Monday, December 20, 2021

Matthew 11:20-24: nếu người ở Ty-rơ, Si đôn và Sô đôm chứng kiến những dấu lạ, hẳn là họ đã ăn năn sám hối lâu rồi.

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We studied Matthew 11:7-19. There we saw who John the Baptist actually was, and how was different from other prophets. 

Chúng ta đã học Matthew 11:7-19. Ở đó chúng ta thấy John The Baptist thực sự là ai và ông khác so với các nhà tiên tri khác như thế nào.

Tonight, we study Matthew 11:20-24. Let us read. 

Tối nay chúng ta sẽ học Matthew 11:20-24.

Jesus taught about repentance in this section. He explained what happens when a person repents and what happens when someone refuses to repent. He directly identifies the people of the lands who had refused to repent. They were the people of Chorazin, Bethsaida, and Capernaum.  These people had the privilege to witness many of the miracles that Jesus performed. But, even after directly witnessing miracles, there was no change in them. Whatever changes they had was just temporary. When they saw the miracles, they would repent. But, again after a while they slip back to their previous sinful lifestyle. 

Chúa Giê Su đã dạy về sự ăn năn trong phần này. Ngài giải thích chuyện gì xảy ra khi một người ăn năn và chuyện gì xảy ra khi một người từ chối ăn năn sám hối. Ngài chỉ rõ những người ở những miền đất từ chối sám hối. Họ là người ở vùng Cô ra xin, Bết Sai Đa và Ca pe na um. Những người này đã có vinh dự được chứng kiến rất nhiều những dấu lạ mà Chúa Giê Su đã thực hiện. Nhưng ngay cả khi trực tiếp chứng kiến những phép lạ mà Chúa thực hiện, họ cũng không có bất kỳ thay đổi nào. Bất kể thay đổi nào mà họ có chỉ là tạm thời. Khi họ nhìn thấy các dấu lạ, họ sẽ ăn năn. Nhưng sau một khoảng thời gian họ lại quay trở lại lối sống tội lỗi trước kia của mình,

The other three cities that Jesus mentioned were Tyre, Sidon, and Sodom. These three were sinful cities. But the people living in those places did not have an opportunity to witness Jesus’ miracles. Jesus said, had they witnessed the miracles, they would have sincerely repented. 

Có ba thành phố khác mà Chúa cũng đề cập đến là Ty-rơ, Sy đôn và Sô-đôm. Ba thành phố này là những thành phố tội lỗi. Tuy nhiên mọi người sống ở những nơi này không có cơ hội được chứng kiến những phép lạ của Chúa Giê Su. Chúa Giê Su nói rằng, nếu họ chứng kiến những dấu lạ, họ hẳn đã mặc áo sô, đội tro và sám hối lâu rồi.

Even today, we have two sets of people. One set experiences the love of Jesus and receives the blessings from the Lord, but still are inclined to sins. They are whitewashed tombs as I mentioned in the last class. The changes in them are temporary. James 4:17 Anyone then, who knows the right thing to do and fails to do it, commits sins. As this verse says, when you know what a sin is, you are expected to keep away from it. If you commit sin knowing that it is a sin, you will be judged by God as we read in Hebrews 10:26-27 For if we wilfully persist in sin after having received the knowledge of the truth, there no longer remains a sacrifice for sins, but a fearful prospect of judgement, and a fury of fire that will consume the adversaries. 

Ngay cả hôm nay, chúng ta có hai loại người. Một kiểu người đã trải nghiệm tình yêu của Chúa và đang nhận các ân điển của Ngài nhưng vẫn có xu hướng phạm tội. Họ là những lăng mộ trắng như Cha đã dạy ở bài trước. Những thay đổi của họ chỉ là tạm thời. James 4:17 Vậy ai biết điều tốt phải làm mà không làm thì phạm tội. Câu này nói rằng, khi bạn biết đâu là tội, bạn được mong đợi là sẽ tránh xa khỏi nó. Nếu bạn phạm tội khi mà biết rõ đấy là tội, bạn sẽ bị Chúa phán xét như trong Hebrews 10:26-27, Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa nhưng chỉ kinh khiếp chờ đợi sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi.

The second set of people are those who live in sin, but do not know that they are living in sin. They do not know because nobody has told them what sin is. They are the people who have never heard about Jesus nor experienced His love in their lives. Jesus said in John 9:41 Jesus said to them, If you were blind, you would not have sin. But now that you say, We see, your sin remains. As mentioned in the last class, the blind are those who are living in darkness and have never seen Jesus. So, God treats them as sinners without the knowledge of sin. This is the reason why Jesus prayed for those soldiers who tortured and crucified Him as we read in Luke 23:34 Then Jesus said, Father, forgive them; for for they do not know what they are doing. The soldiers were Romans and they were gentiles. They never had the opportunity to experience the love of Jesus. Hence, though they tortured and crucified HIm, Jesus prayed for them so that their sins could be forgiven by the Father. 

Kiểu người thứ hai là những người sống trong tội lỗi nhưng không biết rằng họ đang sống trong tội. Họ không biết bởi vì không ai nói với họ tội là gì. Họ là những người chưa bao giờ trải nghiệm về Chúa và cũng chưa biết tình yêu của Ngài trong đời sống của họ. Chúa Giê Su nói trong John 9:41 Đức Chúa Giê Su đáp: Nếu các ngươi mù thì không có tội gì, nhưng vì các ngươi nói: Chúng tôi thấy, nên tội các ngươi vẫn còn. Như được đề cập trong bài trước, người mù là những người sống trong bóng tối và chưa từng nhìn thấy Chúa. Đây là lý do Chúa đã cầu nguyện cho những người lính đánh đập và khổ hình Ngài như chúng ta đọc trong Luke 23:34 Chúa Giê Su nói, Lạy Cha, xin hãy tha thứ cho họ vì họ không biết những điều họ làm. Những người lính là người Romans và là dân ngoại đạo. Họ chưa từng có cơ hội trải nghiệm tình yêu thương của Chúa Giê Su. Do đó, mặc dầu họ đánh đập và khổ hình Ngài, Chúa Giê Su vẫn cầu nguyện cho họ để mà tội lỗi của họ được Chúa Cha tha thứ. 

As we see here, whether you know it or not, a sin is a sin. The only difference is that if you know about sin and then commit it, you can expect punishment. But, if you have not heard about Jesus and live in sin, you can always plead for mercy. Jesus said, if the people of Tyre, Sidon and Sodom experienced the love of Jesus and witnessed the signs, they would have sincerely repented. 

Như chúng ta thấy ở đây, cho dù mình biết hay không biết, tội vẫn là tội. Sự khác biệt chỉ là nếu bạn biết về tội và vẫn phạm vào, bạn sẽ bị phạt. Nhưng nếu bạn chưa được biết về Chúa Giê Su và bạn phạm tội, bạn có thể cầu xin sự thương xót của Chúa. Chúa Giê Su nói, nếu người ở Ty-rơ, Si đôn và Sô đôm biết về Chúa và chứng kiến những dấu lạ của Ngài, hẳn là họ đã ăn năn sám hối lâu rồi.

We need to have a sound understanding of repentance. At the outset, repentance is an emotion and an action. Imagine a sin that you committed in the past which you enjoyed a lot at that time. At that time, you did not know Jesus and you did not know what sin is, and you thought it was great pleasure. But, after experiencing the love of Jesus, now you feel disgusting about those sins and become emotional. But, if you suppress your emotions, it would affect your mental health. In order to avoid that, you need to act on your emotions. Acting on your emotion means you decide to confess and make a permanent decision never to commit that sin again. You decide not to repeat those sins because you know how much you suffered due to those sins. You make such a strong decision because after experiencing the love of Jesus, you feel disgusted when the memory of those past sins come to your mind. This is the basis of true repentance- a combination of emotion and action. 

Chúng ta cần phải có sự hiểu rõ về sự sám hối. Đầu tiên, sự sám hối là một cảm xúc và cũng là hành động. Tưởng tượng, một tội mà bạn phạm phải trong quá khứ mà thời điểm đó bạn cảm thấy rất vui thích. Lúc đó, bạn không biết đến Chúa Giê Su và bạn không biết tội là gì, và bạn nghĩ đấy là một điều vui. Nhưng sau khi biết về Chúa, bạn cảm thấy kinh tởm về những tội lỗi đó và trở nên xúc động. Nhưng nếu bạn dồn nén những cảm xúc của bạn, nó sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần của bạn. Để tránh điều đó, bạn cần phải hành động với cảm xúc của bạn. Hành động ở đây nghĩa là bạn quyết định sám hối và đưa ra quyết định vĩnh viễn là bạn sẽ không giờ phạm phải tội lỗi. Bạn quyết định không phạm phải những tội lỗi đó bởi vì bạn biết bạn đã phải khốn khổ thế nào do phạm tội. Bạn đưa ra quyết định mạnh mẽ bởi vì sau khi trải nghiệm tình yêu của Chúa, bạn cảm thấy kinh tởm khi những ký ức của những tội lỗi đã qua quay trở lại tâm trí bạn. Đây là điều cơ bản của sự sám hối thực sự - một sự kết hợp của cảm xúc và hành động.

2 Peter 2:20-22 For if, after they have escaped the defilements of the world through the knowledge of our Lord and Saviour Jesus Christ, they are again entangled in them and overpowered, the last state has become worse for them than the first. For it would have been better for them never to have known the way of righteousness than, after knowing it, to turn back from the holy commandment that has passed on to them. It has happened to them according to the true proverb, The dog turns back to its own vomit, and The sow is washed only to wallow in the mud.  

2 Peter 2:20-22: Vì nếu nhờ sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê Su Christ mà họ đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, nhưng nay lại bị lôi cuốn và phải quy phục những điều đó một lần nữa, thì tình trạng cuối cùng của họ còn tệ hại hơn lúc đầu. Thà họ không biết con đường công chính còn hơn là đã biết mà còn quay lưng lại với điều răn thánh đã được truyền dạy cho mình. Điều xảy đến cho họ thật đúng với tục ngữ: Chó liếm lại đồ nó đã mửa và heo tắm sạch lại lăn lóc trong vũng bùn.

Imagine that you fell in a sewage tank and got your whole body covered with all sorts of dirt in the tank. You are lying there without anyone to get you out. After a long time, someone passes by and sees you drowning in the tank. That person helps you to get out, helps you to get cleaned and change your clothes. After being cleansed, you are now completely clean. Then you say thank you to the person and walk home. The person who helped you reminds you before parting to be careful of sewage tanks in future. Either on your way back, or later, will you ever jump into the sewage tank again to experience the ugly things in the tank? Or will you always be careful not to fall into the tank? If you are a studpid person, you may jump into it without thinking about the bad experience you had when you fell into the sewage tank. 

