Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen.
Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần,
một vị Chúa thực sự. Amen.
Dear brothers and sisters in Christ,
Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,
We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew
10:1-4.
Chúng ta đang học về các sứ đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc
Matthew 10:1-4.
We have studied Saint Peter, Saint Andrews and Saint James in the
last three classes.
Chúng ta đã học về Thánh Peter, Thánh Andrew và Thánh James trong
ba buổi học vừa qua.
Tonight, we are going to study Saint John. Saint John was the
brother of Saint James the Greater. Their parents were Zebedee and Salome. He
was the youngest of all the disciples. He belonged to the inner circle of
Jesus’ disciples. More importantly, Saint John was the most loved of all the
disciples as we read in John 20:2 So she ran and went to Simon Peter and the
other disciple , the one whom Jesus loved, and said to them, they have taken
the Lord out of the tomb and we do not know whether they have laid Him. Also
read John 21:20 Peter turned and saw the disciple whom Jesus saw following
them.
Tối nay, chúng ta sẽ học về Thánh John. Thánh John là em của Thánh
James lớn. Bố mẹ của họ Zebedee và Salome. Ông là người trẻ nhất trong tất cả
các sứ đồ. Ông thuộc những người thân cận với Chúa Giê Su. Quan trọng hơn,
Thánh John là người được Chúa yêu nhất trong tất cả các thánh đồ như chúng ta
đọc được trong John 20:2 Vậy bà chạy đến với Simon Phiero và môn đồ kia, là
người Đức Chúa Giê Su yêu thương, và nói: Người ta đã dời Chúa ra khỏi mộ,
chúng tôi không biết họ để Ngài ở đâu? Cũng hãy đọc John 21:20 Phiero
quay lại thấy môn đồ Đức Chúa Giê Su yêu thương đang theo sau, là người trong
bữa ăn tối đã nghiêng mình trên ngực Đức Chúa Giê Su và hỏi: “Thưa Chúa, ai là
kẻ phản Ngài?”
Another important attribute to Saint John is that Jesus
immediately before His death handed over Mother Mary to Saint John and told him
to take care of her as we read in John 19:25-27 Meanwhile standing near the
cross of Jesus were His mother, and His mother’s sister, Mary the wife of
Clopas, and Mary Magdalene. When Jesus saw His mother and the disciple whom He
loved standing beside her, He said to His mother, Woman, here is your son. Then
He said to the disciple, Here is your mother. And from that hour onwards the
disciple took her into his own house.
Một đặc điểm quan trọng khác nữa của Thánh John đó là Chúa Giê Su
ngay trước khi chết trên cây thập tự đã giao mẹ Ngài là mẹ Mary cho Thánh John
và bảo ông chăm sóc bà như chúng ta đọc trong John 19:25-27, Đức Chúa Giê Su
thấy mẹ Ngài và môn đồ Ngài yêu thương đứng gần thì nói với mẹ rằng: “Thưa bà,
đó là con của bà!” Rồi Ngài nói với môn đồ ấy ‘Nầy là mẹ của con!” Từ giờ đó,
môn đồ nầy đem bà về nhà mình.
Saint John wrote one gospel which is the fourth book of the New
Testament. He also wrote three letters, 1 John, 2 John and 3 John. Finally, he
wrote the last book in the Bible, the book of Revelations.
Thánh John đã viết một chương tin lành đó là cuốn thứ tư trong Tân
Ước ông cũng viết các lá thư 1 John, 2 John và 3 John. Cuối cùng, ông viết cuốn
cuối cùng trong Kinh Thánh, sách Khải Huyền.
The key theme in the gospel according to John is Jesus is God. The
gospel begins with this statement. Let us read John 1:1 In the beginning was
the Word, and the Word was with God, and the Word was God. Then in vs 14
Saint John tells us that this Word is Jesus Christ: And the Word became
flesh and lived among us, and we have seen His glory, the glory of a father’s
only son, full of grace and truth. Through these statements, Saint John
introduces Jesus Christ as the Son of God who came down from heaven to save us
from sin and destruction.
