Sunday, June 27, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh Philip

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have so far covered Saint Peter and his brother Saint Andrew, Saint James and his brother Saint John. 

Trong những buổi trước chúng ta đã học về Thánh Peter, Thánh Andrew, Thánh James lớn và em trai là Thánh John.

Tonight, we are going to study about Saint Philip and Saint Bartholomew. Let us first look at Saint Philip first. 

Tối nay chúng ta sẽ học về Thánh Philip và Thánh Bartholomew. Chúng ta hãy học về Thánh Philip trước.

 There are not many details about Saint Philip available in the Bible. The Bible says he was from the same hometown of Saint Peter and Saint Andrew, as we read in John 1: 43-44 The next day Jesus decided to go to Galilee. He found Philip and said to him, Follow me. Now Philip was from Bethsaida, the city of Andrew and Peter. 

Không có nhiều chi tiết về Thánh Philip được nhắc đến trong Kinh Thánh. Kinh Thánh nói ông cùng quê với Thánh Peter và Thánh Andrew như chúng ta đọc trong John 1:43-44 Hôm sau, Đức Chúa Giê Su muốn đi qua miền Ga li lê. Ngài tìm Philip và phán rằng: “hãy theo Ta.” Philip là người Bết sai đa, cùng thành phố với Andrew và Peter.  

One of the essential qualities of those following Jesus was found in Saint Philip as found in vs. 45 Philip found Nathanael and said to him, We have found Him about whom Moses in the law and also the prophets wrote, Jesus son of Joseph from Nazreth. 

Một trong những phẩm chất quan trọng của những người theo Chúa được nhìn thấy ở Thánh Philip như ở trong câu 45, Philip thấy Nathanel và nói: “Chúng tôi đã gặp Đấng mà Môi se đã chép trong luật pháp, và các nhà tiên tri cũng có ghi lại; ấy là Đức Chúa Giê Su, con của Giô sép, ở thành Nazaret.”

What we find in Saint Philip is the missionary zeal that we all should follow. We should have a natural instinct to share Jesus with others. You do not have to wait for an appropriate time or place to share Jesus. Rather, it should just happen anytime and anywhere. There is no formality in it. Neither is it a matter of boasting in the flesh. Instead, it is an inherent quality of a child of God. Saint Paul said in 1 Corinthians 9:16 For if I proclaim the gospel, this gives me no ground for boasting, for an obligation is laid on me, and woe to me if I do not proclaim the gospel. 

Điều chúng ta thấy ở Thánh Philip là lòng sốt sắng về sự truyền giáo mà tất cả chúng ta đều nên học theo. Chúng ta nên có bản chất tự nhiên muốn chia sẻ Chúa Giê Su với người khác. Bạn không cần phải chờ thời điểm thích hợp hay một nơi thích hợp để chia sẻ về Chúa với người khác. Thay vào đó, nó nên diễn ra ở mọi lúc mọi nơi. Không cần phải có sự trang trọng nào cả. Và cũng không phải là sự khoe khoang trong thân xác. Thay vào đó đó là phẩm chất vốn có của con cái Chúa. Thánh Paul nói trong 1 Corinthians 9:16 rằng: Nếu tôi rao giảng Tin Lành, tôi chẳng có cớ gì để tự hào, vì tôi bị ràng buộc phải làm như vậy, nhưng nếu tôi không rao giảng Tin Lành thì thật khốn khó cho tôi.

Saint Paul talks about an obligation to share Jesus with others. That obligation should be our natural instinct. So how can we have this natural instinct? Imagine that there is something that you want but costs a lot of money. Then one day, someone gives that free of cost to you. What will you do? Of course you will accept it and be thankful. If you are a selfish person, you will just keep it to yourself. But, if you are a kind hearted person, you will tell others that hey, you don’t have to spend money, I know someone who gives it free of cost. 

Thánh Pauk nói về một nghĩa vụ trách nhiệm phải chia sẻ Chúa với người khác. Nghĩa vụ đó cần phải là bản chất tự nhiên của chúng ta. Vậy thì làm sao chúng ta có thể có bản chất tự nhiên này được? Tưởng tượng rằng có một điều gì bạn muốn nhưng bạn phải tốn tiền để mua. Sau đó, một ngày một người nào đó mang đến cho bạn miễn phí. Bạn sẽ làm gì? Tất nhiên bạn sẽ chấp nhận và cảm thấy biết ơn. Nếu bạn là người ích kỷ, bạn sẽ chỉ giữ nó cho riêng mình. Nhưng nếu bạn là người tốt bụng, bạn sẽ nói với người khác rằng, này anh không cần phải tốn tiền, tôi biết người có thể ban cho miễn phí.

When Jesus sent out the disciples, He gave them one important advice as we read in Matthew 10:8b You You received without payment; give without payment. Now, to give, you need to know what you have received. So the very first question that you should ask yourselves is what have I received. Without knowing what you have received you cannot give it to others. I want each one of you to ask yourselves the question- what I have received. The best answer will be I have received Jesus who forgave all my sins, past and present, free of cost. 

Khi Chúa Giê Su sai các môn đồ đi, Ngài cho họ lời khuyên như chúng ta đọc trong Matthew 10:8b Các con đã nhận không thì hãy cho không. Bây giờ, để cho, bạn cần phải biết rằng bạn đã được nhận. Vì vậy, câu hỏi đầu tiên bạn nên đặt ra cho bản thân mình đó là bạn đã nhận được gì. Nếu không biết mình đã nhận được gì thì bạn không thể chia sẻ nó cho người khác được. Tôi muốn các bạn tối nay hãy hỏi mình câu hỏi đó – tôi đã nhận được điều gì. Câu trả lời tốt nhất ở đây là tôi đã nhận Chúa Giê Su người tha thứ cho những tội lỗi của tôi ở trước kia và bây giờ, hoàn toàn miễn phí.

So what difference does it make? What if we are not worried about the forgiveness of sins? For those who are new to this class, living with sins means living with the devil. As long as the devil lives in you, your life will be a continuous failure. Even if you succeed you will not be happy. You may have a lot of money, but you will still not have peace in your life. There won’t be peace in your life because it is only Jesus who can give you eternal peace as we read in John 14: 27 Peace I leave with you; my peace I give it to you. I do not give as the world gives. 