Tưởng tượng rằng bạn rơi vào một hố rác và toàn thân thể bạn bốc mùi với tất cả những thứ bẩn thỉu trong cái hố đó. Bạn nằm đó và không ai giúp bạn. Sau một thời gian dài, có ai đó đi ngang qua và nhìn thấy bạn đang chìm trong hố đó. Người đó giúp bạn ra khỏi hố, giúp bạn rửa sạch và thay quần áo cho bạn. Sau khi được rửa sạch, giờ đây bạn hoàn toàn sạch sẽ. Sau đó bạn nói cảm ơn người đó và đi về nhà. Người giúp bạn nhắc bạn trước khi chia tay rằng trong tương lai hãy cẩn thận đừng dẫm phải hố nữa nhé. Trên đường về hoặc sau đó, liệu bạn có lại dẫm phải hố và lại ngã xuống hố rác nữa không? Nếu bạn là một kẻ ngốc nghếch, bạn có thể lại dẫm phải hố mà không suy nghĩ về những trải nghiệm kinh khủng trước kia.

This is what the above verses means. Imagine, you grab a pig from mud, shower it with expensive shampoo and tell it to stay clean. Is the pig going to listen to you? As soon as you release the pig, it will straight away go back to the same muddy place. But we are human beings. We are the most intelligent of all the creations of God. When the memory of our past dirty and stinking life comes to our mind, we feel it as disgusting. That feeling of disgust leads us to repentance. That feeling of disgust should enable us to make stronger decisions never to even look at the sinful past. That is what true repentance is. Jesus said in Luke 13:3 Unless you repent, you will all perish. So, the very first thing that we should have is the feeling of disgust when we think about our sins. This is the reason why Jesus started His ministry with the proclamation to repent as we studied earlier in Matthew 3:17 From that time Jesus began to proclaim, Repent, for the kingdom of heaven has come near. 

Đây là ý nghĩa của những câu này. Tưởng tượng, bạn lôi một con lợn ra khỏi bùn, tắm cho nó bằng dầu gội thơm phức và bảo nó là từ giờ sạch sẽ đi nhé. Liệu con lợn có nghe bạn không? Ngay sau khi thả nó ra, nó sẽ ngay lập tức quay trở lại cùng một chỗ bùn đó. Nhưng chúng ta là con người cơ mà. Chúng ta là tạo vật thông mình nhất trong tất cả các tạo vật của Chúa. Khi ký ức của quá khứ bẩn thỉu đến với ký ức, chúng ta cảm thấy nó kinh tởm. Cảm giác kinh tởm đó đưa dẫn chúng ta đến với sự sám hối. Cảm giác kinh tởm cho phép chúng ta có những quyết định mạnh mẽ hơn không bao giờ thậm chí nhìn về quá khứ nữa. Đó là sự sám hối thực sự. Chúa Giê Su nói trong Luke 13:3 Nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất. Vì vậy điều đầu tiên mà chúng ta cần phải có đó là cảm giác kinh tởm khi chúng ta nghĩ về những tội lỗi của chúng ta. Đây là lý do tại sao khi Chúa Giê Su bắt đầu rao giảng Ngài bắt đầu bằng lời tuyên cáo về sự ăn năn sám hối trong Matthew 4:17, Từ lúc ấy, Đức Chúa Giê Su bắt đầu rao giảng rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần.

Imagine that you got an opportunity to have coffee with Jesus. You are so excited to meet Jesus and about the opportunity to spend time with Him. You and Jesus are in a coffee house sitting at a table. While having coffee and chatting, a person with whom you have committed sin in the past walks into the coffee house and sits at another table. What will you do? Will you leave Jesus and go and sit with that person? Or will you feel disgusted to see that person as suddenly all the past sinful memories come to your mind? If you are enjoying time with Jesus and enjoying His sweet talk and His love, you will sit even closer to Jesus when you see the other person. This is what true repentance is. After repentance we are living with God in His house. We would never want to go back and live in our old sinful place. Hence Psalm 84:1-2 says How lovely is your dwelling place, O Lord of hosts! My soul longs, indeed it faints for the courts of the Lord; my heart and my flesh sing for joy to the living God.

Tưởng tượng rằng, bạn có cơ hội ngồi uống café với Chúa Giê Su. Bạn rất háo hức được gặp Chúa và có cơ hội được dành thời gian với Ngài. Bạn và Chúa ngồi trong quán café ở một cái bàn. Khi đang uống café và đang nói chuyện, một người mà bạn đã từng phạm tội đi ngang qua và ngồi vào bàn gần bạn. Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ rời Chúa Giê Su và đi ngồi với người kia chăng? Hay bạn cảm thấy xấu hổ và ghê tởm khi những ký ức tội lỗi ùa về? Nếu bạn đang vui với Chúa và thích những lời nói ngọt ngào của Ngài cũng như tình yêu của Ngài, bạn sẽ ngồi gần hơn với Chúa khi bạn nhìn thấy người kia. Đây là sự sám hối thực sự. Sau khi sám hối bạn ngồi cùng với Chúa trong nhà của Ngài. Chúng ta sẽ không bao giờ muốn quay lại và sống trong những nơi tội lỗi nữa. Do đó, Thi Thiên 84:1-2, Lạy Đức Giê Hô Va vạn quân, nơi ngự của Ngài đáng yêu thay! Linh hồn con mong ước đến nỗi hao mòn về hành lang của Đức Giê Hô Va; Tâm hồn và thể xác con cất tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời hằng sống.

Secondly, repentance is what Saint Paul said in 2 Corinthians 7:10 For Godly grief produces a repentance that leads to salvation and brings no regret, but worldly grief produces death. This verse needs to be clearly understood. As this verse states, there are two types of grief. The first type is Godly grief and the second type is worldly grief. The meaning of grief is intense sorrow. For example, when someone close to us dies, we are drowned in grief. Likewise, when we realise the number of years that we wasted living in sin, we are stuck by grief. In both these cases we are at permanent loss. We are not going to get back the person who is dead. Likewise, we are not going to get back the days that we lived in sin. Then the question arises, how do we move forward?

Thứ hai, sự sám hối là những gì Thánh Paul nói đến trong 2 Corinthians 7:10, Vì sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời sinh ra sự ăn năn để được cứu rỗi, điều này không có gì nuối tiếc nhưng sự đau buồn theo thế gian thì dẫn đén sự chết. Câu này cần phải được hiểu rõ. Theo như câu này chỉ ra, có hai kiểu buồn phiền. Kiểu đầu tiên là sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời và kiểu thứ hai là đau buồn theo thế gian. Ý nghĩa của sự đau buồn là sự đau khổ to lớn. Ví dụ khi một người thân của chúng ta qua đời, chúng ta chìm trong đau buồn. Tương tự khi chúng ta nhận ra nhiều năm chúng ta đã lãng phí trong tội lỗi, chúng ta cũng đau buồn. Trong cả hai trường hợp chúng ta đều gặp mất mát to lớn. Chúng ta sẽ không thể lấy lại được người đã chết. Tương tự như vậy chúng ta không thể lấy lại những ngày tháng chúng ta đã sống trong tội lỗi. Vậy thì câu hỏi nảy sinh ở đây là, làm thế nào chúng ta có thể tiến lên phía trước được?

Let us use these two examples and try to differentiate between worldly grief and Godly grief. First let us look at the death scenario. When someone close to us dies, of course we are stuck with intense grief. We weep and cry. But, if we continue crying as if our whole world has ended, then our grief is worldly. If our grief is worldly it is because we have no hope about the dead person. And if we do not have any hope of the dead person, it is because we do not believe in life with Jesus after death. We can sometimes hear such people crying aloud saying I do not want to live anymore without my dad, mom, brother, sister, husband, wife, child, etc. Some people even commit suicide.

Chúng ta hãy sử dụng hai ví dụ để thử phân biệt giữa sự đau buồn của thế gian và sự đau buồn của Chúa. Trước hết chúng ta hãy nhìn vào cái chết. Khi một người thân của chúng ta qua đời, tất nhiên là chúng ta sẽ bị kẹt giữa sự đau buồn. Chúng ta khóc và khóc. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục khóc như thể thế giới này đã kết thúc, thì sự đau buồn của chúng ta là của thế gian. Nếu sự đau buồn của chúng ta là của thế gian thì nó là bởi vì chúng ta không có hy vọng gì về người chết cả. Và nếu chúng ta không có hy vọng gì về người chết, nó là bởi vì chúng ta không tin vào cuộc sống cùng với Chúa sau khi chết. Chúng ta đôi khi có thể nghe thấy người ta gào lên như này, không còn cha, mẹ, hay anh, em hay chồng vợ hay con, tôi không còn muốn sống nữa. Những người đó thậm chí còn tự vẫn.

Whereas in the case of Godly grief, our weeping will not last long. It is because we know that our beloved has gone to be with the Lord. 1 Thessalonians 4:13-14 But we do not want you to be uninformed, brothers and sisters, about those who have died, so that you may not grieve as others do who have no hope. For since we believe that Jesus died and rose again, even so, through Jesus, God will bring with Him those who have died. 

Trong khi đó, trong trường hợp của sự đau buồn của Chúa, sự khóc lóc của chúng ta sẽ không kéo dài. Đó là bởi vì chúng ta biết rằng người thân của chúng ta ra đi để về với Chúa. 1 Thessalonians 4:13-14, Thưa anh em, chúng tôi không muốn anh em không biết về những người đã ngủ, để anh em không đau buồn như người khác không có hy vọng. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê Su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người ngủ trong Đức Chúa Giê Su đến với Ngài.

Thus the children of God always have hope in their beloved who are dead. Because they have hope, and they believe in the Word of God, they will also turn to full repentance. They repent because they know that when Jesus comes again, they will be able to see their beloved with Jesus. And, in order to join Jesus, repentance is a must. Thus, Godly grief leads to repentance. 

Do đó, con cái Chúa luôn luôn có hy vọng về những người thân đã khuất của họ. Bởi vì họ có hy vọng và họ tin vào Lời của Chúa, họ cũng sẽ hướng tới sự ăn năn hoàn toàn. Họ ăn năn bởi vì họ biết khi Chúa tới lần thứ hai, họ sẽ có thể nhìn thấy người thân đã khuất của họ cùng với Chúa. Và để ở cùng với Chúa, sự ăn năn là bắt buộc phải có. Do đó, sự đau buồn theo ý muốn của Chúa dẫn tới sự ăn năn sám hối.

Now let us look at the second example of looking back to the days that a person has wasted in sin. If you are stuck by worldly grief, you will keep grieving about your sin and the wasted days forever. Thinking about all the disgusting things that you have committed in your life, you will be depressed and your mental health will also get affected. Some people even commit suicide because they allow sin to rule over their body and life. Hence Romans 6:12 advises Therefore, do not let sin exercise dominion in your mortal bodies, to make you obey their passions. It means you should never be slaves to sins or the thoughts of sins that you have committed in the past. If you do so, you will end up killing yourselves. This is what it means: worldly grief leads to death. 

Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhìn vào ví dụ thứ hai, khi nhìn về những ngày tháng mà một người đã lãng phí trong tội lỗi. Nếu bạn bị mắc kẹt trong sự đau buồn theo thế gian, bạn sẽ cứ buồn mãi về tội lỗi hay những tháng ngày đó. Nghĩ về những điều ghê tởm bạn đã phạm phải trong cuộc sống, bạn sẽ buồn phiền và sức khỏe tâm thần của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Một số người còn tự sát bởi vì họ để tội lỗi chi phối thân xác và sự sống của họ. Do đó Romans 6:12 nói rằng Vậy đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em và khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó. Có nghĩa rằng bạn không bao giờ được phép là nô lệ cho tội lỗi hoặc suy nghĩ tội lỗi mà bạn đã phạm phải trong quá khứ. Nếu làm thế bạn sẽ chỉ kết cục hủy hoại bản thân mình. Vì vậy, đau buồn theo thế gian dẫn tới sự chết.

Opposite to this is Godly grief. It means whenever the thoughts of past sins come to your mind, your repentance will become stronger. You may have already confessed and repented, but the devil may bring those thoughts to your mind once in a while. It is a devil's trap for you. But, since you are a child of God now, you decide to stay even more closer to Jesus by staying strong with your repentance. Repentance is a change of mind from evil to good. As the power of repentance increases in you, you become more and more obedient to the Lord. Being more obedient means you become more humble. In short, Godly grief helps you to grow in obedience because the power of repentance is ever increasing in you. 

Trái với đó là sự đau buồn theo ý muốn của Chúa. Bất kỳ khi nào suy nghĩ về quá khứ dội đến tâm trí bạn, sự ăn năn sám hối của bạn sẽ lại càng mạnh mẽ hơn. Bạn có thể đã xưng tội và rửa tội nhưng quỷ đôi lúc sẽ mang những suy nghĩ đó đến tâm trí bạn. Đó là bẫy của quỷ đối với bạn. Như giờ đây bạn đã là con cái Chúa, bạn quyết định sẽ ở gần hơn với Chúa bằng cách mạnh mẽ với sự ăn năn sám hối của bạn. Sự sám hối là sự thay đổi tâm trí từ quỷ thành tốt. Vì sức mạnh của sự sám hối gia tăng trong bạn, bạn trở nên càng ngày càng vâng lời Chúa hơn. Vâng lời nghĩa là bạn sẽ trở nên khiêm tốn hơn. Tóm lại, sự đau buồn của Chúa giúp bạn lớn lên trong sự vâng lời bởi vì sức mạnh của sự ăn năn cứ lớn dần lên trong bạn.

Jesus said, woe to you Chorazin, woe to Bethsaida. The reason why Jesus said that was because there was no Godly grief in the people of Chorazin and Bethsaida, even after experiencing Jesus and witnessing the signs. Since you all have now experienced Jesus, you should have Godly grief. The power of repentance should increase after each class because you are experiencing Jesus more and more after each class. Let us all receive the power of repentance from Jesus.

Chúa Giê Su nói rằng, khốn cho ngươi Chô ra xin và khốn cho ngươi Bết Sai Đa. Lý do Chúa nói như vậy là bởi vì không có sự ăn  năn theo ý muốn của Chúa trong người Chô ra xin và Bết Sai đa ngay cả khi đã trải nghiệm Chúa và chứng kiến các dấu lạ. Tất cả các bạn đều đang trải nghiệm Chúa, bạn cũng chỉ nên đau buồn theo ý muốn Chúa. Sức mạnh của sự ăn năn sám hối cần phải lớn dần lên trong bạn mỗi buổi học bởi vì bạn được biết đến Chúa nhiều hơn sau mỗi buổi. Cầu mong tất cả chúng ta đều nhận được sức mạnh của sự ăn năn đến từ Chúa Giê Su.

God bless you. Amen.

 

Wednesday, December 15, 2021

Matthew 11:7-19: Chúa hỏi về John The Baptist

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quanh dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thật sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong đấng Christ thân mến,

We studied Matthew 11:1-6 in the last class. There we saw how the transformation of the inner self is important. We saw that John the Baptist was in jail. He sent his disciples to Jesus Christ to confirm that He is the Messiah.

Chúng ta đã học Matthew 11:1-6 trong buổi trước. Chúng ta đã thấy sự biến đổi của con người bên trong quan trọng như thế nào. Chúng ta thấy John The Baptist ở trong tù. Ông đã gửi các môn đồ đến Chúa Giê Su để xác nhận rằng Chúa là Đấng Messiah.

Tonight, we study Matthew 11:7-19. 

Tối nay, chúng ta sẽ học Matthew 11:7-19.

This conversation took place immediately after the disciples of John the Baptist left. Jesus asked three deep questions about John the Baptist. He asked whom you went to see in the wilderness. Did you go to see a reed shaken by the wind? The disciples might have answered ‘no’. Hence the second question, then, did you go to see a man dressed in soft robes? Again the disciples might have replied ‘no’. Hence again, the third question. So, did you go to see a prophet? Then the answer might have been ‘yes’. And then Jesus said, yes, you are right; in fact not just a prophet, but more than a prophet. The status of John the Baptist was more than a prophet because he was sent to prepare the way for Jesus Christ. We studied this in Matthew 3:3 and it was also mentioned in the last class. 

Đoạn hội thoại này xảy ra ngay sau khi các môn đồ của John The Baptist rời đi. Chúa Giê Su đã hỏi ba câu hỏi rất sâu sắc về John The Baptist. Ngài đã hỏi các người đi để nhìn thấy ai nơi hoang mạc. Có phải xem một cây sậy bị gió rung chăng? Các môn đồ có thể đã trả lời là “Không phải ạ”. Câu hỏi thứ hai, Có phải các ngươi đi xem người mặc áo sang trọng chăng? Một lần nữa câu trả lời hẳn là “Không phải”. Và do đó mới có câu hỏi thứ ba? Các ngươi đi xem một nhà tiên tri chăng? Câu trả lời hẳn là “Phải”. Và Chúa đã khẳng định lại với họ rằng, đúng là như thế. Thực tế không phải chỉ là một nhà tiên tri nhưng còn hơn cả một nhà tiên tri. Vị trí của John the Baptist còn hơn một nhà tiên tri bởi vì ông được sai đến để chuẩn bị đường cho Chúa Giê Su. Chúng ta đọc trong Matthew 3:3 rằng Giăng chính là người mà nhà tiên tri Ê Sai đã đề cập đến, khi nói rằng: Có tiếng người kêu lên trong hoang mạc: Hãy dọn đường cho Chúa, làm thẳng các lối Ngài.”và đó cũng là điều được đề cập đến trong buổi trước.

I said the questions that Jesus asked were deep. As I said in the last class, Jesus never said anything in a mere literal sense. Whatever Jesus said had a deeper meaning that only spiritually minded people could understand. The three questions that Jesus asked also had deeper meanings. Let us look at each of the questions:

Những câu hỏi mà Chúa hỏi đều có sự sâu sắc. Như chúng ta học trong buổi trước, Chúa không bao giờ nói điều gì mà chỉ theo nghĩa đen thông thường. Bất cứ điều gì Chúa nói đều có nghĩa sâu sắc mà chỉ có những người tâm linh mới có thể hiểu được. Ba câu hỏi mà Chúa hỏi cũng có những ý nghĩa sâu sắc. Chúng ta hãy nhìn vào từng câu một:

The first question: did you go to see a man who was like a reed shaken by the wind. Some of you may have seen a reed or at least grass. Even if you have not seen it, you can imagine what happens to the grass when the wind blows heavily. The grass will swing from one direction to another direction. It means the grass cannot stand strong enough to resist the wind. Comparing it to our lives, we should ask ourselves, are we able to withstand the wind of temptations in life? When Jesus equated John the Baptist to a reed shaken by wind in His question, He actually took the disciples to Genesis 49: 3-4 Reuben, you are my first born, my might and the first fruits of my vigour, excelling in rank and excelling in power. Unstable as water, you shall no longer excel because you went up onto your father’s bed; then you defiled it-you went up onto my couch. 

Câu hỏi đầu tiên: Có phải các ngươi đi xem một cây sậy bị gió rung chăng? Một số người trong số các bạn có thể chưa bao giờ nhìn thấy cây sậy hoặc cây lau cây cỏ. Ngay cả nếu như bạn chưa từng nhìn thấy, bạn cũng có thể tưởng tượng điều xảy ra với cây cỏ khi mà gió thổi mạnh qua. Cây cỏ sẽ đung đưa từ hướng này sang hướng khác. Có nghĩa rằng cỏ thì không thể đứng vững được để chống lại cơn gió. So sánh nó với cuộc đời chúng ta, chúng ta nên tự hỏi mình xem, liệu chúng ta có thể chịu được cơn gió của những cám dỗ trong cuộc đời của chúng ta không? Khi Chúa so sánh John với cây sậy đung đưa trong gió trong câu hỏi của Ngài, thật ra Ngài đang đưa các môn đồ tới Sáng Thế Ký 49:3-4, Hỡi Ruben con trưởng nam của cha, là sức mạnh của cha là bông trái đầu tiên của sức sinh lực cha, vốn có địa vị cáo trọng và quyền hạn tột đỉnh. Lên xuống như dòng nước lũ, con sẽ chẳng hơn ai bởi vì con đã lên giường cha, làm giường cha ô uế.

Reuben was the first son of Jacob. It was from Jacob that the twelve tribes of Israel were born. He committed a grave sin which is given in Genesis 35:22 While Israel lived in that land, Reuben went and lay with Bilhah, his father’s concubine; and Israel heard of it...So when Jacob also known as Israel blessed his sons one by one before dying, Reuben received a curse because of his sin. The curse was that Reuben would be unstable as water which means wavering like a reed. The sin of Reuben was that he could not withstand his temptation and ended up committing sin. 

Reuben là con trưởng nam của Jacob. Chính là từ Jacob mà 12 bộ lạc của Isariel đã được sinh ra. Reuben đã phạm phải một trọng tội được đưa ra trong Sáng thế ký 35:22 Trong thời gian Y-sơ-ra-en ngụ tại xứ đó, Ru-ben đã đến nằm với Bi-la hầu thiếp của cha mình. Y-sơ-ra-el hay được việc này. Vì thế khi Jacob còn có tên gọi khác là Isariel chúc phước cho từng con trước khi mất, Ruben nhận được lời rủa xả vì tội lỗi mình. Lời rủa đó là Reuben là kẻ không kiên định như nước có nghĩa là nó cũng như cây sậy lung lay trước gió vậy. Tội của Ruben đó là nó không thể chịu được cám dỗ và phạm tội.