Chủ đề chính trong Tin Lành viết bởi Thánh John là Chúa Giê Su là
Chúa. Tin lành bắt đầu bằng một lời khẳng định. Chúng ta hãy đọc John 1:1 “Ban
đầu có Ngôi Lời. Ngôi Lời ở với Đức Chúa Trời, và Ngôi Lời là Đức Chúa Trời.
Sau đó trong câu 14, Thánh John nói với chúng ta rằng Ngôi Lời này chính là Chúa
Giê Su Christ. Ngôi Lời đã trở nên xác thể, sống giữa chúng ta, đầy ân điển và
chân lý. Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con
Một đến từ nơi Cha. Qua những câu này, Thánh John đã giới thiệu Chúa Giê Su như
là con của Đức Chúa Trời người đã đến từ trời để cứu chúng ta khỏi tội lỗi và
sự hủy diệt.
After this, Saint John focuses on helping us better understand
Jesus Christ. For this, he uses the seven sayings of Jesus. These are called
the seven I AMs said by Jesus. Before looking at each of them, we need to
understand the meaning of the term I AM.
Sau điều nầy, Thánh John tập trung vào việc giúp chúng ta hiểu hơn
về Chúa Giê Su. Để nói về điều này, Thánh John đã sử dụng bảy câu nói của Chúa
Giê Su. Những câu này được gọi là 7 lần “Ta là” ( I AM) do Chúa nói. Trước khi
tìm hiểu những điều này chúng ta cần phải hiểu ý nghĩa là cụm Ta Là.
I AM is the most holy of the terms in the Bible. It is so holy
that the Jewish people did not even dare to use that term because it means GOD.
The very first instance when God said this was when He first appeared to Moses.
Let us read Exodus 3: 13-15 But Moses said to God, If I come to the
Israelites and say to them, The God of your ancestors has sent me to you, and
they ask me, What is His name, what shall I say to them? God said to Moses, I
AM WHO I AM. He said, further, Thus you shall say to the Israelites, I AM has
sent me to you. God also said to Moses, Thus you shall say to the Israelites,
The Lord, the God of your ancestors, the God of Abraham, the God of Isaac, and
the God of Jacob, has sent me to you: This is my name forever, and this is my
title for all generations.
“Ta là” chính là cụm từ thánh sạch nhất trong Kinh Thánh. Nó rất
thánh sạch đến nỗi mà người Do Thái đã không dám sử dụng cụm đó bởi vì cụm đó
nghĩa là Chúa. Sự kiện đầu tiên mà Chúa nói câu này là khi Chúa xuất hiện trước
Môi se. Chúng ta hãy đọc Exodus 3:13-15 Môi se thưa với Đức Chúa Trời: “Nếu con
đi đến với dân Y-sơ-ra-en và nói với họ: “Đức Chúa Trời của tổ phụ anh em sai
tôi đến với anh em; và họ hỏi con: “Tên Ngài là gì?” thì con sẽ nói với họ thế
nào?” Đức Chúa Trời phán: “Ta là Đấng tự hữu hằng hữu” Ngài lại phán: “Hãy nói
với dân Y-sơ-ra-en rằng: “Đấng Tự hữu đã sai tôi đến với anh em.”
As this verse says, the title of God is I AM.
Vậy câu này nói rằng, danh xưng của Chúa là “Đấng tự hữu”
When Jesus said I AM it means He is God who has come to
save us, in the same way as God saved Abraham, Isaac, and Jacob.
Khi Chúa Giê Su nói “Ta là” nghĩa là Ngài là Chúa người đến để cứu
chúng ta, tương tự như cách Chúa đã cứu Abraham, Issac và Jacob.
The primary purpose of the gospel according to Saint John is to
tell that Jesus is God. For this he uses the seven I AMs said by Jesus.