Vậy thì điều đó mang lại điều gì khác biệt? Nếu chúng ta không lo lắng về sự tha thứ cho tội lỗi? Với những bạn mới ở lớp học này, sống mà có tội nghĩa là sống với quỷ. Nếu quỷ sống trong bạn, cuộc đời bạn sẽ liên tục gặp phải thất bại. Ngay cả khi bạn thành công, bạn cũng sẽ không hạnh phúc. Bạn có thể có nhiều tiền, nhưng bạn không bao giờ có được sự bình an trong cuộc sống. Sẽ không có bình an trong cuộc sống của bạn bởi vì chỉ có Chúa Giê Su người có thể mang lại cho bạn sự bình an đời đời như chúng ta đọc trong John 14:27 Ta để lại sự bình an cho các con. Ta ban sự bình an Ta cho các con. Sự bình an Ta cho các con không giống như thế gian cho. Lòng các con chớ bối rối và đừng sợ hãi.

Look at the last part of what Jesus said, I do not give as the world gives. You may have a big family, you may have many good friends. They may all be good and helpful. An American Pulitzer prize winner, Thomas Freidman once said, “There is no free lunch”. It means that if anyone invites you for a free lunch or dinner, there will always be a hidden motive behind that. The person who buys you free lunch or dinner will always be expecting something from you. And, if you do not return the favour, they will turn against you. They will expect you to be obliged and pay back to them in double and three times. 

Chúa nói rằng “Bình an Ta ban cho các con không giống thế gian cho”. Bạn có thể có một gia đình lớn, bạn có thể có nhiều người bạn tốt. Họ có thể tốt và hữu ích. Một người từng thắng giải Pulitzer của Mỹ, Thomas Freidman nói rằng “không có bữa ăn trưa miễn phí”. Điều này nghĩa rằng, nếu bất cứ ai mời bạn đi ăn trưa hoặc ăn tối miễn phí, thì sẽ luôn có ẩn giấu một động cơ nào đó ở phía sau. Người trả tiền cho bữa ăn trưa hoặc bữa ăn tối miễn phí sẽ luôn mong chờ một cái gì đó từ bạn. Và nếu bạn không đáp lại thỉnh cầu của họ, họ sẽ trở mặt với bạn. Họ sẽ mong bạn biết ơn và trả lại họ gấp hai, gấp ba lần.

The peace that Jesus gives you is completely free. He does not charge any money from you. Even if you are not obliged to Him after receiving the blessings from Him, Jesus won’t punish you or harm you. After receiving Jesus, people cheat Him. People go away from Him. He will be sad. But, He silently waits for you to come back. Even if it takes ages, He will still be waiting for you like the father of the prodigal son that we see in Luke 15: 11-24. 

Sự bình an mà Chúa ban cho các bạn là hoàn toàn miễn phí. Ngài không tính tiền từ bạn. Ngay cả nếu bạn không biết ơn Ngài sau khi nhận được ơn phước từ Ngài, Ngài cũng không phạt bạn hay làm hại bạn. Sau khi nhận được Chúa, người ta lừa Ngài. Người ta đi xa khỏi Ngài. Ngài sẽ buồn. Nhưng Ngài vẫn cứ âm thầm chờ bạn quay trở lại. Ngay cả nếu như có mất nhiều năm, Ngài vẫn cứ chờ bạn như người cha của người con đi hoang mà chúng ta đọc được trong Luke 15:11-24.

Coming back, you have received forgiveness of sins from Jesus. That is the best thing that could ever happen in your life. Like Saint Philip, you should be naturally prompted to share this gift with others. You are receiving Jesus free from this class. We do not charge any money from you. It is free because the love of God and the forgiveness of sins is free. The blessings are free. The peace and joy are free. We received it for free. We give it free to you. As Saint Philip immediately went to his friend to share Jesus, you should do the same to your friends. Do not worry about what they will say, or how they will respond. Our job is to share. Jesus wants us not to be shy of sharing Him. Jesus said this clearly in Mark 8:38 Those who are ashamed of me and of my words, in this adulterous and sinful generation, of them the Son of Man will also be ashamed when He comes in the glory of His Father with the holy angels. 

Quay trở lại bài, bạn đã nhận được sự tha thứ cho tội lỗi từ Chúa Giê Su. Đó là điều tốt nhất có thể xảy ra trong cuộc sống của bạn. Giống như Thánh Philip, bạn nên một cách tự nhiên có sự thôi thúc để chia sẻ món quà này với người khác. Bạn đang nhận Chúa miễn phí từ lớp học này. Chúng tôi không yêu cầu bạn trả tiền. Lớp học là miễn phí bởi vì tình yêu của Chúa và sự tha thứ cho tội lỗi là miễn phí. Các phước lành là miễn phí. Sự bình an và niềm vui là miễn phí. Chúng tôi đã nhận nó miễn phí. Chúng tôi cũng chia sẻ miễn phí cho bạn. Như Thánh Philip đã ngay lập tức đi đến chỗ bạn mình để chia sẻ về Chúa, bạn cũng nên làm như vậy với bạn bè mình. Đừng lo lắng về việc họ sẽ nói gì, hay họ sẽ đáp lại như thế nào. Việc của chúng ta là phải chia sẻ. Chúa Giê Su muốn chúng ta không xấu hổ khi chia sẻ Ngài. Chúa nói rõ trong Mark 8:38 rằng: “Vì nếu ai hổ thẹn về Ta và đạo Ta giữa thế hệ gian tà nầy, thì Ta cũng sẽ hổ thẹn về người ấy khi Ngài cùng với các thiên sứ thánh ngự đến trong vinh quang của Cha Ngài.”

Saint Philip was never ashamed of sharing Jesus with others. In fact he shared Jesus with those people who were very powerful in the world. For example, he shared Jesus with a top government authority as we read in Acts 8:26-38. We read this section in one of our recent classes. Let me just summarise this with the key points. Imagine that a very powerful government officer is sitting next to you on a train journey or flight. You notice that the person is reading something. Will you dare to ask any question like Saint Philip asked the Ethiopian government officer. He asked, excuse me sir, do you understand what you are reading. The officer replies, no unfortunately. Then you say, may I explain it to you. The officer agrees and you proceed to explain the love of Jesus and the sacrifice of Jesus on the cross for our sins.

Thánh Philip đã không bao giờ xấu hổ về việc chia sẻ Chúa Giê Su với người khác. Thực tế, ông đã chia sẻ Chúa Giê Su với những người rất quyền lực trên thế giới. Ví dụ ông đã chia sẻ về Chúa Giê Su với một nhà cầm quyền như chúng ta đọc trong Acts 8:26-38. Chúng ta đã học phần này trong một buổi gần đây. Để tôi tóm tắt những điểm chính. Tưởng tượng rằng một người rất quyền lực đang ngồi cạnh bạn trên một chuyến tàu hoặc máy bay. Bạn nhận ra rằng người này đang đọc gì đó. Liệu bạn có dám hỏi câu hỏi như Thánh Philip đã hỏi người quan triều Etiopia không. Ông đã nói là, xin lỗi ông, ông có hiểu điều ông đang đọc không. Viên quan đáp lại, rất tiếc là không. Sau đó bạn nói, vậy để tôi giải nghĩa cho ông. Viên quan đồng ý và bạn tiếp tục giải nghĩa về tình yêu của Chúa và sự hy sinh của Chúa Giê Su trên cây Thánh Giá cho tội lỗi của chúng ta.  