Reuben was the first born of Jacob/Israel. God has given a rule for the first born. Let us read Exodus 13:11-12 When the Lord has brought you into the land of the Canaanites, as He swore to you and your ancestors, and has given it to you, you shall set apart to the Lord all that first opens the womb. All the firstborn of your livestock that are males shall be the Lord’s. In continuation, we read in Numbers 3:11-13 Then the Lord spoke to Moses, saying: hereby accept the Levites among the Israelites as substitutes for all the firstborn that open the womb among the Israelites. The Levites shall be mine, for all the firstborn are mine; when I killed all the firstborn in the land of Egypt, I consecrated for my own all the first born in Israel, both human and animal; they shall be mine. I am the Lord. 

Reuben là con trưởng nam của Jacob/Israel. Chúa đã đưa ra một luật lệ cho con đầu lòng. Chúng ta đọc trong Xuất Ai Cập Ký 13:11-12: Khi Đức Giê Hô Va đưa anh em vào Đất Ca-na-an, như Ngài đã thề với anh em và tổ phụ anh em, và khi Ngài đã ban xứ đó cho anh em rồi, thì hãy đem dâng cho Đức Giê Hô Va con trưởng nam cùng những con đực đầu lòng của bầy súc vật an hem, vì chúng nó thuộc về Đức Giê Hô Va. Và tiếp đó trong Dân Số Ký 3:11-13, Chúa phán với Môi-se: Ta đã chọn người Lê Vi từ trong dân Isarel để thay thế cho tất cả con đầu lòng trong dân Isarel. Vậy người Lê Vi sẽ thuộc về Ta, vì tất cả con đầu lòng đều thuộc về Ta. Vào ngày Ta trừng phạt các con đầu lòng ở Ai Cập, ta đã biệt riêng cho Ta mọi con đầu lòng trong dân Isarel, bất luận loài người hay thú vật đều thuộc về Ta. Ta là Đức Giê Hô Va.

As we read here, the first born of human beings and livestock are consecrated to the Lord. The first born of human beings serve for the Lord’s work. But, since Reuben committed sin, the status of the first born was given to Levi, his brother. In the Bible, we see several cases where the first born lost the status of being the favourite of God. For example, Cain was the first born of Adam, but he killed his brother Abel and thus lost the status of God’s favourite as we read in Genesis 4. In the case of Jacob, his brother Esau was the first born. But Esau sold the status of first son birthright to his younger brother Jacob as we read in Genesis 25:29-34. Later, we read that God also acknowledged Jacob/Israel as His firstborn in Exodus 4:22 Then you shall say to Pharaoh, Thus says the Lord: Israel is my firstborn.

Chúng ta đọc được rằng, con đầu lòng của con người và gia súc đều cần phải được dâng cho Chúa. Con đầu lòng của con người phục vụ cho Chúa. Nhưng khi Reuben phạm tội, địa vị con trưởng được trao cho Levi, em mình. Trong Kinh Thánh, chúng ta đọc được có vài trường hợp mà con trưởng mất địa vị của mình là người được Chúa ưa thích. Ví dụ Cain là con đầu lòng của Adam, nhưng nó đã giết em mình là Abel và do đó mất đi địa vị của mình như chúng ta đọc trong Genesis 4. Trong trường hợp của Jacob, anh trai ông là Esau là con trưởng. NHưng Esau đã bán quyền con trưởng vào tay em mình là Jacob như chúng ta đọc trong Sáng Thế Ký 25:29-34. Sau đó chúng ta đọc được rằng Chúa đã công nhận Jacob như là con trưởng trong Xuất Ai Cập Ký 4:22, Con hãy nói với Pharaoh rằng, Đức Giô Hô Va có phán: Isarel là con trưởng nam của Ta.

As Reuben lost his birthright as the firstborn, it was given to his brother Levi. Thus, Levi and his tribe became the priests of God. However, later in the history of Israel we see the priestly class became corrupt and greedy. Jesus called them hypocrites as we read in Matthew 23: 13 But woe to you, scribes and Pharisees, hypocrites! For you lock people out of the Kingdom of heaven. For you do not go in yourselves, and when others are going in, you stop them. 

Bởi vì Reuben đã mất quyền con trưởng, quyền đó được trao cho con thứ là Levi. Do đó, Levi và bộ tộc mình trở thành những thầy thông giáo của Chúa. Tuy nhiên, sau đó trong lịch sự của Isarel, chúng ta thấy tầng lớp các linh mục trở nên ô uế và tham lam. Chúa Giê Su gọi họ là những kẻ đạo đức giả như chúng ta đọc trong Matthew 23:13, Khốn cho các ngươi, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả. Vì các ngươi đóng cửa thiên đàng trước mặt người ta, chẳng những chính các ngươi đã không vào mà lại còn ngăn cản những ai muốn vào nữa.

The priests were meant to guide the people to the Kingdom of heaven. But, because of their greed and corrupt life, the Pharisees and scribes became like reeds. Wherever they got more money, they swung in that direction. Thus, they became fully corrupt. This is what Jesus asked the disciples referring to John the Baptist. Did you just go to see a reed like the Pharisees and Scribes. 

Các thầy thông giáo có nhiệm vụ là phải dẫn dắt mọi người vào vương quốc Thiên đàng. Nhưng do lòng tham và cuộc sống ô uế, những thầy thông giáo và người Pha-ri-si trở nên như những cây sậy. Bất cứ nơi nào họ kiếm được nhiều tiền hơn thì họ nghiêng về hướng đó. Do đó, họ trở nên hoàn toàn ô uế. Đây là điều Chúa Giê Su đã hỏi các môn đồ liên quan đến John The Baptist. Các ngươi đi xem gì? Có phải các ngươi đi xem cây sậy đung đưa trước gió nhưng những thầy thông giáo và người Pha-ri-si hay không?

The second question that Jesus asked was did you go to see a man robbed in fine clothes? Let us read vs 8 again. As we see here, Jesus said, those who wear soft/fine clothes are in royal palaces. The Pharisees and the scribes were not only greedy and corrupt, they were also power hungry. Many scribes enjoyed positions in the palace of King Herod. As working in the palace, these scribes could wear official royal dresses. Thus instead of serving the Lord, they served the King. 

Câu hỏi thứ hai mà Chúa đã hỏi là hay là các ngươi đi xem một người mặc quần áo sang trọng? Chúng ta hãy đọc lại câu 8 một lần nữa. Như chúng ta thấy ở đây, Chúa nói, những ai mặc quần áo sang trọng thì sống ở Hoàng Gia. Những người Pha-ri-si và thầy thông giáo không chỉ là những kẻ ô uế, tham lam mà còn là những người ham quyền lực nữa. Rất nhiều thầy thông giáo thích những vị trí như ở trong cung điện của Vua Herod. Khi làm việc trong cung điện, những thầy thông giáo mặc quần áo của hoàng giâ. Do đó, thay vì phục vụ Chúa, thì họ phục vụ nhà vua.

As they served as officials in the palace of the King, people respected them and treated them in high honour. This is what Jesus said in Mark 12:38 As He taught, He said, Beware of the scribes, who like to walk around in long robes, and to be greeted with respect in the marketplaces, and to have the best seat in the synagogues and places of honour at banquets. 

Vì họ phục vụ như những người chính thức trong cung vua nên mọi người tôn trọng họ và đối xử với họ một cách cung kính. Đó là điều Chúa nói trong Mark 12:38, Trong lúc dạy dỗ, Ngài nói: Hãy đề phòng các thầy thông giáo, là những người ưa mặc áo dài đi dạo, thích được người ta chào mình nơi phố chợ, muốn ngồi ghế quan trọng nhất trong các nhà hội, và chỗ danh dự trong các buổi tiệc.

Jesus hinted at this lust for power of the scribes when He asked the question about John the Baptist: did you go to see someone wearing soft clothes?. 

Chúa Giê Su đã ám chỉ niềm ham thích quyền lực của những người thông giáo khi Ngài hỏi: Các ngươi đi xem những người mặc áo đẹp chăng?

We studied earlier that John the Baptist was arrested because he spoke against the King. He never bothered about power. He was only bothered about what is right and what is the will of God. He led a simple life and preached repentance. He did not even wear expensive clothes. He wore as we studied earlier in Matthew 3:4 Now John wore clothing of camel’s hair with a leather belt around his waist, and his food was locust and wild honey. He never dressed like those Scribes and Pharisees, in royal clothes. 

Chúng ta học trước đó rằng John The Baptist bị bắt bởi vì ông đã nói những lời chống lại Vua. Ông chẳng bao giờ quan tâm đến quyền lực. Ông chỉ quan tâm đến điều gì là phải và điều gì là ý chí của Chúa. Ông sống một cuộc đời giản dị và truyền rao sự sám hối. Ông thậm chí còn không bao giờ mặc quần áo đắt tiền. Những gì ông mặc được đưa ra trong Matthew 3:4, Giăng mặc áo lông lạc đà, thắt dây lưng da, ăn châu chấu và mật ong. Ông không bao giờ mặc như những người thông giáo và người Pha-ri-si, mặc quần áo hoàng gia cả.

Through these comparisons, Jesus was trying to differentiate between a true child of God and the hypocrites. The false and namesake followers will be unstable like the reeds. Such people are double-faced. When they are in the church, they will pretend to be the best worshipers. As soon as they come out of the church, they are different. From the church, they go straight to commit all types of sins. We have such hypocrites around us who claim that they follow the Lord. If you ask them, do you read the Bible, the answer would be no, I don’t. Do you observe Lent? The reply will be oh, what is that? Ask them, do you pray every day? The answer will be no. In everything that a child of God is expected to do, such people are a big failure. But when it comes to attending festivals and picnics in the church, they will apply the best makeup, and clothe themselves in the best clothes.

Qua những sự so sánh này, Chúa Giê Su muốn phân biệt giữa một người con thật sự của Chúa và những kẻ đạo đức giả. Những người theo Chúa giả tạo cũng sẽ giống như cây sậy vậy. Những người đó là những kẻ hai mặt. Khi họ ở nhà thờ, họ sẽ giả vờ là những người thờ phượng tuyệt vời nhất. Ngay sau khi ra khỏi nhà thờ, họ hoàn toàn khác. Từ nhà thờ, họ đi ngay đến chỗ phạm tội. Chúng ta có những kẻ đạo đức giả như thế ở xung quanh chúng ta những người vẫn vỗ ngực nói rằng mình có Đạo. Nếu bạn hỏi họ, thế anh chị bạn có đọc Kinh Thánh không, câu trả lời là không. Bạn có thực hành kỳ Chay không? Câu trả lời cũng là không? Kỳ Chay Thánh là gì vậy? Hãy hỏi họ, bạn có cầu nguyện mỗi ngày không? Câu trả lời cũng vẫn sẽ là không. Trong mọi thứ mà một người con của Chúa được mong đợi cần phải làm, những người đó sẽ không làm. Nhưng khi liên quan đến tham dự tiệc hay picnic ở nhà thờ, họ sẽ ăn vận đẹp dễ và mặc cho mình những bộ quần áo đẹp nhất.