Let us briefly look at each:
Mục đích chính của Tin Lành theo Thánh John là để nói rằng Chúa
Giê Su là Chúa. Để nói điều này, Ngài sử dụng 7 lần nói “Ta là”. Chúng ta hãy
cùng điểm qua mỗi lần này:
1.
The first reference is John 6:35 and 6:48 - I AM the
bread of life. The context of the first is given in John 6:25-30; and the
context of the second I AM the bread of life is given in John 6:48-51.
1. Trường hợp đầu tiên là trong
John 6:35 và 6:48 – Ta là bánh của sự sống. Hoàn cảnh của câu này được đưa ra
trong John 6:25-30. Và hoàn cảnh của câu Ta là bánh của sự sống được đưa ra
trong John 6:48-51.
Through this saying, Jesus is teaching us that there are two types
of food. One is the food which is earned through selfish means. As we see in
the first instance, people were searching for Jesus not because they have
experienced God, but just because they got plenty of food from Jesus. This
happened immediately after Jesus blessed and multiplied five loaves of bread
and two fish, and fed more than five thousand people as we read in the
beginning of chapter 6.
Qua câu này, Chúa Giê Su đang dạy chúng ta rằng có hai loại đồ ăn.
Một loại đồ ăn có được qua các con đường ích kỷ. Như chúng ta đọc trong trường
hợp đầu tiên, người ta tìm kiếm Chúa Giê Su không phải bởi vì họ có trải nghiệm
với Chúa, nhưng bởi vì họ có nhiều thức ăn từ Chúa Giê Su. Điều này xảy ra ngay
sau khi Chúa Giê Su ban phước và nhân số lượng năm ổ bánh mì và hai con cá và
cho hơn năm ngàn người ăn như chúng ta đọc ở đầu Chương 6.
The second instance also is selfish as Jesus reminds them that
your forefathers ate manna in the desert, but still they have perished. Even
though manna was provided by God, the people rebelled against God and they all
perished.
Ví dụ thứ hai cũng là một trường hợp ích kỷ khác khi Chúa nhắc nhở
họ rằng tổ tiên của họ ăn bánh mana trong sa mạc nhưng họ vẫn bị hư mất. Mặc dù
mana được Chúa ban cho, nhưng người ta vẫn nổi loạn chống lại Chúa và tất cả
đều bị hư mất.
Hence Jesus said, worldly food for which you become so selfish is
not worth it. Instead, one should strive for the food that God gives, which is
His own body.
Do đó, Chúa Giê Su nói, thức ăn đời này mà chúng ta trở nên ích kỷ
vì nó thì không đáng giá gì. Thay vào đó, một người nên tìm kiếm thức ăn mà
Chúa ban cho, đó chính là thân xác của Ngài.
2.
The second reference is John 8:12 - I AM the light of the
world. People often believe and say, I know what I am doing, I know where I
am going, I do not need any one’s advice or guidance. This is another drawback
of selfish people. Such people are termed as ‘haughty’ in the Bible. Let us
read 2 Samuel 22:28-31. As this verse suggests, those who think they can
do everything by themselves are egoistic and stubborn. Psalm 89:15 Happy are
those who know the festal shout, who walk, O Lord in the light of your
countenance.
2. Trường hợp
thứ hai là John 8:12 – Ta là ánh sáng của thế gian. Mọi người thường tin và
nói, tôi điều tôi đang làm, tôi biết tôi đang đi đâu, tôi không cần lời khuyên của
ai hoặc sự dẫn dắt của ai. Đây là một điểm yếu khác của những người ích kỷ.
Người người này được đặt tên gọi là “ngạo mạn” trong Kinh Thánh. Chúng ta hãy
đọc 2 Samuel 22:28-31 “Chúa giải cứu người khiêm tốn, Nhưng Chúa để mắt nhìn
kẻ kiêu căng để hạ chúng xuống. Đức Giê Hô Va ôi, Ngài là ngọn đèn của con, Đức
Giê Hô Va sẽ chiếu vào sự tăm tối của con. Nhờ Chúa, con có thể tấn công quân
địch. Cậy Đức Chúa Trời, con vượt qua lũy thành. Như câu này nói, những ai
nghĩa rằng họ có thể làm tất cả mọi thứ là những kẻ đầy ngang ngược và tự mãn.
