Saturday, January 15, 2022

Matthew 12:1-8 Con Người là Chúa của Ngày Sabbath

  

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We completed studying Matthew chapter 11 in the last class. Tonight, we start studying Matthew chapter 12. Let us read the first section from vs. 1-8. 

Chúng ta đã hoàn thành Matthew chương 11 ở buổi trước. Tối nay, chúng ta bắt đầu học Matthew chương 12. Chúng ta hãy đọc chương đầu tiên từ câu 1 đến câu 8.

This incident happened on a Sabbath day. On their way to the temple, the disciples casually plucked the grains from the field and started eating. The Pharisees saw this and complained to Jesus that His disciples were not observing the Sabbath properly. 

Sự việc này xảy ra vào ngày Sabbath. Trên đường tới đền thờ, các môn đồ đã vô tình bẻ các hạt lúa từ cánh đồng và ăn. Những người Pha ri si nhìn thấy và phàn nàn với Chúa Giê Su rằng các môn đồ của Ngài đã vi phạm ngày Sa bát.

The origin of Sabbath is found in Genesis 2:2-3 And on the seventh day God finished the work that He had done, and He rested on the seventh day from all the work that He had done. So God blessed the seventh day and hallowed it, because on it God rested from all the work that He had done in creation.  As we see here, God blessed the seventh day and gave it to us as a day of rest and ceasing from all work. 

Nguồn gốc của Ngày Sa bát được đưa ra trong Sáng Thế Ký 2:2-3 Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy, Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc. Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó vì ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo. Như chúng ta thấy ở đây, Chúa đã ban phước cho ngày thứ bảy và cho chúng ta một ngày để nghỉ ngơi và dừng khỏi toàn bộ mọi công việc. 

The second instance of Sabbath is seen in the journey of the people of God from Egypt to the promised land, Canaan.  Exodus 16:26 we read: Six days you shall gather it; but on the seventh day, which is a Sabbath, there will be none; and in Exodus 16:29-30 it is said See! The Lord has given you the Sabbath, therefore on the sixth day He gives your food for two days; each of you stay where you are; do not leave your place on the seventh day. So the people rested on the seventh day. As is instructed in verses 26&29, the seventh day of the week is a day of rest and on that day, we are not allowed to do any work. 

Ví dụ thứ hai về Ngày Sabbath được nhìn thấy từ hành trình của người dân Do Thái từ Ai Cập về miền đất hứa, Canaan. Exodus 16:26 chúng ta đọc rằng: Anh em kiếm ăn trong sáu ngày nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa bát, sẽ chẳng có gì cả. Và trong Exodus 16:29-30 Hãy nhớ rằng Đức Giê Va đã cho các con ngày Sa bát vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà. Như vậy, vào ngày thứ bảy, dân chúng được nghỉ ngơi. Và như trong câu 26 và 29 chỉ ra, Ngày thứ bảy là ngày nghỉ ngơi và vào ngày này, chúng ta không được phép làm công việc gì.

This instruction about Sabbath is further emphasised by including it in the Ten Commandments. Exodus 20:8-11 Remember the Sabbath day, and keep it holy. Six days you shall labour and do all your work. But the seventh day is a Sabbath to the Lord your God; you shall not do any work-you, your son or your daughter, you male or female slave, your livestock, or the alien resident in your towns. For in six days the Lord made heaven and earth, the sea, and all that is in them, but rested the seventh day; therefore the Lord blessed the Sabbath day and consecrated it. 

Hướng dẫn về Sa bát được nhấn mạnh bằng cách thêm vào mười điều răn. Exodus 20:8-11 Hãy nhớ ngày nghỉ để giữ làm ngày thánh. Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê Hô Va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của con, cả đến khách lạ trong nhà con đều không được làm bất cứ công việc gì. Vì trong sáu ngày, Đức Giê Hô Va đã tạo dựng trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, nhưng Ngài nghỉ ngày thứ bảy. Vì vậy, Đức Giê Hô Va ban phước cho ngày nghỉ và thánh hóa ngày ấy.

The seventh day of the week is Saturday. According to the Jewish calendar, a day starts in the evening and ends in the following evening. It means Sabbath starts on Friday evening and ends on Saturday evening.  The Orthdox church also follows the same timings for a day. Our days start in the evening at 6pm and end in the evening of the following day at 6pm. 

Ngày thứ bảy trong tuần là ngày thứ bảy. Theo lịch của Người Do Thái, một ngày bắt đầu vào buổi tối và kết thúc vào buổi tối ngày hôm sau. Có nghĩa là ngày Sa bát bắt đầu vào tối thứ sáu và kết thúc vào tối thứ bảy. Nhà thờ Chính Thống Giáo cũng tuân theo ngày giờ tương tự cho một ngày. Ngày của chúng ta bắt đầu vào buổi tối lúc 6h tối và kết thúc vào buổi tối của ngày hôm sau lúc 6h tối.

