tôi sẽ đến nhà bạn vào ngày mai. Bạn sẽ không hoảng sợ chứ? Bạn sẽ vì bạn không biết cách chào đón hoặc đối xử với Thủ tướng. Bạn nên nấu thức ăn gì và cho anh ấy ngồi ở đâu, v.v. Đa-vít ở trong tình trạng hoảng loạn về mặt thuộc linh khi anh ấy đếm tất cả các phước lành của mình. Vì vậy, ông cầu nguyện theo tinh thần mà chúng ta đọc trong Thi Thiên 116:12. Chúng ta hãy đọc lại câu đó một lần nữa và xin vui lòng gạch dưới câu này nếu bạn chưa làm như vậy trước đây.

Jewish religious law instructed that everyone must pay one tenth to the Lord. We referred earlier to Mathew 23:23 that the Pharisees made excuses when it came to paying tithe. The Pharisees were very cunning with this. They wanted to show others that they are indeed paying tithe. But at the same time, they did not want to pay tithe. So they found a dubious means. They paid tithe on whatever was cheap or not important. As we read in this verse, they paid tithe on spice, mint, dill, and cumin. These were grown in their farm like thick bushes. In order to clear these bushes they just gave one tenth and said see I am paying tithe. 

Luật tôn giáo của người Do Thái hướng dẫn rằng mọi người phải nộp một phần mười cho Chúa. Trước đó, chúng tôi đã đề cập đến Ma-thi-ơ 23:23 rằng người Pha-ri-si viện lý do để đóng tiền phần mười. Người Pha-ri-si rất xảo quyệt với điều này. Họ muốn cho những người khác thấy rằng họ thực sự đang đóng tiền thập phân. Nhưng đồng thời, họ không muốn đóng tiền thập phân. Vì vậy, họ tìm một cách làm đáng ngờ. Họ trả phần mười cho bất cứ thứ gì rẻ hoặc không quan trọng. Khi chúng ta đọc trong câu này, họ đóng tiền thập phân cho gia vị, bạc hà, thì là và thì là. Chúng được trồng trong trang trại của họ như những bụi cây rậm rạp. Để dọn sạch những bụi cây này, họ chỉ đưa ra một phần mười và nói rằng hãy xem tôi đang trả phần mười.

We studied another example from Matthew 15:5. Here we read that when it came to caring for the parents, these guys would say, Oh sorry mom and dad, I wanted to give you money but I gave that money to the Lord. 

We always must be careful about what belongs to God. We should never steal what is of the Lord. Whatever we are, and whatever we have, everything belongs to the Lord. Our life is a gift of God. Our parents, family, kids, siblings are all gifts of the Lord. If we earn 1 million Vietnam Dong a day, that is because of the Lord. In short, without God, we cannot do anything. Jesus made it very clear in John 15:5. If we cannot do anything without the help of Jesus, we will have to think of how to demonstrate our gratitude to the Lord in the same way as King David thought about it. 

Chúng ta đã nghiên cứu một ví dụ khác từ Ma-thi-ơ 15:5. Ở đây chúng ta đọc thấy rằng khi nói đến việc chăm sóc cha mẹ, những người này sẽ nói: Ôi, xin lỗi bố mẹ, con muốn cho bố mẹ tiền nhưng con đã dâng số tiền đó cho Chúa.

Chúng ta luôn phải cẩn thận về những gì thuộc về Chúa. Chúng ta đừng bao giờ ăn cắp những gì thuộc về Chúa. Dù chúng ta là ai, và bất cứ điều gì chúng ta có, mọi sự đều thuộc về Chúa. Cuộc sống của chúng ta là một món quà của Thiên Chúa. Cha mẹ, gia đình, con cái, anh chị em của chúng ta đều là quà tặng của Chúa. Nếu chúng ta kiếm được 1 triệu đồng Việt Nam mỗi ngày, đó là nhờ Chúa. Tóm lại, không có Chúa, chúng ta không làm được gì cả. Chúa Giê-xu đã nói rất rõ ràng trong Giăng 15:5. Nếu chúng ta không thể làm gì nếu không có sự giúp đỡ của Chúa Giê-su, chúng ta sẽ phải nghĩ cách bày tỏ lòng biết ơn của mình đối với Chúa giống như cách mà Vua Đa-vít đã nghĩ về điều đó.