If you want to confirm this, just go to any church near your house on Christmas night. Just ask anyone in the church, you are celebrating Christmas; have you observed Lent and prepared your body, mind and spirit to receive Jesus? The answer would be a big ‘no’. Unfortunately, we have so many followers of Jesus who are like reeds and in soft and fine clothes. Do you know what Jesus described such people? Let us read Matthew 23:27 Woe to you, scribes and Pharisees, hypocrites! For you are like whitewashed tombs, which on the outside look beautiful, but inside they are full of the bones of the dead and of all kinds of filth. As Jesus said, we can see many whitewashed tombs in human bodies who call themselves followers of Jesus, which is sad. 

Nếu bạn không tin, hãy đi tới bất kỳ nhà thờ nào gần nhà của bạn vào đêm Giáng Sinh. Hãy hỏi bất kỳ ai trong nhà thờ, bạn có tổ chức Giáng Sinh không? Bạn có ăn chay và chuẩn bị thể xác, tâm hồn và tâm linh mình để đón nhận Chúa Giê Su không? Câu trả lời là không. Không may, chúng ta có quá nhiều người có Đạo nhưng lại giống như những cây sậy và trong những bộ quần áo đẹp. Bạn có biết Chúa miêu tả những người đó như thế nào không? Hãy đọc Matthew 23:27, Khốn cho các ngươi, các thầy thông giáo và người Pha-ri-si, là những kẻ đạo đức giả! Vì các ngươi giống như những mồ mả tô trắng, bên ngoài có vẻ đẹp đẽ nhưng bên trong đầy xương người chết và mọi thứ ô uế. Như Chúa nói, chúng ta có thể thấy rất nhiều những mồ mả trong con người mà người đó tự nhận là người theo Chúa, đó là một điều thật đáng buồn. 

The third question Jesus asked was a positive one. He asked, did you go to see a prophet? The answer would have been ‘yes’. Then Jesus said, yes, you are right. And added, in fact John the Baptist was more than a prophet. 

Câu hỏi thứ ba mà Chúa hỏi là một câu hỏi tích cực. Chúa hỏi, các ngươi đi ra để tìm một nhà tiên tri phải không? Câu trả lời hẳn là “Đúng”. Sau đó Chúa cũng khẳng định lại là đó là điều đúng và Ngài nói thêm rằng, John The Baptist thì còn hơn cả một nhà tiên tri.

There were many prophets as we can see in the Old Testament. The first prophet was Samuel. Then we have Isaiah, Jeremiah, Ezra, Nehemiah and a long list. All these prophets primarily focused on the deliverance of the people from bondage. They all prophesied that the Messiah would come and deliver them from all bondages. But there was one prophet who was very zealous about the Lord. It was Prophet Elijah. He vehemently opposed the king and queen of that time, especially against the queen. He made queen Jezebel very furious and hence she ordered to get him killed. We read about this in 1 Kings 19:14 He answered, I have been very zealous for the Lord, the God of hosts; for the Israelites have forsaken your covenant, thrown down your altars, and killed your prophets with the sword. I alone am left, and they are seeking my life, to take it away. 

Có rất nhiều nhà tiên tri ở trong Cực ước. Nhà tiên tri đầu tiên là Samuel. Sau đó chúng ta có Ê sai, Giê rê mi, Ezra, Nehemiah và một danh sách dài. Tất cả các nhà tiên tri đều tập trung vào sự giải cứu con người khỏi các xiềng xích. Họ đều tiên tri rằng đấng Messiah sẽ đến và sẽ giải cứu họ khỏi mọi xiềng xích. Nhưng có một nhà tiên tri rất nhiệt thành về Chúa. Đó là nhà tiên tri Ê li. Ông đã lớn tiếng phản đối các vua và hoàng hậu thời đó, đặc biệt là hoàng hậu. Ông đã khiến hoàng hậu Jezebel rất tức giận và tìm cách giết ông. Chúng ta đọc trong 1 Kings 19:14, Ông thưa: con rất nhiệt thành với Giê Hô Va Đức Chúa Trời vạn quân. Vì dân Isarel đã loại bỏ giao ước Ngài, phá hủy các đền thờ Ngài, dùng gươm giết các nhà tiên tri của Ngài, chỉ còn mình con còn lại và họ cũng đang truy tìm để lấy mạng sống con.

Prophet Elijah lived 900 years before John the Baptist. But, there was a prophecy that Elijah would come again. The Old Testament ends with that prophecy. Let us read Malachi 4:5-6 Lo I will send you the prophet Elijah before the great and terrible day of the Lord comes. He will turn the hearts of parents to their children and to the hearts of children to their parents, so that I will come and strike the land with a curse. The great and terrible day of the Lord stated in this verse is hinting at the arrival of Jesus.

Nhà tiên tri Elịah sống 900 năm trước John The Baptist. Nhưng có một lời tiên tri rằng Elijah sẽ tới một lần nữa. Cựu ước kết thúc với lời tiên tri đó. Chúng ta hãy đọc Malachi 4:4-6, Nầy ta sẽ sai nhà tiên tri E-li đến với các con trước ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê Hô Va đến. Người sẽ làm cho lòng cha ông trở lại cùng con cháu, lòng con cháu trở lại cùng cha ông, kẻo Ta đến lấy sự nguyền rủa mà đánh đất này chăng. Ngày lớn và đáng sợ của Đức Giê Hô Va trong câu này chính là ám chỉ ngày Chúa Giê Su đến với thế gian.

This prophecy of Malachi was repeated before the birth of John the Baptist to his father Zecheriah the priest as we read in Luke 1: 13-17. Jesus explained to the disciples and said, I know you are waiting for Elijah. Actually John the Baptist is the Elijah to come. He followed the Lord with the same zealousness as Elijah had. He never wavered like a reed, nor was interested in luxury and power. He came with a mission. His mission was to prepare the way for Jesus. He did his job honestly and diligently. 

Lời tiên tri của Malachi đã được lặp lại trước khi John The Baptist được sinh ra bởi cha mình là Zecheriah là một thầy tế lễ như chúng ta đọc trong Luke 1:13-17. Chúa Giê Su đã miêu tả với các môn đồ và nói, ta biết các ngươi đang chờ Eli. Thật ta John The Baptist chính là Eli phải đến. Ông theo Chúa với lòng nhiệt thành giống như Elijah đã có. Ông không bao giờ đung đưa như cây sậy, hay thích thú gì trước sự xa hoa hay giàu có. Ông đến với một sứ mạng. Sứ mạng của ông là để chuẩn bị đường cho Chúa Giê Su. Ông đã làm việc đó một cách chân thật và chăm chỉ.

Saint Peter said in 1 Peter 2:9 But you are a chosen race, a royal priesthood, a holy nation, God’s own people, in order that you may proclaim the mighty act of Him who called you out of darkness into His marvelous light. 

Thánh Peter nói trong 1 Peter 2:9, Nhưng anh em là dòng giống được tuyển chọn, là chức tế lễ hoàng gia, là dân tộc thánh, là dân thuộc riêng về Đức Chúa Trời, để anh em rao truyền công đức vĩ đại của Đấng đã gọi anh em ra khỏi nơi tối tăm đưa vào vùng ánh sáng kỳ diệu của Ngài.

Have you ever thought ‘what is the purpose of my life’? ‘Why am I born in this world’? If you have not, ask these questions to yourselves. There is a purpose why God has brought us forth into this world. Unless and until you realise and have an answer to those questions, you will never succeed in your life. If you are following Jesus, you are a chosen race and God’s own. It means you are special. But if you do not realise that, you will not be able to succeed in life. 

Bạn đã bao giờ nghĩ rằng “mục đích cuộc đời tôi là gì chưa?” “Tại sao tôi được sinh ra ở thế giới này”. Nếu bạn chưa từng hỏi câu hỏi đó, hãy hỏi câu hỏi đó. Có một mục đích mà Chúa đem chúng ta đến với với thế gian này. Trừ khi và cho đến khi bạn nhận ra và có câu trả lời cho những câu hỏi đó, bạn sẽ không bao giờ thành công trong cuộc sống. Nếu bạn theo Chúa, bạn là một dòng giống được tuyển chọn và thuộc về Chúa. Có nghĩa rằng, bạn là đặc biệt. Nhưng nếu bạn không nhận ra điều đó, bạn sẽ không thể thành công trong cuộc sống.

The best way to realise this call is to reflect on your personal life. If you are repeatedly failing in your life, in your job, in your business, and so on, it means you are not following God’s purpose for your life. If so, there is no point in wasting time, trying and failing repeatedly and never achieving anything in life. Instead, stop, and sit quiet in front of the Lord. Ask the Lord to show you the purpose of your life. Listen to the voice of God. Then you will get the answer and realise the purpose of your life. 

Cách tốt nhất để nhận ra tiếng gọi này là hãy ngẫm nghĩ đến cuộc sống của riêng bạn. Nếu bạn cứ liên tục thất bại trong công việc, trong kinh doanh và vân vân, có nghĩa rằng bạn không đang đi theo mục đích của Chúa cho cuộc đời bạn. Nếu vậy, đừng lãng phí thời gian, thất bại hết lần này qua lần khác mà không đạt được điều gì trong cuộc sống. Thay vào đó, hãy dừng lại, ngồi yên lặng trước mặt Chúa. Hãy xin Chúa chỉ cho bạn mục đích của cuộc đời bạn. Hãy lắng nghe tiếng của Chúa. Sau đó bạn sẽ nhận được câu trả lời và nhận ra mục đích của cuộc đời của bạn.

Every Lent is a time for us to stop and reflect on our life. During the Lent, we stop and look back into our lives and see whether we are following the right direction that God wants of us in our life. If not, we must correct. If we are in the right direction, we still need more blessings. The Holy Lent helps us with all these things. 

Mọi kỳ Chay là khoảng thời gian dừng lại và suy ngẫm về cuộc sống. Trong suốt kỳ Chay, chúng ta dừng lại và nhìn vào cuộc đời mình để xem mình có đang đi đúng con đường mà Chúa muốn trong cuộc đời không. Nếu không chúng ta cần phải sửa. Còn nếu đúng, chúng ta lại càng cần thêm các phước lành/ Kỳ Chay sẽ giúp chúng ta có được tất cả những điều này.

Therefore, let us prepare and submit ourselves in the same way as John the Baptist submitted himself to the Lord. Let us not be reeds. Let us not be whitewashed tombs. Let us not just dress outwardly with a rotten inner self. Let us be the Chosen for the Lord.

Do đó, chúng ta hãy chuẩn bị mình và phó thác bản thân theo cách mà John The Baptist đã phó thác mình cho Chúa. Chúng ta hãy đừng như những cây sậy. Chúng ta hãy đừng như mồ mả. Chúng ta cũng hãy đừng ăn vận bên ngoài những đồ đẹp đẽ mà trong thì ô uế. Chúng ta hãy trở thành dân được tuyển chọn cho Chúa.