You need to know why we observe Sunday as Sabbath. Sunday is actually the first day of the week and not the seventh day. We observe Sunday as Sabbath because Jesus resurrected from death on a Sunday. He was crucified on a Friday and rose up from the dead on the third day which was Sunday. We received complete rest on Sunday through the resurrection of Lord Jesus. There is a group of Christians called The Seventh Day Adventists in the USA who still observe Saturday as Sabbath. 

Chúng ta cần phải biết tại sao chúng ta coi Ngày Chủ nhật như ngày Sa bát. Ngày Chủ nhật thật ra là ngày đầu tiên của tuần chứ không phải ngày thứ bảy. Chúng ta xem ngày Chủ nhật là ngày Sa bát bởi vì Chúa Giê Su phục sinh từ cõi chết vào ngày Chủ nhật. Ngài bị đóng đinh vào Ngày thứ sáu và sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba tức là ngày Chủ nhật. Chúng ta đón nhận sự nghỉ ngơi hoàn toàn vào ngày Chủ nhật qua sự phục sinh của Chúa Giê Su. Có một nhóm người theo Đạo Thiên Chúa có tên gọi là Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật ở Mỹ họ vẫn coi ngày thứ bảy là ngày Sa bát.

The Jewish Sabbath starts with lighting of candles, and reciting a short prayer. In terms of the meals on Sabbath, they had one meal on the eve of the Sabbath, which is Friday evening. The second meal was lunch on Saturday, and the third one, later in the afternoon with the lighting of candles and prayers. Strict observance of Sabbath was practiced by the Jews. However, people later forgot the meaning and essence of Sabbath and focused more on the outward things of Sabbath. 

Ngày Sa bát của người Do Thái bắt đầu bằng việc thắp nến và cùng đọc một đoạn cầu nguyện ngắn. Xét về bữa ăn trong ngày Sa bát, có một bữa vào tối ngày Sa bát đó là tối thứ sáu. Bữa thứ hai là bữa trưa ngày thứ 7 và bữa thứ ba là vào buổi chiều cũng thắp nến và cầu nguyện. Sự tuân thủ nghiêm ngặt ngày Sa bát được người Do Thái thực hiện. Tuy nhiên, người ta sau đó quên đi ý nghĩa và bản chất của Ngày Sa bát mà tập trung nhiều hơn vào những thứ bên ngoài.

The Pharisees were the spiritual leaders of the Jewish people. But, they themselves ignored the essence of the Sabbath. There were mainly three things that the Jews did on a Sabbath. 1. They remembered the creation story that we read in Genesis chapter 1; 2. They also remembered their deliverance from Egypt about which we read in the book of Exodus; 3. They looked forward to the coming of the Messiah. These three activities were the essence of the Sabbath. The three could be summarised as 1. Creation; 2. Deliverance; and 3. Eternity. Let us have a look at each of these:

Người Pha ri si là những nhà lãnh đạo tinh thần của người Do Thái. Nhưng ngay chính bản thân họ cũng lãng quên bản chất của ngày Sa bát. Có ba điểm chính mà người Do Thái làm vào ngày Sa bát 1. Họ tưởng nhớ câu chuyện sáng tạo của Chúa mà chúng ta đọc được trong Sáng Thế Ký chương 1, 2. Họ cũng nhớ sự giải cứu khỏi Ai cập trong Exodus chương 3. Họ trông đợi sự đến của đấng Messiah. Cả ba hoạt động này là bản chất của Ngày Sa bát. Ba điều này có thể tóm lược là 1. Sự sáng tạo 2. Sự giải cứu 3. Sự vĩnh hằng. Chúng ta hãy nhìn vào từng điều này một:

Creation: On Sabbath, the Jews just remembered how God created this world and how He created human beings. But, there is no point in just repeating the same thing every week. You need to delve deep into it. It means, you meditate on how God created each thing and beings out of His love. And think of what went wrong. Then we will realise that we betrayed the love of God and disobeyed God’s commandment. That is what Adam and Eve did. In other words, we are not just remembering the past, but we look forward to the future. This is the way we should read the Bible everyday. If we just read the Bible, it is the same thing reading again and again. You will eventually get bored. But, if you meditate on what you read, every time you read, you will get newer revelation from what you read. That will lead you forward in your life. 