Sometimes, we are also like the Pharisees. For example, when we are sad or upset, we try to give all our sadness to the Lord. We pray, O Lord, please take all my sadness away. But if we are happy, we do not say that O Lord, thank you for making me happy. Please take all my happiness. We forget to share one tenth of happiness with the Lord who gave it to us. We do not even bother to say a prayer of thank you to the Lord when we are happy. That is what the hypocrisy of the Pharisees is. We need to ask ourselves, how do we repay our Lord? Please read Deuteronomy 32:4-6.   

Đôi khi, chúng ta cũng giống như người Pha-ri-si. Chẳng hạn, khi buồn bã hay bực bội, chúng ta cố gắng dâng tất cả nỗi buồn của mình cho Chúa. Chúng con cầu nguyện, lạy Chúa, xin hãy lấy đi mọi buồn phiền của con. Nhưng nếu chúng ta hạnh phúc, chúng ta không nói rằng Lạy Chúa, cảm ơn vì đã làm cho con hạnh phúc. Hãy lấy tất cả hạnh phúc của con. Chúng ta quên chia sẻ một phần mười hạnh phúc với Chúa là Đấng đã ban cho chúng ta. Chúng ta thậm chí không buồn nói một lời cầu nguyện cảm tạ Chúa khi chúng ta hạnh phúc. Đó là thói đạo đức giả của người Pha-ri-si. Chúng ta cần tự hỏi mình, làm thế nào để đền đáp Chúa của chúng ta? Xin vui lòng đọc Phục Truyền Luật Lệ Ký 32:4-6.

The Pharisees wanted respect from the people. And at the same time, they wanted power and position from the Roman government. We saw how they played games to avoid paying tithe. Now when it came to paying tax to the Roman government, they would make the same kind of excuses. We have studied earlier that the people hated the Roman government because the Romans were foreigners. The Romans depended on the Pharisee to keep the local people under control. When it came to paying tax, the Pharisees would say, see we are helping you to rule our country. So we should have a tax exemption. And the Roman government could not impose it because they needed these religious leaders to rule the country. So the Pharisees neither paid tithe to the Lord nor paid tax to the government. 

Người Pha-ri-si muốn được người ta kính trọng. Đồng thời, họ muốn quyền lực và địa vị từ chính quyền La Mã. Chúng tôi đã thấy cách họ bày trò để tránh đóng tiền thập phân. Giờ đây, khi phải nộp thuế cho chính quyền La Mã, họ cũng viện cớ như vậy. Chúng ta đã nghiên cứu trước đó rằng người dân ghét chính quyền La Mã vì người La Mã là người nước ngoài. Người La Mã phụ thuộc vào người Pha-ri-si để kiểm soát người dân địa phương. Khi nói đến việc nộp thuế, người Pha-ri-si sẽ nói, hãy xem chúng tôi đang giúp ông cai trị đất nước của chúng tôi. Vì vậy, chúng ta nên có một miễn thuế. Và chính phủ La Mã không thể áp đặt nó vì họ cần những nhà lãnh đạo tôn giáo này để cai trị đất nước. Vì vậy, những người Pha-ri-si không nộp tiền phần mười cho Chúa cũng như không nộp thuế cho chính quyền.

Jesus exposed their hypocrisy as we read in tonight’s passage. Jesus said, you give the Lord what is due to the Lord. Also, you give Caesar what is due to Caesar.  Caesar was the Roman emperor. Since the Pharisees were not doing this, they just kept quiet. There are three instances when a person keeps quiet: 1. When the person does not agree to something; 2. When a person feels guilty and has got nothing to say in defence; 3. When a person knows that there is no point in arguing with someone. In the case of the Pharisees all these three were applicable. They did not want to pay tax; they knew that they were wrong; and they realised that they cannot hide anything from the Lord and argue with Him. So, they simply left Jesus. 