You may say that oh no, I can’t do that. I am scared to go even near such a powerful person. 

Bạn có thể nói rằng, ôi không, tôi không dám làm thế. Tôi rất sợ đến gần những người quyền lực như thế.

So where did Saint Philip get this power from. We read that he was prompted by an angel of the Lord and was carried by the Holy Spirit. Yes, when you are free from all the sins, the devil in your life will be kicked out, and the place will then be occupied by the Holy Spirit through baptism. The Holy Spirit gives so much courage that there will not be any fear or shyness to share Jesus as we have the example of Saint Peter and Saint John in Acts 4:5-10. Here we read that it was the Holy Spirit that gave courage to Saint Peter as we read in vs.8. 

Vậy thì Thánh Philip có được sự can đảm đó từ đâu. Chúng ta đọc rằng, ông đã được thôi thúc bởi Thiên Sứ của Chúa và được Thánh Linh đưa đến. Đúng vậy, khi bạn không còn tội lỗi, và quỷ trong đời sống bạn được đuổi ra, và nơi đó sẽ được Thánh Linh ngự đến qua sự rửa tội. Thánh Linh mang đến cho bạn sự can đảm đến nỗi không còn sự sợ hãi hay xấu hổ nào để chia sẻ Chúa Giê Su như chúng ta có ví dụ của Thánh Peter và Thánh John trong Acts 4:5-10. Chúng ta đọc được rằng Thánh Linh đã mang lại can đảm cho Thánh Peter như chúng ta đọc trong câu 8.

Saint Philip received the power to share Jesus from the Holy Spirit. If the Holy Spirit is inside us, we can also share Jesus in the same way as Saint Philip did. Saint Philip never ignored any opportunity to share Jesus. The tradition says that his sister also joined him in sharing Jesus with others. He shared Jesus to the people of Greece, Turkey and the neighbouring regions. Bartholomew, another disciple of Jesus, was also with him in sharing Jesus. 

Thánh Philip đã nhận được sức mạnh để chia sẻ Chúa Giê Su từ Thánh Linh. Nếu Thánh Linh ở trong chúng ta, chúng ta cũng có thể chia sẻ Chúa Giê Su tương tự như cách mà Thánh Philip đã làm. Thánh Philip đã không bao giờ bỏ qua bất kỳ cơ hội nào để chia sẻ Chúa. Người xưa kể lại rằng chị gái của Thánh cũng cùng tham gia để chia sẻ Chúa Giê Su với người khác. Ông đã chia sẻ Chúa Giê Su với người Hy Lạp, Thổ Nhĩ kỳ và các vùng lân cận. Thánh Bartholomew, một môn đồ khác của Chúa Giê Su, cũng đi cùng với Ngài để chia sẻ Chúa.

Another example of Saint Philip’s courage in sharing Jesus was found while he was in the city of Hierapolis, southwest of Turkey. There he shared Jesus with the wife of the proconsul. A consul is the highest Roman government authority. A proconsul is like his deputy. Imagine how much courage Saint Philip had to share Jesus with such a powerful person’s wife. The pro-consul became angry at this and got Saint Philip, his sister and Saint Bartholomew arrested. The three were tortured by the police. Mariamne, his sister, was later released. But, the two saints were ordered to be crucified upside down.

Một ví dụ khác của sự can đảm của Thánh Philip trong việc chia sẻ Chúa Giê Su được tìm thấy trong khi ông ở thành phố Hierapolis, khu vực phía tây nam của Thổ Nhĩ Kỳ. Ở đó, ông chia sẻ Chúa Giê Su với vợ của thống đốc. Một tổng đốc là người đứng đầu cao nhất của chính phủ La Mã. Một thống đốc là người phò tá cho tổng đốc. Tưởng tượng xem Thánh Philip can đảm như thế nào để chia sẻ Chúa Giê Su với vợ của người quyền lực như thế. Viên tổng đốc đã trở nên tức giận và bắt Thánh Philip, chị của ông và Thánh Bartholomew. Cả ba đã bị đánh đập. Mariamne, chị gái của ông sau đó được thả ra. Nhưng hai thánh thì bị khổ hình úp ngược.

Even on the cross, lying upside down, Saint Philip shared Jesus with the police and all the people who were gathered around to witness the crucifixion. Just pause a moment and think, can you talk while you are in an upside down position? Extremely difficult. Do not try that at all. It is dangerous. Lying upside down on the cross, Saint Philip also requested the authorities to release Saint Bartholomew but crucify him. The people gathered around were so moved by Saint Philip’s preaching that they decided to release both. But Saint Philip said, I will die for Jesus but you release my colleague. Thus Saint Bartholomew was released and Saint Philip died on the cross sharing Jesus to the people. 

Ngay cả trên cây Thánh Giá, nằm úp ngược, Thánh Philip đã chia sẻ Chúa Giê Su với các viên cảnh sát và tất cả những người xung quanh để chứng kiến sự khổ hình. Bạn thử dừng lại một chút và nghĩ xem, liệu bạn có thể nói chuyện được khi bạn bị úp ngược không? Cực kì khó. Đừng thử nhé. Nó nguy hiểm nữa. Nằm úp ngược trên cây Thánh Giá, Thánh Philip yêu cầu chính quyền thả Thánh Bartholomew nhưng khổ hình ông. Mọi người bao quanh cảm động trước sự rao giảng của Thánh Philip mà quyết định thả cả hai. Nhưng Thánh Philip nói, tôi sẽ chết cho Chúa Giê Su nhưng các ông hãy thả đồng nghiệp của tôi. Do đó, Thánh Bartholomew đã được thả ra và Thánh Philip chết cây Thập tự khi chia sẻ về Chúa cho mọi người.

Another quality of Saint Philip is found in his concern for other people. In the same way as he wanted everyone to be saved, Saint Philip wanted everyone to be physically well too. We see this in John 6: 5 When He looked up and saw a large crowd coming toward Him, Jesus said to Philip, Where are we going to buy bread for these people to eat? Jesus asked this question specifically to Saint Philip. It could be that Jesus knew how kind hearted Saint Philip was, and how concerned he was for the well being of other people. A concern for the physical and more importantly the spiritual well being of other people should be primary for the children of God. 