God bless you. Amen. 

 

Tuesday, December 7, 2021

Matthew 11:1-6: Ngài có phải là Đấng phải đến không hay chúng tôi còn phải đợi một đấng khác?

  

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We have now completed chapter 10 of the gospel according to Saint Matthew. 

Chúng ta đã hoàn thành chương 10 của Tin Lành theo Thánh Matthew.

Tonight we start studying chapter 11. Let us read Matthew 11:1-6

Tối nay chúng ta sẽ bắt đầu học chương 11. Chúng ta hãy đọc Matthew 11:1-6.

After setting up the team of disciples, and giving instructions to them, Jesus went to their cities to teach and proclaim the Kingdom of God. At this time, John the Baptist was in jail. 

Sau khi đã kêu gọi và căn dặn các môn đồ, Chúa Giê Su đi với các thành phố để rao giảng về vương quốc Đức Chúa Trời. Lúc này, John the Baptist ở trong tù.

We studied about John the Baptist in Matthew chapter 3. He was the forerunner of Jesus Christ, and prepared the people to receive Jesus Christ. He preached purification through repentance. And, he baptised people to get purified from sins. While in jail, John the Baptist sent his disciples for confirmation that Jesus is the Messiah who was promised to come and save the people from sin and destruction. Thus, he sent the question to Jesus, are you the one who is to come, or are we to wait for another?

Chúng ta đã học về John The Baptist trong Matthew chương 3. Ông là người mở đường cho Chúa Giê Su, và chuẩn bị tâm thế để mọi người đón nhận Chúa Giê Su. Ông đã rao giảng sự thanh tẩy qua sự ăn năn sám hối. Và ông đã làm phép rửa tội để mọi người được thanh tẩy khỏi tội lỗi. Khi ở trong tù, John The Baptist đã gửi các môn đồ tới để xác nhận rằng Chúa Giê Su chính là Đấng Messiah người được hứa là sẽ đến và cứu mọi người khỏi tội lỗi và sự hủy diệt. Do đó, ông đã gửi câu hỏi đến cho Chúa, Ngài có phải là Đấng phải đến không hay chúng tôi còn phải đợi một đấng khác?

The reply message from Jesus is very interesting. Jesus did not give a direct answer to the question. Instead, He gave some clues which were examples of signs for John the Baptist to interpret and understand. The most important thing that we need to understand is that Jesus never said anything in a literal sense. Whatever He said had a deeper meaning which only spiritually minded people understood. Hence Jesus often said as we read in vs 15 of this chapter Let anyone with ears listen. By saying so, Jesus did not mean the physical ears. Everyone has ears of course, but only those who have spiritual ears can understand what Jesus said. 

Lời đáp của Chúa Giê Su rất thú vị. Chúa Giê Su không đưa ra câu trả lời trực tiếp cho câu hỏi. Thay vào đó, Ngài đưa ra các manh mối đó là những ví dụ về các dấu hiệu cho John The Baptist để hiểu và phân tích. Điều quan trọng nhất là chúng ta cần biết rằng Chúa Giê Su không bao giờ nói bất kỳ điều gì một cách rõ ràng. Bất kỳ điều gì Ngài nói đều có những ẩn dụ sâu sắc mà chỉ có những người có tâm trí hướng tâm linh mới có thể hiểu được. Vì vậy Chúa Giê Su thường nói như chúng ta đọc trong câu 15 của chương này, Ai có tai hãy nghe. Khi nói câu này, Chúa không đang nói đến tai thực thể. Tất nhiên là mọi người đều có tai, nhưng chỉ có những người có tai tâm linh mới có thể hiểu được những điều Chúa Giê Su nói.

Jesus said to the disciples of John the Baptist to convey what they hear and see. These disciples saw a few things as we read from verses 5-6. At the outset, we need to know that we have an outer self and an inner self. It means we have a physical body and a spiritual body. 2 Corinthians 4: 16 …..Even though our outer person is wasting away, our inner person is being renewed day by day. This verse means that our body ages and it gets old and will eventually die. But, our inner self never dies. When our physical body dies, our inner self will leave our body. Therefore, we must keep our inner self strong by staying close to God. Saint Paul said in Ephesians 3:16 I pray that, according to the riches of His glory, He may grant that you may be strengthened in your inner self with power through His Spirit. 

Chúa Giê Su đã nói với các môn đồ của John The Baptist để truyền tải những gì họ đã nghe và đã thấy. Các môn đồ đã nhìn thấy một vài điều mà chúng ta đọc được từ câu 5-6. Trước hết, chúng ta cần phải biết rằng chúng ta có tai bên ngoài và tai bên trong. Có nghĩa là chúng ta có thân xác và một thân thể thuộc linh. 2 Corinthians 4:16 Vậy nên chúng tôi không nản lòng, dù con người bên ngoài bị suy mòn dần nhưng con người bên trong ngày càng đổi mới hơn. Câu này có nghĩa rằng thân xác chúng ta sẽ ngày càng già đi và cuối cùng sẽ chết. Nhưng thân thể thuộc linh thì không bao giờ chết cả. Khi thân xác chết đi, thân thể thuộc linh sẽ rời xác của chúng ta. Do đó, chúng ta cần phải giữ cho thân thể bên trong mạnh mẽ bằng cách ở gần với Chúa. Thánh Paul nói trong Ephesians 3:16, Tôi cầu xin Ngài, tùy sự phong phú của vinh quang Ngài, ban cho anh em năng lực bởi Thánh Linh Ngài, để con người bên trong của anh em trở nên mạnh mẽ.

When we look in the mirror, we see the outer person. We can see our head, hair, eyes, nose, lips, and other body parts in the mirror. But, the mirror cannot show our inner self. Looking in the mirror, we comb our hair, make sure our face is clean, and so on. Combing, cleaning and activities like that are the food that we give for the nourishment of our outer body. Likewise, and more than that, we need to care for our inner self. In John 4 we read about the conversation between Jesus and the Samaritan woman. At that time, the disciples had gone to buy food. When they returned they saw Jesus talking to the Samaritan woman. The rest, let us read John 4:31-34. 

Khi chúng ta nhìn vào gương, chúng ta nhìn thấy con người bên ngoài của chúng ta. Chúng ta nhìn thấy đầu, tóc, mắt, mũi, môi và các phần bên ngoài của thân thể trong gương. Nhưng, gương không cho thấy được con người bên trong của chúng ta. Nhìn vào gương, chúng ta chải tóc, khiến cho mặt sạch và vân vân. Chải tóc, làm sạch và các hoạt động như thế là thức ăn chúng ta nuôi dưỡng thân thể bên ngoài chúng ta. Tương tự và còn hơn thế, chúng ta cần phải chăm sóc thân thể bên trong của chúng ta. Trong John 4, chúng ta đọc đoạn hội thoại giữa Chúa Giê Su và người Samaritan. Lúc đó các môn đồ đi mua đồ ăn. Khi trở lại họ thấy Chúa Giê Su nói chuyện với người phụ nữ Samaritan. Chúng ta hãy đọc John 4:31-34.

We read in John 4:6 that Jesus was tired out by His journey. It means He was hungry and thirsty. He was waiting by the side of a well for the disciples to get food so that He could eat. But, when He was able to bring the Samaritan woman to repentance, Jesus forgot His physical hunger as He was spiritually full. This is why Jesus said to the disciples that I already had my food. 

Chúng ta đọc trong John 4:6 rằng Chúa Giê Su ngồi nghỉ mệt cạnh một giếng nước. Có nghĩa là Ngài đói và khát. Ngài ngồi nghỉ ở cạnh giếng nước để đợi các môn đồ đi lấy thức ăn để có thể ăn. Nhưng khi Ngài có thể mang một người phụ nữ Samaritan đến chỗ ăn năn, Chúa đã quên mất sự đói khát của thân thể bên ngoài bởi vì bên trong tâm linh Ngài đã no đủ. Đó là lý do tại sao Chúa Giê Su nói với các môn đồ rằng ta đã có thức ăn rồi.

Jesus gave first preference to spiritual food. This is the reason why the Orthodox church has so many Lents which other churches do not have. We use the Lent season to nourish our inner person. We ignore the luxuries including the rich food for the outer person and focus on feeding more of our inner person. The food for the inner person is the Word of God, meditation, prayers and charity. Even for these things, we do not use the outer person much. For example, we do not just read the Word of God using our physical eyes. Instead, we use more of our inner eyes to meditate on the Word of God. We pray less with our tongue, mouth, and voice. They are parts of our outer body. Instead, we pray more with our inner self.

Chúa Giê Su đã đặt ưu tiên hàng đầu cho thức ăn tâm linh. Đây là lý do Nhà thờ Chính thống giáo có nhiều kỳ Chay mà các nhà thờ khác không có. Chúng ta sử dụng kỳ Chay để nuôi dưỡng con người bên trong của mình. Chúng ta bỏ qua những sự xa xỉ bao gồm những thức ăn ngon của con người bên ngoài và tập trung vào nuôi dưỡng con người bên trong. Thức ăn cho con người bên trong chính là Lời của Chúa, sự suy ngẫm, cầu nguyện và từ thiện. Cho những điều này, chúng ta không sử dụng con người bên ngoài nhiều. Ví dụ, chúng ta không chỉ đọc Lời của Chúa sử dụng mắt bên ngoài. Thay vào đó, chúng ta sử dụng nhiều hơn con mắt bên trong để suy ngẫm về Lời của Chúa. Chúng ta cầu nguyện ít hơn với lưỡi, miệng và giọng nói. Đó là những phần của thân thể bên ngoài. Thay vào đó, chúng ta cầu nguyện nhiều hơn với con người bên trong của mình.

You may not know how to pray with your inner self. It is by remaining silent, closing our eyes and minds to external things, and closing our ears to external noise. We then become silent and our spirits start praying. After that, it is not us praying, but our spirits praying with the help of the Holy Spirit. That is what is explained in Romans 8:26-28. As stated clearly in these verses, when we pray with our mouth and tongue we use worldly languages and skills. But, when we are silent, the Holy Spirit helps us to pray without depending on our language, our skills, and our abilities. That is when the actual transformation happens in our lives. 