Chúa Giê-xu vạch trần sự giả hình của họ khi chúng ta đọc đoạn văn tối nay. Chúa Giê-xu nói, anh em hãy dâng cho Chúa những gì thuộc về Chúa. Ngoài ra, hãy trả cho Caesar những gì thuộc về Caesar. Caesar là hoàng đế La Mã. Vì người Pha-ri-si không làm điều này nên họ chỉ giữ im lặng. Có ba trường hợp khi một người giữ im lặng: 1. Khi người đó không đồng ý với điều gì đó; 2. Khi một người cảm thấy tội lỗi và không có gì để bào chữa; 3. Khi một người biết rằng tranh cãi với ai đó là vô ích. Trong trường hợp của người Pha-ri-si, cả ba điều này đều có thể áp dụng được. Họ không muốn nộp thuế; họ biết rằng họ đã sai; và họ nhận ra rằng họ không thể giấu Chúa bất cứ điều gì và tranh luận với Ngài. Vì vậy, họ chỉ đơn giản là rời bỏ Chúa Giêsu.

Jesus clearly stated as we read in tonight’s passage that everyone must pay tax as well as tithe. It means if we do not pay tithe we are cheating God. If we do not pay tax we are cheating our government. Let us read Romans 13: 1-7. People have a bad habit of not paying tax and cheating the government. They save some money by not paying tax but by bribing corrupt tax officials to avoid fines and punishments. Not paying tax is wrong. On top of that we bribe, which is another wrong thing that we commit.  

Chúa Giê-xu đã tuyên bố rõ ràng khi chúng ta đọc trong phân đoạn tối nay rằng mọi người đều phải đóng thuế cũng như đóng thuế phần mười. Điều đó có nghĩa là nếu chúng ta không đóng tiền thập phân thì chúng ta đang lừa dối Thượng Đế. Nếu chúng tôi không nộp thuế, chúng tôi đang lừa dối chính phủ của mình. Chúng ta hãy đọc Rô-ma 13:1-7. Người dân có thói quen xấu là trốn thuế và gian lận chính phủ. Họ tiết kiệm một số tiền bằng cách không nộp thuế mà bằng cách hối lộ các quan chức thuế tham nhũng để tránh bị phạt và trừng phạt. Không nộp thuế là sai. Ngoài ra, chúng ta hối lộ, đó là một điều sai trái khác mà chúng ta phạm phải.

As read in Psalm 116:12, we should always be looking for ways and means to show our gratitude to the Lord. We know that God looks into our hearts. Paying tithe is not to show others. It is to demonstrate our gratitude to the Lord. Paying tax means we respect our government. It is our duty and it is our responsibility. 

Today, we celebrated Pentecost. It is the arrival of the Holy Spirit into our lives. Jesus said in John 16:13 When the Spirit of truth comes, He will guide you into all the truth… Let us pray to the Holy Spirit to help us lead a truthful life. A truthful life means we do not cheat God, nor the government, nor anyone.

Như được đọc trong Thi thiên 116:12, chúng ta phải luôn tìm cách và phương tiện để bày tỏ lòng biết ơn đối với Chúa. Chúng ta biết rằng Chúa nhìn vào tấm lòng của chúng ta. Đóng tiền thập phân không phải để cho người khác thấy. Đó là để chứng tỏ lòng biết ơn của chúng ta đối với Chúa. Nộp thuế có nghĩa là chúng tôi tôn trọng chính phủ. Đó là nhiệm vụ của chúng ta và đó là trách nhiệm của chúng ta.

Hôm nay, chúng ta cử hành Lễ Ngũ Tuần. Đó là sự xuất hiện của Chúa Thánh Thần trong cuộc sống của chúng ta. Chúa Giê-su nói trong Giăng 16:13 Khi Thần lẽ thật đến, Ngài sẽ dẫn các ngươi vào mọi lẽ thật… Chúng ta hãy cầu xin Đức Thánh Linh giúp chúng ta sống một đời sống chân thật. Một cuộc sống trung thực có nghĩa là chúng ta không lừa dối Chúa, không lừa dối chính phủ hay bất kỳ ai.

God bless you.

Cầu Chúa ban phước cho tất cả các bạn. Amen.

Amen.