Một phẩm chất khác của Thánh Philip được nhìn thấy ở sự quan tâm tới người khác. Tương tự như cách ông muốn mọi người đều được cứu, Thánh Philip muốn mọi người được khỏe mạnh về thể chất nữa. Chúng ta đọc trong John 6:5 Đức Chúa Giê Su ngước mắt lên, thấy một đoàn người rất đông đến với Ngài, Ngài nói với Phi-lip “Chúng ta phải mua bánh ở đâu để cho những người nầy ăn?” Chúa Giê Su hỏi câu hỏi này đặc biệt với Thánh Philip. Có thể là vì Chúa biết Thánh Philip là người nhân hậu, và quan tâm đến mọi người. Sự quan tâm về thể chất và quan trọng hơn là sự quan tâm về tâm linh của người khác chính là điều quan trọng đối với con cái Chúa.

In fact the condition to follow Jesus is the willingness to give away everything if you have to. Matthew 19:21 Jesus said to him, if you wish to be perfect, go, sell your possessions, and the money to the poor, and you will have treasure in heaven; then come and follow me.  This is the most difficult thing that any follower of Jesus will struggle with. People often think about all kinds of material benefits they can receive by following Jesus. It is like doing business with Jesus. Such people say to Jesus, Lord, if you give me a lot of money I will do your work. Make me rich first. After that I will go and share you with other people. These are all selfish business mindedness which God does not want or agree to. Jesus wants unselfish commitment. Even if you are poor, you still share Jesus with others. 

Thực tế, điều kiện để theo Chúa là sự sẵn sàng cho đi mọi thứ nếu bạn cần phải như vậy. Matthew 19:21 “Đức Chúa Giê Su đáp: Nếu ngươi muốn được trọn vẹn, hãy đi, bán những gì mình có và phân phát cho người nghèo thì ngươi sẽ có kho báu trên trời, rồi hãy theo Ta.” Đây là điều khó khăn nhất mà người theo Chúa sẽ gặp phải. Người ta thường nghĩ về những lợi ích vật chất mà họ có thể nhận được khi theo Chúa. Nó giống như làm ăn với Chúa vậy. Những người đó nói với Chúa Giê Su, Chúa ơi, nếu Chúa cho con nhiều tiền thì con sẽ làm việc của Ngài. Xin hãy cho con giàu có đã. Sau đó con sẽ đi và chia sẻ Ngài với người khác. Đây là suy nghĩ ích kỷ mà Chúa sẽ không muốn nghe và cũng không đồng tình. Chúa Giê Su muốn một sự cam kết không ích kỷ. Ngay cả nếu bạn nghèo, bạn vẫn chia sẻ Chúa với người khác.

John the Baptist was preparing the people to receive Jesus Christ. He was preaching and baptising. Luke 3:10-14 And the crowd asked Him, what then shall we do? In reply, He said to them, Whoever has two coats must share with anyone who has none; and whoever has food must do likewise. Even the tax collectors came to be baptised, and they asked him, Teacher, what should we do? He said to them, Collect no more than the amount prescribed for you. Soldiers also asked him, And we, what should we do? He said to them, Do nor extort money from anyone by threats or false accusations, and be satisfied with your wages. 

John the Baptist đã chuẩn bị mọi người để tiếp nhận Chúa Giê Su. Ông đã rao giảng và rửa tội. Luke 3:10-14 Dân chúng hỏi Giăng: Vậy chúng tôi phải làm gì? Ông đáp: ai có hai áo hãy chia cho người không có, ai có thức ăn cũng nên làm như vậy. Cũng có những người thu thuế đến để chịu báp tiêm, hỏi rằng: Thưa thầy, chúng tôi phải làm gì? Ông bảo: đừng thu thuế quá mức quy định. Binh lính cũng hỏi: Chúng tôi phải làm gì? Ông trả lời: đừng hăm dọa hoặc vu khống ai để tống tiền nhưng hãy bằng lòng về đồng lương của mình.

From these verses, it is clear how a follower of Jesus should live. Saint Philip was a kind hearted man. He always had concern for others. In the same way, we worry less about ourselves but be concerned about those who are suffering. Be concerned about your mother and father who have not yet come to Jesus. Be concerned about brothers and sisters who are not yet following Jesus. Be concerned about the people who are still living in sin and darkness. Think of what would happen to them. In the clutches of the devil, they are suffering and dying every day. They are sick in their body, Their spirit is completely darkened. They are living as slaves of the devil doing all the evil things that the devil wants. Their life is going to be tragic. 

Từ những câu này, một điều rõ rằng rằng một người theo Chúa cần phải sống như thế nào. Thánh Philip là một người nhân hậu. Ông luôn quan taamd đến người khác. Tương tự như vậy, chúng ta nên ít quan tâm đến bản thân mình mà hãy lo lắng cho những người đang chịu đau khổ. Hãy quan tâm đến cha mẹ bạn, là những người vẫn chưa biết đến Chúa. Hãy quan tâm đến anh chị em của bạn là người vẫn chưa theo Chúa. Hãy quan tâm đến những người vẫn còn sống trong tội lỗi và bóng tối. Hãy nghĩ về những điều sẽ xảy ra với họ. Trong xiềng xích của quỷ, họ đau khổ và hao mòn đi mỗi ngày. Họ ốm trong thân thể, tâm linh của họ hoàn toàn phủ bóng tối. Họ sống như nô lệ của quỷ làm tất cả những việc độc ác mà quỷ muốn. Cuộc đời họ sẽ vô cùng bi kịch.

What can you do? Share Jesus with them in the same way as Saint Philip did. Do not worry about the outcome. They might reject you. You do not have to bother about that. Your job is to sow the seed. God will make it grow at the right time. It is between them and God. You have done your part and it is accounted for by God. 

Bạn có thể làm gì? Hãy chia sẻ Chúa Giê Su với họ tương tự như cách Thánh Philip đã làm. Đừng lo lắng về kết quả. Họ có thể từ chối bạn. Bạn không cần phải quan tâm về điều đó. Nhiệm vụ của bạn là gieo hạt giống. Chúa sẽ làm cho cái cây lớn lên đúng thời điểm. Đó là  câu chuyện giữa họ và Chúa. Bạn làm phần việc của bạn và điều đó được xem là đáng trọng trước mặt Chúa.

Let us follow the path of Saint Philip and share Jesus with everyone we come across. The Holy Spirit will give you strength and courage. 