Thi Thiên 89:15 “Phước cho dân tộc nào biết cất tiếng vui mừng, họ bước đi
trong ánh sáng của mặt Chúa.”
The message is that we need to listen to the Lord and walk as per
His guidance and not what we think is right.
Thông điệp ở đây là chúng ta cần phải lắng nghe lời Chúa và bước
đi trong trong sự dẫn dắt của Ngài chứ không phải những gì chúng ta nghĩ là
đúng.
3.
The third reference is John 10:9 - I AM the gate. Jesus
then said, whoever enters through this gate will be saved. They can freely come
in and go out and find pasture. This means that there is only one gate to be
saved. That gate is Jesus Christ. People often prefer gates of convenience
where they can continue their selfish and sinful life and follow a god. That is
the reason we have so many religions in the world. People can choose any
religion which suits their selfish lifestyle. But, as Jesus said, those who
offer salvation apart from God, are thieves and bandits. They will take away
all your money and will leave you in the dark. You can enter through those
gates freely, but once you enter you are trapped.
Trường hợp thứ ba là John 10:9 – Ta
là cổng. Chúa Giê Su sau đó nói thêm rằng: ai bước qua cổng này sẽ được cứu. Họ
có thể tự do vào và ra và tìm đồng cỏ. Điều này có nghĩa là chỉ có một cổng duy
nhất dẫn tới sự sống. Cổng đó chính là Chúa Giê Su Christ. Mọi người thường
thích những cái cổng mà nó đem lại sự tiện nghi cho họ để mà họ có thể vừa tiếp
tục lối sống sai trái tội lỗi và vừa có một vị Chúa gì đó để thờ lạy. Đó là lý
do chúng ta có rất nhiều tôn giáo trên thế giới. Người ta có thể lựa chọn bất
kỳ một tôn giáo nào mà phù hợp với lối sống của mình. Nhưng Chúa Giê Su nói
rằng, kẻ nào nói sẽ cứu rỗi được chúng ta ngoại trừ Đức Chúa Trời thì đều mà
những kẻ trộm cắp và kẻ cướp. Họ sẽ lấy tiền của bạn và để bạn lại trong bóng
tối. Bạn có thể vào qua các cửa này một cách tự do nhưng khi đã vào thì bạn sẽ
mắc kẹt trong đó.
We know that without a boarding pass and proper security check you
cannot enter the boarding lounge of the airport. Jesus is the true gate. If any
one wants to enter, they will have to follow the discipline of God. You need to
accept the true faith which is your boarding pass. You cannot pass through the
boarding gate carrying knives, guns and other weapons. In the same way, you
have to leave all the selfishness and sins outside before entering through
Jesus to salvation.
Chúng ta biết rằng nếu không có thẻ lên tàu và không kiểm tra an
ninh thì bạn không thể vào việc khoang hành khách của máy bay. Chúa Giê Su
chính là cổng thực sự. Nếu ai muốn vào, họ sẽ phải tuân theo những kỷ luật của
Chúa. Bạn cần phải chấp nhận đức tin thực sự đó chính là thẻ lên tàu của bạn.
Bạn không thể vượt qua những cổng vào mà lại mang theo dao, súng và vũ khí.
Tương tự, bạn sẽ phải bỏ lại tất cả những sự ích kỷ và tội lỗi ở ngoài trước
khi bạn bước vào sự cứu rỗi qua Chúa Giê Su.
4.
The fourth reference is John 10:11 & 14 - I AM the good
shepherd. It means that Jesus is the only God who can lead you. Former US
President Harry Truman once said, “If you cannot stand the heat, get out of the
kitchen”. It means that people will be very excited with all the talks in the
kitchen, but when it becomes really hot in the kitchen when the cooking starts,
people will start leaving. In the same way, there are so many people who talk
sweetly. But, when you are in difficulty or trouble, they will all
disappear.