Bạn có thể không biết làm thế nào để cầu nguyện với con người bên trong. Cầu nguyện như thế là khi chúng ta giữ yên lặng, nhắm mắt và tâm trí với những thứ bên ngoài và đóng tai lại không nghe những thứ bên ngoài. Chúng ta trở nên yên lặng và tâm linh chúng ta bắt đầu cầu nguyện. Sau đó, không phải là chúng ta cầu nguyện nữa mà là tâm linh chúng ta cầu nguyện với sự giúp đỡ của Thánh Linh. Đó là điều được nói đến trong Romans 8:26-28, Cũng vậy, Thánh Linh giúp đỡ sự yếu đuối của chúng ta, vì chúng ta không biết phải cầu nguyện điều gì cho đúng, nhưng chính Thánh Linh dùng những sự thở than không thể diễn tả bằng lời mà cầu thay cho chúng ta. Đấng dò xét lòng người, biết rõ ý tưởng của Thánh Linh, vì Thánh Linh theo ý muốn Đức Chúa Trời mà cầu thay cho các thánh đồ. Chúng ta biết rằng mọi sự hiệp lại làm ích cho những ai yêu mến Đức Chúa Trời, tức là cho những người được gọi theo ý định của Ngài. Như được đưa ra trong những câu này, khi chúng ta cầu nguyện với miệng và lưỡi, chúng ta sử dụng những lời lẽ của thế gian và những kỹ năng ngôn từ. Nhưng khi chúng ta yên lặng, Thánh Linh giúp chúng ta cầu nguyện mà không phụ thuộc vào ngôn ngữ, kỹ năng và khả năng của chúng ta. Đó là khi sự biến đổi thực sự xảy ra trong cuộc sống chúng ta.

The Lent season is to practice this silence and pray in Spirit more. This is also the reason that during the Lent season we talk to the bare minimum and spend more time meditating on the Word of God whilst our spirits talk to the Lord. Likewise, when we do charity, we do not beat drums to show and tell others that we are doing charity or helping others. We do it quietly and in secret. We studied earlier in Matthew 6:3-4 But when you give alms, do not let your left hand know what your right hand is doing, so that your alms may be done in secret; and your Father who sees in secret will reward you. 

Kỳ Chay là cơ hội để luyện tập sự yên lặng này và cầu nguyện trong tâm linh nhiều hơn. Đây cũng là lý do rằng trong suốt kỳ Chay chúng ta chỉ nói chuyện ở mức tối thiểu và dành nhiều thời gian hơn để suy ngẫm về Lời của Chúa trong khi tâm linh chúng ta nói chuyện với Chúa. Tương tự, khi chúng ta làm từ thiện, chúng ta đừng đánh trống để chỉ và nói cho mọi người biết rằng chúng ta đang làm từ thiện hoặc giúp đỡ người khác. Chúng ta nên làm nó một cách thầm lặng. Chúng ta đã học trong Matthew 6:3-4, Nhưng khi con làm việc từ thiện, đừng cho tay trái biết tay phải làm gì để việc từ thiện của con được kín đáo, và Cha con, Đấng thấy trong nơi kín đáo sẽ ban thưởng cho con.

In short, the Lent season is meant for the renewal of our inner self by giving first preference to the inner person. This does not mean that we completely ignore our outer person. We cannot ignore our bodies. We cannot ignore our heads, faces, eyes, ears, arms, and legs. Each and every organ of our outer body is created by God. Therefore, as long as we live in this physical body, we make sure that each and every of our organs is aligned with the will of God. We align our body by keeping it free from sins. 

Tóm lại, kỳ Chay nhằm hướng tới sự đổi mới thân thể bên trong của chúng ta bằng cách đưa ra sự ưu tiên trước nhất cho con người bên trong. Điều này không có nghĩa rằng chúng ta hoàn toàn quên đi con người bên ngoài. Chúng ta không được bỏ qua con người bên ngoiaf. Chúng ta không được bỏ qua đầu, mặt, mũi, tai, tay và chân. Mỗi và mọi cơ quan trong thân xác đều do Chúa tạo nên. Do đó, một khi chúng ta còn tồn tại trong thân xác, chúng ta cần phải đảm bảo rằng mỗi và mọi bộ phận của thân thể chúng ta cũng tương đồng với ý muốn của Chúa. Chúng ta giữ gìn thân thể bằng cách tránh không cho nó phạm tội,.

We need to make sure that we do not sin with our eyes, ears, mouth, arms, legs and other body parts. Each and every part of our body should be kept clean and holy for the Lord. When our physical body is clean of sins, our inner self will become stronger. Therefore, the first step to renew our spirits is the cleansing of our outer body. Hence John the Baptist came ahead of Jesus. His role was to wash the outer body and cleanse the people through repentance and physical baptism. He said, as we studied in Matthew 3:11 I baptise you with water for repentance, but one who is more powerful than I is coming after me; I am not worthy to carry His sandals. He will baptise you with the Holy Spirit and fire. 

Chúng ta cần phải đảm bảo rằng chúng ta không phạm tội với mắt, tai, miệng, tay và chân và các bộ phận khác của thân thể. Mỗi và mọi phần của thân thể cần phải được giữ sạch và thánh khiết cho Chúa. Khi thân thể bên ngoài chúng ta sạch tội lỗi, thân thể bên trong chúng ta sẽ trở nên mạnh mẽ. Đo dó, điều đầu tiên để làm đổi mới tâm linh chúng ta là sự thanh sạch thân thể bên ngoài. Do đó John The Baptist đã đến trước Chúa. Vai trò của ông là rửa sạch thân thể bên ngoài và thanh tẩy mọi người thông qua sự ăn năn và sự báp tiêm rửa tội. Ông nói như chúng ta đọc trong Matthew 3:11, Tôi làm báp tiêm cho các người bằng nước để ăn năn tội lỗi, nhưng Đấng đến sau tôi, uy quyền hơn tôi, tôi không đáng xách dép cho Ngài. Ngài sẽ làm báp tiêm cho các người bằng Đức Thánh Linh và lửa.

In the Orthodox church, we have two stages of baptism. The first stage is repentance and washing with water. The baptismal candidate confesses and repents all the sins that have been committed in the body. In order to repent, one needs to know what sin is. In order to know about sin, one needs to know the Word of God. Hence, we start studying the Word of God first. When the baptismal candidate confesses the sins, the priest casts out all the demonic spirits from the  candidate, and advises repentance. Then, the priest washes the body of the person being baptised from head to toe with water. This much is the first stage. 

Ở Nhà thờ Chính thống giáo, chúng ta có 2 giai đoạn rửa tội. Giai đoạn đầu tiên là sự ăn năn và rửa bằng nước.Người được rửa tội xưng tội và ăn năn tất cả các tội lỗi đã phạm phải với thân thể. Để sám hối một người cần phải biết tội là gì. Để biết về tội, một người cần biết Lời của Chúa. Do đó, chúng ta cần phải học Lời của Chúa trước đã. Khi đến lễ rửa tội, linh mục sẽ đuổi những ác linh khỏi người đó và đưa ra lời khuyên ăn năn sám hối. Khi mục sư rửa thân thể của người được rửa tội từ đầu tới chân bằng nước. Tất cả những điều nầy mới chỉ là giai đoạn đầu tiên.

The second stage is the most important. In the second stage, the candidate is anointed with the holy oil, after which the Holy Body and Holy Blood of Jesus Christ is administered. The holy oil represents the Holy Spirit and the Holy Qurbana which is the body and blood of Jesus Christ represents the fire. This is what John the Baptist said: when Jesus Christ comes He will baptise you with the Holy Spirit and fire. 

Giai đoạn thứ hai là điều quan trọng nhất. Ở giai đoạn thứ hai, người này sẽ được bôi bằng dầu thánh, sau đó, thân thể và máu của Chúa Giê Su sẽ được ban cho người đó. Dầu Thánh tượng trưng cho Thánh Linh và Holy Qurbana chính là thân thể và máu của Chúa Giê Su tượng trưng cho Lửa. Đây là những gì John The Baptist đã nói: khi Chúa Giê Su đến, Ngài sẽ làm báp tiêm cho các ngươi bằng Thánh Linh và lửa.

I need to emphasise, there is no shortcut to Holy baptism. If people do not repent, their baptism is of no use. Those who get baptised without repenting do it for their namesake, but continue living in sin. Unless one is renewed in spirit, baptism has no meaning. Through baptism, the inner person is renewed and starts to grow in Jesus Christ. Without this renewal, our body and our spirits will continue living in sin. Hence Jesus quoted prophet Isaiah as we read in Matthew 13:14-15 You will indeed listen, but never understand, and you will indeed look, but never perceive. For this people’s heart has grown dull, and their ears are hard of hearing, and they have shut their eyes; so that they might not look with their eyes, and listen with their ears. And understand with their heart and turn- and I would heal them. 

Cha muốn nhấn mạnh rằng, không có con đường tắt nào tới Lễ Rửa Tội. Nếu mọi người không ăn năn, sám hổi thì sự rửa tội không có ý nghĩa gì. Những ai rửa tội mà không ăn năn sám hối thì chỉ làm mang tính hình thức, nhưng sẽ tiếp tục sống trong tội lỗi. Trừ khi một người được đổi mới trong tâm linh, sự rửa tội sẽ không có ý nghĩa gì cả. Qua sự rửa tội, con người bên trong sẽ được làm mới và bắt đầu lớn lên trong Chúa Giê Su. Nếu không có sự đổi mới này, thân xác và tâm linh sẽ tiếp tục sống trong tội lỗi. Do đó Chúa Giê Su đã đưa ra lời nhà tiên tri Isaiah như chúng ta đọc trong Matthew 13:14-15, Các ngươi lắng nghe nhưng không hiểu, Đưa mắt nhìn mà chẳng thấy gì. Vì lòng dân này chai lì; Tai đã nặng, mắt đã nhắm. Sợ rằng mắt thấy được, Tai nghe được, Lòng hiểu được, Họ tự hối cải, Và ta sẽ chữa lành chăng.

This is the situation of those people who have accepted namesake baptism without any repentance and cleansing and receiving the Holy Spirit and fire. They read the Bible, but do not understand what they read. They attend church, but fail to experience worship. Jesus called such people hypocrites. The problem with such people is that they will always be worried about their physical self. Even after getting baptised their habits remain the same. Such people will still be worried about their food, their job, their money and everything related to the outer body. They will never understand what Jesus said in Matthew 6:25: Therefore I tell you, do not worry about your life, what you will eat or what you will drink, or about your body, what you will wear. Is not life more than food, and the body more than clothing? 

Đây là tình trạng của những người mà đi rửa tội chỉ để cho có danh nghĩa mà không có sự thống hối thật sự hay không thanh tẩy mình và nhận lãnh Thánh Linh và lửa. Họ đọc Kinh Thánh nhưng không hiểu họ đang đọc gì. Họ đến Nhà htowf nhưng không trải nghiệm được sự thờ phượng. Chúa Giê Su gọi những người đó là những kẻ giả tạo. Vấn đề với những người đó là họ sẽ luôn lo lắng về thân xác của họ. Ngay cả sau khi rửa tội, những thói xấu của họ vẫn giữ nguyên. Những người như vậy sẽ vẫn chỉ lo lắng về tiền bạc, công việc, tiền và mọi thứ liên quan đến thân xác bên ngoài của họ. Họ sẽ không bao giờ hiểu được những điều Chúa Giê Su nói đến trong Matthew 6:25, Vì vậy, Ta phán với các con: đừng vì mạng sống mà lo phải ăn gì, uống gì, đừng vì thân thể mà lo phải mặc gì. Mạng sống không quý trọng hơn thức ăn sao? Thân thể không quý trọng hơn quần áo sao?