Chúng ta hãy cùng đi theo con đường của Thánh Philip và chia sẻ Chúa Giê Su với mọi người chúng ta gặp. Thánh Linh sẽ cho bạn sức mạnh và sự can đảm.

God bless you. Amen.

Cầu Chúa ban phước cho tất cả các bạn. Amen.

 

Wednesday, June 16, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh John

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen.

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.  

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các sứ đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have studied Saint Peter, Saint Andrews and Saint James in the last three classes. 

Chúng ta đã học về Thánh Peter, Thánh Andrew và Thánh James trong ba buổi học vừa qua.

Tonight, we are going to study Saint John. Saint John was the brother of Saint James the Greater. Their parents were Zebedee and Salome. He was the youngest of all the disciples. He belonged to the inner circle of Jesus’ disciples. More importantly, Saint John was the most loved of all the disciples as we read in John 20:2 So she ran and went to Simon Peter and the other disciple , the one whom Jesus loved, and said to them, they have taken the Lord out of the tomb and we do not know whether they have laid Him. Also read John 21:20 Peter turned and saw the disciple whom Jesus saw following them. 

Tối nay, chúng ta sẽ học về Thánh John. Thánh John là em của Thánh James lớn. Bố mẹ của họ Zebedee và Salome. Ông là người trẻ nhất trong tất cả các sứ đồ. Ông thuộc những người thân cận với Chúa Giê Su. Quan trọng hơn, Thánh John là người được Chúa yêu nhất trong tất cả các thánh đồ như chúng ta đọc được trong John 20:2 Vậy bà chạy đến với Simon Phiero và môn đồ kia, là người Đức Chúa Giê Su yêu thương, và nói: Người ta đã dời Chúa ra khỏi mộ, chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu? Cũng hãy đọc John 21:20 Phiero quay lại thấy môn đồ Đức Chúa Giê Su yêu thương đang theo sau, là người trong bữa ăn tối đã nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Giê Su và hỏi: “Thưa Chúa, ai là kẻ phản Ngài?”

Another important attribute to Saint John is that Jesus immediately before His death handed over Mother Mary to Saint John and told him to take care of her as we read in John 19:25-27 Meanwhile standing near the cross of Jesus were His mother, and His mother’s sister, Mary the wife of Clopas, and Mary Magdalene. When Jesus saw His mother and the disciple whom He loved standing beside her, He said to His mother, Woman, here is your son. Then He said to the disciple, Here is your mother. And from that hour onwards the disciple took her into his own house. 

Một đặc điểm quan trọng khác nữa của Thánh John đó là Chúa Giê Su ngay trước khi chết trên cây thập tự đã giao mẹ Ngài là mẹ Mary cho Thánh John và bảo ông chăm sóc bà như chúng ta đọc trong John 19:25-27, Đức Chúa Giê Su thấy mẹ Ngài và môn đồ Ngài yêu thương đứng gần thì nói với mẹ rằng: “Thưa bà, đó là con của bà!” Rồi Ngài nói với môn đồ ấy ‘Nầy là mẹ của con!” Từ giờ đó, môn đồ nầy đem bà về nhà mình.

Saint John wrote one gospel which is the fourth book of the New Testament. He also wrote three letters, 1 John, 2 John and 3 John. Finally, he wrote the last book in the Bible, the book of Revelations. 

Thánh John đã viết một chương tin lành đó là cuốn thứ tư trong Tân Ước ông cũng viết các lá thư 1 John, 2 John và 3 John. Cuối cùng, ông viết cuốn cuối cùng trong Kinh Thánh, sách Khải Huyền.

The key theme in the gospel according to John is Jesus is God. The gospel begins with this statement. Let us read John 1:1 In the beginning was the Word, and the Word was with God, and the Word was God. Then in vs 14 Saint John tells us that this Word is Jesus Christ: And the Word became flesh and lived among us, and we have seen His glory, the glory of a father’s only son, full of grace and truth. Through these statements, Saint John introduces Jesus Christ as the Son of God who came down from heaven to save us from sin and destruction. 

Chủ đề chính trong Tin Lành viết bởi Thánh John là Chúa Giê Su là Chúa. Tin lành bắt đầu bằng một lời khẳng định. Chúng ta hãy đọc John 1:1 “Ban đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời. Sau đó trong câu 14, Thánh John nói với chúng ta rằng Ngôi Lời này chính là Chúa Giê Su Christ. Ngôi Lời đã trở nên xác thể, sống giữa chúng ta, đầy ân điển và chân lý. Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha. Qua những câu này, Thánh John đã giới thiệu Chúa Giê Su như là con của Đức Chúa Trời người đã đến từ trời để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và sự hủy diệt.

After this, Saint John focuses on helping us better understand Jesus Christ. For this, he uses the seven sayings of Jesus. These are called the seven I AMs said by Jesus. Before looking at each of them, we need to understand the meaning of the term I AM. 

Sau điều nầy, Thánh John tập trung vào việc giúp chúng ta hiểu hơn về Chúa Giê Su. Để nói về điều này, Thánh John đã sử dụng bảy câu nói của Chúa Giê Su. Những câu này được gọi là 7 lần “Ta là” ( I AM) do Chúa nói. Trước khi tìm hiểu những điều này chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa là cụm Ta Là.

I AM is the most holy of the terms in the Bible. It is so holy that the Jewish people did not even dare to use that term because it means GOD. The very first instance when God said this was when He first appeared to Moses. Let us read Exodus 3: 13-15 But Moses said to God, If I come to the Israelites and say to them, The God of your ancestors has sent me to you, and they ask me, What is His name, what shall I say to them? God said to Moses, I AM WHO I AM. He said, further, Thus you shall say to the Israelites, I AM has sent me to you. God also said to Moses, Thus you shall say to the Israelites, The Lord, the God of your ancestors, the God of Abraham, the God of Isaac, and the God of Jacob, has sent me to you: This is my name forever, and this is my title for all generations. 

“Ta là” chính là cụm từ thánh sạch nhất trong Kinh Thánh. Nó rất thánh sạch đến nỗi mà người Do Thái đã không dám sử dụng cụm đó bởi vì cụm đó nghĩa là Chúa. Sự kiện đầu tiên mà Chúa nói câu này là khi Chúa xuất hiện trước Môi se. Chúng ta hãy đọc Exodus 3:13-15 Môi se thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu con đi đến với dân Y-sơ-ra-en và nói với họ: “Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em sai tôi đến với anh em; và họ hỏi con: “Tên Ngài là gì?” thì con sẽ nói với họ thế nào?” Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu” Ngài lại phán: “Hãy nói với dân Y-sơ-ra-en rằng: “Đấng Tự hữu đã sai tôi đến với anh em.”