4. Trường hợp thứ tư là ở trong
John 10:11 & 14 – Ta là người chăn nhân lành. Điều này nghĩa là Chúa là vị
Chúa duy nhất người chăn dắt bạn. Cựu tổng thống Mỹ Harry Truman từng nói “Nếu
bạn không chịu nổi nhiệt, thì đừng đứng trong bếp”. Câu này nghĩa rằng, thường
thì mọi người rất hào hứng với tất cả những câu chuyện trong bếp, nhưng khi
việc nấu ăn bắt đầu và sức nóng tỏa ra, thì mọi người bắt đầu rời đi. Tương tự,
có nhiều người nói rất hay nhưng khi bạn gặp khó khăn hoặc rắc rối thì tất cả
đều im lặng hoặc bỏ đi.
The quality of a good leader is that you will never be left
orphaned. Jesus said in John 14:18 I will not leave you orphaned, I am
coming to you. When we have troubles and difficulties, all we need to do is
to call upon the good shepherd who is Jesus Christ. He will immediately say,
hey, don't worry, I am coming to help you and save you.
Đức tính của một người lãnh đạo tốt đó là bạn sẽ không bao giờ bị
bỏ rơi. Chúa Giê Su nói trong John 14:18 Ta sẽ không để các con mồ côi đâu, ta
sẽ đến với các con. Khi chúng ta gặp khó khăn, rắc rối, tất cả những gì chúng
ta cần là kêu cầu vị chăn chiên lành đó là Chúa Giê Su Christ. Ngài sẽ ngay lập
tức nói rằng, hey, đừng lo, ta sẽ đến với con, giúp con và cứu con.
5.
The fifth reference is John 11:25 - I AM the resurrection
and the life. This was said to Martha when Jesus visited their home four
days after the death of her brother Lazarus. Martha and her sister Mary
were hopelessly crying at the death of their only brother Lazarus. Weeping is
normal at death, but hopelessly weeping means that the dead person is lost
forever. Saint Paul said in 1 Thessalonians 4:13-14 But we do not want you
to be uninformed, brothers and sisters, about those who have died, so that you
may not grieve as others do who have no hope. For since we believe that Jesus
died and rose again, even so, through Jesus, God will bring with Him, those who
have died.
5. Trường hợp
thứ năm là John 11:25 – Ta là sự sống lại và là sự sống. Câu này được nói với
Martha khi Chúa Giê Su đến thăm nhà họ bốn ngày sau cái chết của em trai của cô
ấy là Lazarus. Martha và em gái Mary đang khóc một cách vô vọng trước cái chết
của cậu em duy nhất là Lazarus. Trong đám tang, khóc là chuyện bình thường
nhưng khóc một cách vô vọng có nghĩa là người chết sẽ phải chết vĩnh viễn.
Thánh Paul nói trong 1 Thessalonians 4:13-14 Thưa anh em, chúng tôi không
muốn anh em không biết về những người đã ngủ, để anh em không đau buồn như
những người khác không có hy vọng. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê Su đã chết
và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người ngủ trong Đức Chúa
Giê Su đến với Ngài.
We all have fear of death. But, hopeless fear is against the will
of God. When Jesus said, I AM the resurrection and life, it means, we
will rise up after death and live with Him forever. Hence, Saint Paul said in Philippians
1: 21 For me, living is Christ and dying is gain. As this verse tells us,
as long as we live, we live for Jesus and in Jesus. We continue living in Jesus
even after death. It means, there is no death for a true believer.
Tất cả chúng ta đều sợ chết. Nhưng sự sợ hãi vô vọng đi ngược lại
ý muốn của Chúa. Khi Chúa Giê Su nói “Ta là sự sống lại và là sự sống”. Có
nghĩa rằng chúng ta sẽ trỗi dậy sau cái chết và sống với Ngài mãi mãi. Do đó,
Thánh Paul nói trong Philippians 1:21 Vì đối với tôi, sống là Đấng Christ còn
chết là ích lợi. Câu này nói rằng, nếu chúng ta sống thì chúng ta phải sống cho
Chúa Giê su và trong Chúa. Chúng ta tiếp tục sống trong Chúa ngay cả sau khi
chết. Vì thế đối với những người tin thực sự, thì không có sự chết.