For such people, life means the life of the physical body. But, by life Jesus means the spiritual life or the life of our spirits. The namesake followers of Jesus Christ are more interested in external miracles. For such people, miracles are like magic. They want someone to pray and make them rich overnight. They want instant healing performed like magic. In everything, they want to satisfy their physical eyes, physical ears and everything related to the outer body. We have the example of the scribes and the Pharisees in Matthew 12:38-39. These scribes and Pharisees were hypocrites and they were only interested in their outer body. They wanted Jesus to perform some magic to entertain them. Jesus clearly said as we just read- evil and adulterous generation asks for signs. 

Với những người đó, cuộc sống nghĩa là sự sống của thân xác bên ngoài. Nhưng với Chúa, cuộc sống nghĩa là đời sống tâm linh. Những người theo Chúa theo tính hình thức như thế thì họ có đặc điểm là thích nhìn thấy những phép lạ. Với họ, phép lạ giống như là ảo thuật vậy. Họ muốn một ai đó cầu nguyện và khiến họ giàu có luôn và ngay. Họ muốn sự chữa lành ngay lập tức như một phép ảo thuật. Trong mọi sự, họ muốn thỏa mắt con mắt mình, đôi tai mình và mọi thứ liên quan đến thân xác bên ngoài. Chúng ta có ví dụ về những người Pharisee và những thầy thông giáo trong Matthew 12:38-39, Bấy giờ có mấy thầy thông giáo và người Pha-ri-si nói với Ngài rằng: Thưa thầy, chúng tôi muốn xem Thầy làm một dấu lạ. Ngài đáp: thế hệ gian ác, dâm loạn này tìm kiếm một dấu lạ nhưng sẽ chẳng nhận được một dấu lạ nào ngoài dấu lạ của nhà tiên tri Jonah. Những nhà thông giáo và người Pha-ri-si là những kẻ đạo đức giả và họ chỉ quan tâm đến thân thể bên ngoài. Họ muốn Chúa Giê Su thực hiện những phép mầu để làm cho họ thỏa mãn. Chúa Giê Su nói rõ như chúng ta đọc trong câu vừa rồi.

The greatest miracle that could ever happen to us is our inner transformation. If we are completely changed from a sinful past to a life with Jesus, there is no miracle greater than that. When Jesus said to the disciples of John the Baptist to go and report the miracles, He did not mean the physical miracles. Jesus actually meant the spiritual transformation happening in the people. For example, when He said, The blind receive their sight, he meant the inner eyes of the people are opened and they have started experiencing Jesus Christ from within. Of course there were physically blind people as well whom Jesus healed. But more than that there were people who were spiritually blind, as is evident from what we studied earlier in Matthew 4:15-16. The people were living in darkness as they were spiritually blind. When Jesus preached the Kingdom of God, their eyes were opened. 

Phép mầu lớn nhất có thể xảy ra với chúng ta chính là sự đổi mới bên trong của chúng ta. Nếu chúng ta hoàn toàn thay đổi từ lối sống tội lỗi sang một cuộc sống có Chúa Giê Su, thì không còn phép mầu nào hơn thế. Khi Chúa Giê Su nói với các môn đồ của John là hãy đi và ghi lại những phép mầu. Ngài không có ý nói đến những phép mầu về thể xác nhìn thấy được. Chúa thật ra muốn nói đến sự biến đổi về tâm linh xảy ra trong mỗi người. Ví dụ, Ngài nói, người mù được sáng, Ngài muốn chỉ rằng mắt bên trong của mọi người đã được mở ra và họ bắt đầu cảm nhận được Chúa ở bên trong họ. Tất nhiên cũng có những người mù được Chúa chữa lành, nhưng hơn thế là những người mù về tâm linh như chúng ta đọc trong Matthew 4:15-16, Đất Sabulon và Nép ta li, con đường ra biển, bên kia sông Giô đanh, Miền Galile của dân ngoại – Dân ngồi trong bóng tối, đã thấy ánh sáng lớn, và những người ngồi nơi bóng sự chết bao phủ, đã thấy ánh sáng bừng lên. Những người sống trong bóng tối là vì họ mù về tâm linh. Khi Chúa rao giảng vương quốc của Đức Chúa Trời, mắt họ được mở ra.

When Jesus taught the people about the Kingdom of heaven, the message went beyond their ears and touched their spirits. They were able to hear the Word of God with their spirits. Those who have only received their namesake baptism still are unable to walk in the light of Jesus. This is what Saint John the disciple of Jesus said, as we read in 1 John 1:6: If we say that we have fellowship with Him while we are walking in darkness, we lie and do not do what is true. People who are not spiritually transformed after baptism are simply lying that they follow the Lord, because they are still living their sinful life. 

Khi Chúa Giê Su dạy mọi người về vương quốc thiên đàng, thông điệp đi tới hơn cả những gì họ nghe và chạm đến tâm linh của họ. Họ có thể nghe thấy Lời của Chúa với tâm linh của họ. Những ai chỉ nhận sự rửa tội hình thức thì vẫn không thể bước đi trong ánh sáng của Chúa. Đó là điều chúng ta đọc được trong 1 John 1:6, Nếu chúng ta nói mình được tương giao với Ngài mà vẫn bước đi trong bóng tối thì chúng ta nói dối và không làm theo chân lý. Người nào không đổi mới về tâm linh sau khi rửa tội thì họ chỉ đang cố nói rằng họ là người theo Chúa nhưng thực tế họ vẫn đang sống một cuộc sống tội lỗi.

When Jesus said to the disciples of John the Baptist to go and tell that the lame have started walking, He meant, people now understand the truth, and they are walking in truth. The same principle applies to the cleansing of lepers. We studied earlier referring to Leviticus 14 that leprosy was due to the sins of a person. When Jesus said that the lepers are cleansed, He meant the sins of the leprosy patients have been forgiven and they have repented and been transformed in spirit. Finally, when Jesus said the poor have good news brought to them, He did not mean the poor people as those who do not have any money receiving the good news. We studied earlier who the poor people are in Matthew 5:3 Blessed are the poor in spirit, for theirs is the Kingdom of heaven. As is clearly evident from this verse, the poor are not those without money, but the poor are those in spirit, which means those whose spirits do not have any Word of God. For such people, the good news was brought by Jesus Christ. 

Khi Chúa nói với các môn đồ của John The Baptist là hãy đi và nói với người rằng người què đã bắt đầu được đi. Ngài có ý nói rằng, mọi người bây giờ đã hiểu sự thật và bước đi trong sự thật. Cũng cùng một lý thuyết đó được áp dụng cho người phong hủi. Chúng ta học trong Leviticus 14 rằng phong hủi là do tội lỗi của một người. Khi Chúa Giê Su nói rằng phong hủi đã được tẩy sạch, nghĩa rằng tội của người phỏng hủi đã được tha thứ và họ đã sám hối cũng như được thanh tẩy trong tâm linh. Cuối cùng, khi Chúa nói người nghèo được rao giảng Tin Lành. Ngài không có ý nói chỉ những người nghèo như nhưng người không có tiền và người nghèo ở đây là người nghèo khó về tâm linh được nói đến trong Matthew 5:3 Phước cho những ai nghèo khó tâm linh vì vương quốc thiên đàng là của họ. Như được chỉ rõ trong câu này, người nghèo không phải là những người không có tiền, nhưng là những người nghèo khó về tâm linh, có nghĩa là những người không có Lời của Chúa. Với những người đó, tin lành đã được mang đến bởi Chúa.

The question that we need to ask ourselves is what is the greatest miracle that Jesus has performed in our lives. If the answer is forgiveness of our sins, then we are on the right track. As I said in the beginning, Jesus never meant anything literally. He always spoke in spiritual language. If we want to understand Jesus’ teachings, we need the help of the Holy Spirit. Hence I said earlier, that we need to practice silence when the Holy Spirit will help us to understand things. Saint Paul said in 1 Corinthians 2:14: Those who are unspiritual do not receive the gifts of God’s Spirit, for they are foolishness to them, and they are unable to understand them because they are spiritually discerned. In other words, unspiritual people will not be able to understand anything that is spiritual.  

Câu hỏi mà chúng ta cần phải hỏi bản thân mình là phép lạ lớn nhất mà Chúa đã thực hiện trong cuộc đời bạn là gì. Nếu câu trả lời là sự tha thứ cho tội lỗi, thì bạn đang đi đúng đường. Như Cha nói từ đầu, Chúa Giê Su không bao giờ nói nghĩa đen. Ngài luôn dùng ngôn ngữ thuộc linh. Nếu chúng ta muốn hiểu lời dạy của Chúa Giê Su, chúng ta cần sự giúp đỡ của Thánh Linh. Đo dó, chúng ta cần thực hành sự yên lặng khi Thánh Linh sẽ giúp chúng ta hiểu mọi sự. Thánh Paul nói trong 1 Corinthians 2:14 Người không có Thánh Linh không nhận được những điều từ Thánh Linh của Đức Chúa Trời, bởi người đó xem những điều này là điên rồ, không thể hiểu được, vì phải được phán đoán theo cách thuộc linh. Nói cách khác, những người không có Thánh Linh thì không thể hiểu được những điều tâm linh.

An unspiritual person can of course see the eyes of the blind getting opened but won’t be able to see the inner eyes being opened. Likewise, each miracle. Such people only see the outer things, but cannot see the great inner transformation. 

Một người không có Thánh Linh có thể nhìn thấy mắt người mù mở ra nhưng sẽ không hiểu được con mắt bên trong mở ra là như thế nào. Cũng như vậy, mỗi phép mầu. Những người đó chỉ nhìn thấy những thứ bên ngoài chứ không thể nhìn thấy những sự biến đổi to lớn bên trong.

Holy Lent is an opportunity for inner transformation. We do not worry too much about our outer body. We worry more about our inner body because it is what will join Jesus after we die. Therefore, let us focus on spiritual renewal through repentance and transformation. Let this holy Lent be a season of inner transformation for all of us. 

Kỳ Chay Thánh là một cơ hội để chúng ta có những sự biến đổi bên trong. Chúng ta không lo lắng quan tâm quá nhiều đến thân xác. Chúng ta quan tâm nhiều hơn đến thân thể bên trong bởi vì đó là những gì của chúng ta mà sẽ về với Chúa khi chúng ta chết. Do đó, chúng ta hãy tập trung vào sự biến đổi tâm linh qua sự sám hối và sự biến đổi. Hãy để Kỳ Chay Thánh trở thành mùa của những sự biến đổi bên trong đối với tất cả chúng ta.

God bless you. Amen.