As this verse says, the title of God is I AM. 

Vậy câu này nói rằng, danh xưng của Chúa là “Đấng tự hữu”

When Jesus said I AM it means He is God who has come to save us, in the same way as God saved Abraham, Isaac, and Jacob. 

Khi Chúa Giê Su nói “Ta là” nghĩa là Ngài là Chúa người đến để cứu chúng ta, tương tự như cách Chúa đã cứu Abraham, Issac và Jacob.

The primary purpose of the gospel according to Saint John is to tell that Jesus is God. For this he uses the seven I AMs said by Jesus. Let us briefly look at each:

Mục đích chính của Tin Lành theo Thánh John là để nói rằng Chúa Giê Su là Chúa. Để nói điều này, Ngài sử dụng 7 lần nói “Ta là”. Chúng ta hãy cùng điểm qua mỗi lần này:

1.    The first reference is John 6:35 and 6:48 - I AM the bread of life. The context of the first is given in John 6:25-30; and the context of the second I AM the bread of life is given in John 6:48-51

1. Trường hợp đầu tiên là trong John 6:35 và 6:48 – Ta là bánh của sự sống. Hoàn cảnh của câu này được đưa ra trong John 6:25-30. Và hoàn cảnh của câu Ta là bánh của sự sống được đưa ra trong John 6:48-51.

Through this saying, Jesus is teaching us that there are two types of food. One is the food which is earned through selfish means. As we see in the first instance, people were searching for Jesus not because they have experienced God, but just because they got plenty of food from Jesus. This happened immediately after Jesus blessed and multiplied five loaves of bread and two fish, and fed more than five thousand people as we read in the beginning of chapter 6. 

Qua câu này, Chúa Giê Su đang dạy chúng ta rằng có hai loại đồ ăn. Một loại đồ ăn có được qua các con đường ích kỷ. Như chúng ta đọc trong trường hợp đầu tiên, người ta tìm kiếm Chúa Giê Su không phải bởi vì họ có trải nghiệm với Chúa, nhưng bởi vì họ có nhiều thức ăn từ Chúa Giê Su. Điều này xảy ra ngay sau khi Chúa Giê Su ban phước và nhân số lượng năm ổ bánh mì và hai con cá và cho hơn năm ngàn người ăn như chúng ta đọc ở đầu Chương 6.

The second instance also is selfish as Jesus reminds them that your forefathers ate manna in the desert, but still they have perished. Even though manna was provided by God, the people rebelled against God and they all perished. 

Ví dụ thứ hai cũng là một trường hợp ích kỷ khác khi Chúa nhắc nhở họ rằng tổ tiên của họ ăn bánh mana trong sa mạc nhưng họ vẫn bị hư mất. Mặc dù mana được Chúa ban cho, nhưng người ta vẫn nổi loạn chống lại Chúa và tất cả đều bị hư mất.

Hence Jesus said, worldly food for which you become so selfish is not worth it. Instead, one should strive for the food that God gives, which is His own body.   

Do đó, Chúa Giê Su nói, thức ăn đời này mà chúng ta trở nên ích kỷ vì nó thì không đáng giá gì. Thay vào đó, một người nên tìm kiếm thức ăn mà Chúa ban cho, đó chính là thân xác của Ngài.

2.             The second reference is John 8:12 - I AM the light of the world. People often believe and say, I know what I am doing, I know where I am going, I do not need any one’s advice or guidance. This is another drawback of selfish people. Such people are termed as ‘haughty’ in the Bible. Let us read 2 Samuel 22:28-31. As this verse suggests, those who think they can do everything by themselves are egoistic and stubborn. Psalm 89:15 Happy are those who know the festal shout, who walk, O Lord in the light of your countenance. 

2. Trường hợp thứ hai là John 8:12 – Ta là ánh sáng của thế gian. Mọi người thường tin và nói, tôi điều tôi đang làm, tôi biết tôi đang đi đâu, tôi không cần lời khuyên của ai hoặc sự dẫn dắt của ai. Đây là một điểm yếu khác của những người ích kỷ. Người người này được đặt tên gọi là “ngạo mạn” trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy đọc 2 Samuel 22:28-31 “Chúa giải cứu người khiêm tốn, Nhưng Chúa để mắt nhìn kẻ kiêu căng để hạ chúng xuống. Đức Giê Hô Va ôi, Ngài là ngọn đèn của con, Đức Giê Hô Va sẽ chiếu vào sự tăm tối của con. Nhờ Chúa, con có thể tấn công quân địch. Cậy Đức Chúa Trời, con vượt qua lũy thành. Như câu này nói, những ai nghĩa rằng họ có thể làm tất cả mọi thứ là những kẻ đầy ngang ngược và tự mãn. Thi Thiên 89:15 “Phước cho dân tộc nào biết cất tiếng vui mừng, họ bước đi trong ánh sáng của mặt Chúa.”

The message is that we need to listen to the Lord and walk as per His guidance and not what we think is right. 

Thông điệp ở đây là chúng ta cần phải lắng nghe lời Chúa và bước đi trong trong sự dẫn dắt của Ngài chứ không phải những gì chúng ta nghĩ là đúng. 

3.             The third reference is John 10:9 - I AM the gate. Jesus then said, whoever enters through this gate will be saved. They can freely come in and go out and find pasture. This means that there is only one gate to be saved. That gate is Jesus Christ. People often prefer gates of convenience where they can continue their selfish and sinful life and follow a god. That is the reason we have so many religions in the world. People can choose any religion which suits their selfish lifestyle. But, as Jesus said, those who offer salvation apart from God, are thieves and bandits. They will take away all your money and will leave you in the dark. You can enter through those gates freely, but once you enter you are trapped. 

Trường hợp thứ ba là John 10:9 – Ta là cổng. Chúa Giê Su sau đó nói thêm rằng: ai bước qua cổng này sẽ được cứu. Họ có thể tự do vào và ra và tìm đồng cỏ. Điều này có nghĩa là chỉ có một cổng duy nhất dẫn tới sự sống. Cổng đó chính là Chúa Giê Su Christ. Mọi người thường thích những cái cổng mà nó đem lại sự tiện nghi cho họ để mà họ có thể vừa tiếp tục lối sống sai trái tội lỗi và vừa có một vị Chúa gì đó để thờ lạy. Đó là lý do chúng ta có rất nhiều tôn giáo trên thế giới. Người ta có thể lựa chọn bất kỳ một tôn giáo nào mà phù hợp với lối sống của mình. Nhưng Chúa Giê Su nói rằng, kẻ nào nói sẽ cứu rỗi được chúng ta ngoại trừ Đức Chúa Trời thì đều mà những kẻ trộm cắp và kẻ cướp. Họ sẽ lấy tiền của bạn và để bạn lại trong bóng tối. Bạn có thể vào qua các cửa này một cách tự do nhưng khi đã vào thì bạn sẽ mắc kẹt trong đó.