6.
The sixth reference is John 14:6 I AM the way, and the truth,
and the life. This means, Jesus is the way. Through this way, we walk in
the truth. The truth also is Jesus. Then Jesus is also life. This means, in
order to reach our ultimate destination which is heaven, we need to walk the
way of Jesus. When we walk the way of Jesus, we cannot have any lies because
Jesus is the truth. It means do not lie to yourself saying that it is ok to
commit a little bit of sin as long as you walk in Jesus. No. When you walk in
Jesus, you have to live in truth too. If we live in truth and walk in the way
of Jesus, we will attain eternal life. 1 Peter 2:1-2 Rid yourselves,
therefore, of all malice, and all guile, insincerity, envy and all slader. Like
newborn infants, long for the pure, spiritual milk, so that by it you may grow
into salvation. In short, only through Jesus we can reach and attain
salvation.
Trường hợp thứ sáu là ở câu John
14:6 Ta là chân lý, sự thật và đường đi. Câu này nghĩa là, Chúa Giê Su chính là
đường đi. Qua đường đi này, chúng ta bước đi trong sự thật. Sự thật cũng chính
là Chúa Giê Su. Sau đó Chúa Giê Su cũng là sự sống. Điều này nghĩa là, để đạt
đến được cái đích cuối cùng đó là thiên đàng, chúng ta cần phải bước đi con
đường của Chúa Giê Su. Khi chúng ta bước đi con đường của Chúa, chúng ta không
có sự giả dối bởi vì Chúa Giê Su là sự thật. Có nghĩa rằng đừng nói dối bản
thân mình rằng phạm một tí tội cũng là được miễn là mình vẫn tin Chúa là được.
Không. Khi bạn bước đi trong Chúa, bạn cũng phải sống trong sự chân thật nữa.
Nếu chúng ta sống trong sự chân thật và bước đi theo con đường của Chúa Giê Su,
chúng ta sẽ đạt được sự sống đời đời. 1 Peter 2:1-2 Vậy anh em hãy từ bỏ mọi
điều độc ác, xảo trá, đạo đức giả, ghen tỵ, và mọi chuyện vu cáo. Anh em hãy
khao khát sữa thiêng liêng thuần khiết như trẻ sơ sinh, để nhờ đó anh em được
lớn lên trong sự cứu rỗi. Tóm lại, chỉ qua Chúa Giê Su, chúng ta có thể đạt tới
được sự cứu rỗi mà thôi.
7.
The seventh verse is John 15: 1 & 5 I AM the true vine. Jesus
further said that God is the true vine grower. Therefore, we need to produce
fruits. If we do not produce fruits, then God will just remove us. We know that
if we plant a fruit tree, we expect fruits from it. But if it never produces
fruit, but just remains as a bog tree, we will just cut it off. In the same
way, we may say that we follow the Lord but not produce any spiritual fruits,
then we are just a waste.
7. Câu thứ bảy trong John
15:1&5 – Ta là cây nho thật. Chúa Giê Su sau đó nói tiếp rằng, Chúa chính
là người trồng nho. Do đó, chúng ta phải sinh quả. Nếu chúng ta không sinh quả,
thì Chúa sẽ loại bỏ chúng ta. Chúng ta biết rằng, nếu chúng ta trồng một cây ăn
quả, chúng ta mong phải có quả để ăn. Nhưng nếu nó chẳng bao giờ ra quả, những
chỉ là một cái cây vô dụng thì chúng ta sẽ phải chặt nó đi. Tương tự, chúng ta
nói thể nói rằng, tôi theo Chúa, nhưng nếu chúng ta không sinh ra quả của Thánh
Linh thì chúng ta chỉ là đồ bỏ đi thôi.