We know that without a boarding pass and proper security check you cannot enter the boarding lounge of the airport. Jesus is the true gate. If any one wants to enter, they will have to follow the discipline of God. You need to accept the true faith which is your boarding pass. You cannot pass through the boarding gate carrying knives, guns and other weapons. In the same way, you have to leave all the selfishness and sins outside before entering through Jesus to salvation.   

Chúng ta biết rằng nếu không có thẻ lên tàu và không kiểm tra an ninh thì bạn không thể vào việc khoang hành khách của máy bay. Chúa Giê Su chính là cổng thực sự. Nếu ai muốn vào, họ sẽ phải tuân theo những kỷ luật của Chúa. Bạn cần phải chấp nhận đức tin thực sự đó chính là thẻ lên tàu của bạn. Bạn không thể vượt qua những cổng vào mà lại mang theo dao, súng và vũ khí. Tương tự, bạn sẽ phải bỏ lại tất cả những sự ích kỷ và tội lỗi ở ngoài trước khi bạn bước vào sự cứu rỗi qua Chúa Giê Su.

4.             The fourth reference is John 10:11 & 14 - I AM the good shepherd. It means that Jesus is the only God who can lead you. Former US President Harry Truman once said, “If you cannot stand the heat, get out of the kitchen”. It means that people will be very excited with all the talks in the kitchen, but when it becomes really hot in the kitchen when the cooking starts, people will start leaving. In the same way, there are so many people who talk sweetly. But, when you are in difficulty or trouble, they will all disappear. 

4. Trường hợp thứ tư là ở trong John 10:11 & 14 – Ta là người chăn nhân lành. Điều này nghĩa là Chúa là vị Chúa duy nhất người chăn dắt bạn. Cựu tổng thống Mỹ Harry Truman từng nói “Nếu bạn không chịu nổi nhiệt, thì đừng đứng trong bếp”. Câu này nghĩa rằng, thường thì mọi người rất hào hứng với tất cả những câu chuyện trong bếp, nhưng khi việc nấu ăn bắt đầu và sức nóng tỏa ra, thì mọi người bắt đầu rời đi. Tương tự, có nhiều người nói rất hay nhưng khi bạn gặp khó khăn hoặc rắc rối thì tất cả đều im lặng hoặc bỏ đi.

The quality of a good leader is that you will never be left orphaned. Jesus said in John 14:18 I will not leave you orphaned, I am coming to you. When we have troubles and difficulties, all we need to do is to call upon the good shepherd who is Jesus Christ. He will immediately say, hey, don't worry, I am coming to help you and save you. 

Đức tính của một người lãnh đạo tốt đó là bạn sẽ không bao giờ bị bỏ rơi. Chúa Giê Su nói trong John 14:18 Ta sẽ không để các con mồ côi đâu, ta sẽ đến với các con. Khi chúng ta gặp khó khăn, rắc rối, tất cả những gì chúng ta cần là kêu cầu vị chăn chiên lành đó là Chúa Giê Su Christ. Ngài sẽ ngay lập tức nói rằng, hey, đừng lo, ta sẽ đến với con, giúp con và cứu con.

5.              The fifth reference is John 11:25 - I AM the resurrection and the life. This was said to Martha when Jesus visited their home four days after the death of her brother Lazarus. Martha  and her sister Mary were hopelessly crying at the death of their only brother Lazarus. Weeping is normal at death, but hopelessly weeping means that the dead person is lost forever. Saint Paul said in 1 Thessalonians 4:13-14 But we do not want you to be uninformed, brothers and sisters, about those who have died, so that you may not grieve as others do who have no hope. For since we believe that Jesus died and rose again, even so, through Jesus, God will bring with Him, those who have died. 

5. Trường hợp thứ năm là John 11:25 – Ta là sự sống lại và là sự sống. Câu này được nói với Martha khi Chúa Giê Su đến thăm nhà họ bốn ngày sau cái chết của em trai của cô ấy là Lazarus. Martha và em gái Mary đang khóc một cách vô vọng trước cái chết của cậu em duy nhất là Lazarus. Trong đám tang, khóc là chuyện bình thường nhưng khóc một cách vô vọng có nghĩa là người chết sẽ phải chết vĩnh viễn. Thánh Paul nói trong 1 Thessalonians 4:13-14 Thưa anh em, chúng tôi không muốn anh em không biết về những người đã ngủ, để anh em không đau buồn như những người khác không có hy vọng. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê Su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người ngủ trong Đức Chúa Giê Su đến với Ngài.

We all have fear of death. But, hopeless fear is against the will of God. When Jesus said, I AM the resurrection and life, it means, we will rise up after death and live with Him forever. Hence, Saint Paul said in Philippians 1: 21 For me, living is Christ and dying is gain. As this verse tells us, as long as we live, we live for Jesus and in Jesus. We continue living in Jesus even after death. It means, there is no death for a true believer. 

Tất cả chúng ta đều sợ chết. Nhưng sự sợ hãi vô vọng đi ngược lại ý muốn của Chúa. Khi Chúa Giê Su nói “Ta là sự sống lại và là sự sống”. Có nghĩa rằng chúng ta sẽ trỗi dậy sau cái chết và sống với Ngài mãi mãi. Do đó, Thánh Paul nói trong Philippians 1:21 Vì đối với tôi, sống là Đấng Christ còn chết là ích lợi. Câu này nói rằng, nếu chúng ta sống thì chúng ta phải sống cho Chúa Giê su và trong Chúa. Chúng ta tiếp tục sống trong Chúa ngay cả sau khi chết. Vì thế đối với những người tin thực sự, thì không có sự chết.

6.             The sixth reference is John 14:6 I AM the way, and the truth, and the life. This means, Jesus is the way. Through this way, we walk in the truth. The truth also is Jesus. Then Jesus is also life. This means, in order to reach our ultimate destination which is heaven, we need to walk the way of Jesus. When we walk the way of Jesus, we cannot have any lies because Jesus is the truth. It means do not lie to yourself saying that it is ok to commit a little bit of sin as long as you walk in Jesus. No. When you walk in Jesus, you have to live in truth too. If we live in truth and walk in the way of Jesus, we will attain eternal life. 1 Peter 2:1-2 Rid yourselves, therefore, of all malice, and all guile, insincerity, envy and all slader. Like newborn infants, long for the pure, spiritual milk, so that by it you may grow into salvation. In short, only through Jesus we can reach and attain salvation.

Trường hợp thứ sáu là ở câu John 14:6 Ta là chân lý, sự thật và đường đi. Câu này nghĩa là, Chúa Giê Su chính là đường đi. Qua đường đi này, chúng ta bước đi trong sự thật. Sự thật cũng chính là Chúa Giê Su. Sau đó Chúa Giê Su cũng là sự sống. Điều này nghĩa là, để đạt đến được cái đích cuối cùng đó là thiên đàng, chúng ta cần phải bước đi con đường của Chúa Giê Su. Khi chúng ta bước đi con đường của Chúa, chúng ta không có sự giả dối bởi vì Chúa Giê Su là sự thật. Có nghĩa rằng đừng nói dối bản thân mình rằng phạm một tí tội cũng là được miễn là mình vẫn tin Chúa là được. Không. Khi bạn bước đi trong Chúa, bạn cũng phải sống trong sự chân thật nữa. Nếu chúng ta sống trong sự chân thật và bước đi theo con đường của Chúa Giê Su, chúng ta sẽ đạt được sự sống đời đời. 1 Peter 2:1-2 Vậy anh em hãy từ bỏ mọi điều độc ác, xảo trá, đạo đức giả, ghen tỵ, và mọi chuyện vu cáo. Anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng thuần khiết như trẻ sơ sinh, để nhờ đó anh em được lớn lên trong sự cứu rỗi. Tóm lại, chỉ qua Chúa Giê Su, chúng ta có thể đạt tới được sự cứu rỗi mà thôi.

7.             The seventh verse is John 15: 1 & 5 I AM the true vine. Jesus further said that God is the true vine grower. Therefore, we need to produce fruits. If we do not produce fruits, then God will just remove us. We know that if we plant a fruit tree, we expect fruits from it. But if it never produces fruit, but just remains as a bog tree, we will just cut it off. In the same way, we may say that we follow the Lord but not produce any spiritual fruits, then we are just a waste. 

7. Câu thứ bảy trong John 15:1&5 – Ta là cây nho thật. Chúa Giê Su sau đó nói tiếp rằng, Chúa chính là người trồng nho. Do đó, chúng ta phải sinh quả. Nếu chúng ta không sinh quả, thì Chúa sẽ loại bỏ chúng ta. Chúng ta biết rằng, nếu chúng ta trồng một cây ăn quả, chúng ta mong phải có quả để ăn. Nhưng nếu nó chẳng bao giờ ra quả, những chỉ là một cái cây vô dụng thì chúng ta sẽ phải chặt nó đi. Tương tự, chúng ta nói thể nói rằng, tôi theo Chúa, nhưng nếu chúng ta không sinh ra quả của Thánh Linh thì chúng ta chỉ là đồ bỏ đi thôi.

So what are the fruits that we need to produce. It is given in Galatians 5:22-23 ….the fruit of the spirit is love, joy, peace, patience, kindness, generosity, faithfulness, gentleness, and self-control. 

If we live and grow like a branch in Jesus the true vine, then it is easy to have these nine qualities. If we do not show these qualities in our lives, we are not eligible to live in Christ. We will be removed from His presence forever. 

Trái của Thánh Linh được đưa ra trong Galatians 5:22-23 đó là yêu thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu và tiết độ.

Nếu chúng ta sống và lớn lên như một cây trong Chúa Giê Su, là cây nho thật, thì sẽ rất dễ dàng để có được 9 đức tính này. Nếu chúng ta không có được những đức tính này trong cuộc sống, chúng ta không xứng đáng để sống trong Chúa Giê Su. Chúng ta sẽ bị loại bỏ đi khỏi sự hiện diện của Ngài mãi mãi.

Saint John established through his writings that Jesus is God. It was from his own personal experience as we read in 1 John 1:1 We declare to you what was from the beginning, what we have heard, what we have seen with our eyes, what we have looked at and touched with our hands, concerning the word of life. 

Thánh John đã nói rõ qua Tin Lành của ông rằng Chúa Giê Su là CHúa. Chính từ trải nghiệm của chính ông như chúng ta đọc được trong 1 John 1:1 Nói về lời sự sống, là điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến.

Saint John spent his time mostly in Jerusalem. Mother Mary lived with him till her death. After her death, Saint John went preaching in Ephesus. He was arrested there and sent to Rome as a prisoner. In Rome, Saint John was ordered to be cast to a large cauldron of boiling oil. As a miracle, he did not die in boiling oil. He was then exiled to the island of Patmos by King Domitian as we read in Revelation 1:9. He wrote the last book of the Bible named Revelation living in exile there. He was exiled to the island thinking that the wild animals would kill and eat him off. But, Saint John, instead was given the greatest revelation ever by Jesus Christ. The book of Revelation contains what is going to happen in the world, and about the end of the world. Tradition says that Saint John came back to Ephesus where we later died. 

Thánh John dành phần lớn cuộc đời ở Jerusalem. Mẹ Mary ở với ông cho đến khi bà mất. Sau khi bà mất, Thánh John đi giảng đạo ở Epherus. Ông bị bắt ở đó và được gửi đến Roma như là tù nhân. Ở Roma, Thánh John bị sai đem quăng vào một vạc dầu sôi. Và phép lạ đã xảy ra, ông không chết trong vạc dầu sôi đó. Sau đó ông bị đầy đến đảo Patmos bởi vua Domitian như được nói đến trong Khải Huyền 1:9. Ông đã viết cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh có tên gọi là Khải Huyền khi bị đi đầy ở đó. Ông bị đầy đến đảo nghĩ rằng các loài thú hoang sẽ giết thịt mình. Nhưng trái lại, Thánh John đã được gửi tặng một mặc khải lớn nhất bởi Chúa Giê Su. Sách Khải Huyền có chứa điều sẽ xảy ra với thế giới này, và về sự cuối cùng của thế gian. Sau đó truyền lại rằng ông quay trở lại Ephesus nơi ông mất,

Saint John dedicated his life to make everyone believe that Jesus is God. Through his teachings, we can come closer to God. 

Thánh John đã tận tâm cống hiến cuộc đời để khiến mọi người tin rằng Chúa Giê Su là Chúa. Qua việc giảng dạy của Ngài, chúng ta có thể đến gần hơn với Chúa.

May his prayers intercede for us. 

Cầu xin sự cầu thay của Thánh cầu thay cho chúng ta.

God bless you. Amen.