So what are the fruits that we need to produce. It is given in Galatians
5:22-23 ….the fruit of the spirit is love, joy, peace, patience, kindness,
generosity, faithfulness, gentleness, and self-control.
If we live and grow like a branch in Jesus the true vine, then it
is easy to have these nine qualities. If we do not show these qualities in our
lives, we are not eligible to live in Christ. We will be removed from His
presence forever.
Trái của Thánh Linh được đưa ra trong Galatians 5:22-23 đó là yêu
thương, vui mừng, bình an, nhịn nhục, nhân từ, hiền lành, trung tín, khiêm nhu
và tiết độ.
Nếu chúng ta sống và lớn lên như một cây trong Chúa Giê Su, là cây
nho thật, thì sẽ rất dễ dàng để có được 9 đức tính này. Nếu chúng ta không có
được những đức tính này trong cuộc sống, chúng ta không xứng đáng để sống trong
Chúa Giê Su. Chúng ta sẽ bị loại bỏ đi khỏi sự hiện diện của Ngài mãi mãi.
Saint John established through his writings that Jesus is God. It
was from his own personal experience as we read in 1 John 1:1 We declare to
you what was from the beginning, what we have heard, what we have seen with our
eyes, what we have looked at and touched with our hands, concerning the word of
life.
Thánh John đã nói rõ qua Tin Lành của ông rằng Chúa Giê Su là
CHúa. Chính từ trải nghiệm của chính ông như chúng ta đọc được trong 1 John 1:1
Nói về lời sự sống, là điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều mắt
chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến.
Saint John spent his time mostly in Jerusalem. Mother Mary lived
with him till her death. After her death, Saint John went preaching in Ephesus.
He was arrested there and sent to Rome as a prisoner. In Rome, Saint John was
ordered to be cast to a large cauldron of boiling oil. As a miracle, he did not
die in boiling oil. He was then exiled to the island of Patmos by King Domitian
as we read in Revelation 1:9. He wrote the last book of the Bible named
Revelation living in exile there. He was exiled to the island thinking that the
wild animals would kill and eat him off. But, Saint John, instead was given the
greatest revelation ever by Jesus Christ. The book of Revelation contains what
is going to happen in the world, and about the end of the world. Tradition says
that Saint John came back to Ephesus where we later died.
Thánh John dành phần lớn cuộc đời ở Jerusalem. Mẹ Mary ở với ông
cho đến khi bà mất. Sau khi bà mất, Thánh John đi giảng đạo ở Epherus. Ông bị
bắt ở đó và được gửi đến Roma như là tù nhân. Ở Roma, Thánh John bị sai đem
quăng vào một vạc dầu sôi. Và phép lạ đã xảy ra, ông không chết trong vạc dầu
sôi đó. Sau đó ông bị đầy đến đảo Patmos bởi vua Domitian như được nói đến
trong Khải Huyền 1:9. Ông đã viết cuốn sách cuối cùng của Kinh Thánh có tên gọi
là Khải Huyền khi bị đi đầy ở đó. Ông bị đầy đến đảo nghĩ rằng các loài thú hoang
sẽ giết thịt mình. Nhưng trái lại, Thánh John đã được gửi tặng một mặc khải lớn
nhất bởi Chúa Giê Su. Sách Khải Huyền có chứa điều sẽ xảy ra với thế giới này,
và về sự cuối cùng của thế gian. Sau đó truyền lại rằng ông quay trở lại
Ephesus nơi ông mất,
Saint John dedicated his life to make everyone believe that Jesus
is God. Through his teachings, we can come closer to God.
Thánh John đã tận tâm cống hiến cuộc đời để khiến mọi người tin
rằng Chúa Giê Su là Chúa. Qua việc giảng dạy của Ngài, chúng ta có thể đến gần
hơn với Chúa.
May his prayers intercede for us.
Cầu xin sự cầu thay của Thánh cầu thay cho chúng ta.
God bless you. Amen.
No comments:
Post a Comment