Sự sáng tạo: Vào ngày Sa bát, Người Do Thái tưởng nhớ Chúa đã tạo dựng thế giới này như thế nào và Ngài đã tạo dựng nên con người như thế nào. Nhưng sẽ chẳng có ích gì nếu như cứ lặp đi lặp lại một điều như thế hàng tuần. Bạn cần phải đào sâu vào nó. Có nghĩa rằng, bạn suy ngẫm về việc Chúa đã tạo ra mỗi thứ và mọi vật hiện hữu trên thế gian bằng tình yêu của Ngài như thế nào. Và hãy nghĩ xem điều gì đã đi trệch khỏi quỹ đạo. Sau đó chúng ta nhận ra rằng chúng ta đã phản bội tình yêu của Chúa và không tuân theo những điều răn của Ngài. Đây là những gì Adam và Eva đã làm. Nói cách khác chúng ta không chỉ nhớ về quá khứ mà còn cần nhìn về tương lai nữa. Đây là cách chúng ta đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Nếu chúng ta chỉ đọc Kinh Thánh, đó là việc cứ đọc đi đọc lại. Bạn sẽ cảm thấy chán. Nhưng nếu bạn suy ngẫm về những điều bạn đọc, mỗi lần bạn đọc bạn sẽ lại có những sự hiểu biết mới mẻ hơn về những điều bạn đọc. Điều đó sẽ dẫn dắt bạn tiến lên trong cuộc sống.

Looking forwards to the future means thinking of how we can get out of our sin. This is what King David prayed as we read in Psalm 51: 7-10 (please read). Here we see that King David is praying to make him a new creation. Psalm 51 is King David’s confession of his sin. In the Orthodox church, our Sabbath evening prayer starts by reciting Psalm 51 immediately after the Kauma (prayer). It is meant to confess our sins and seek deliverance so that we may be made a new creation for the Lord and by the Lord. 

Việc nhìn tiến lên tới tương lai nghĩa rằng hãy nghĩ về việc làm thế nào bạn có thể thoát ra khỏi tội lỗi. Đây là điều Vua David đã cầu nguyện như chúng ta đọc được trong Thi Thiên 51:7-10 Xin lấy chum bài hương tẩy sạch tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên trắng hơn tuyết. Chúa sẽ khiến con nghe tiếng vui vẻ mừng rỡ để các xương cốt mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc. Xin Chúa ngoảnh mặt khỏi các tội lỗi con và bôi xóa mọi gian ác của con. Đức Chúa Trời ơi, xin dựng nên trong con một lòng trong sạch và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng. Ở đây chúng ta thấy Vua David đã cầu nguyện xin Chúa cho mình trở thành một sinh vật mới. Thi Thiên 51 là lời thú tội của Vua David về tội lỗi mình. Trong nhà thờ Chính Thống Giáo, bài cầu nguyện buổi tối của Ngày Sa bát bắt đầu bằng Thi Thiên 51 ngay sau bài Kinh mở đầu (Kauma). Điều này có ý nghĩa là để xưng tội lỗi và tìm kiếm sự giải cứu để chúng ta có thể được làm mới bởi Chúa và cho Chúa.

Deliverance: Looking up to the future means one is desperate to be delivered from the bondage of Satan. In the same way as the people of God were in the spiritual bondage of Satan, they were also in physical bondage in Egypt. The Jews lived as slaves in Egypt for 400 years. When the people could not bear the slavery anymore, they started crying to the Lord as we read in Exodus 2:23-25 After a long time the king of Egypt died. The Israelites groaned under their slavery, and cried out. Out of the slavery their cry for help rose up to God. God heard their groaning, and God remembered His covenant with Abraham, Isaac, and Jacob. God looked upon the Israelites, and God took notice of them. 

Sự giải cứu: Nhìn về tương lai nghĩa là một người mong ngóng được giải cứu khỏi xiềng xích của quỷ Satan. Tương tự như con cái Chúa ở trong xiềng xích về tâm linh của quỷ, họ cũng ở xiềng xích thể xác ở Ai Cập. Người Do Thái đã sống như là nô lệ ở Ai Cập trong suốt 400 năm. Khi người ta không thể chịu được sự nô dịch nữa, họ bắt đầu kêu cầu Chúa như chúng ta đọc trong Exodus 2:23-25, Sau một thời gian dài, vua Ai Cập qua đời. Dân Ysarel than thở, kêu van dưới ách nô lệ, tiếng ca thán của họ thấu đến Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở của họ và nhớ lại giao ước đã kết lập với Áp ra ham, Y sác, và Gia cốp. Đức Chúa Trời đoái đến dân Isarel và thấu hiểu cảnh ngộ của họ.

As we see here, it took 400 years for the Israelites to realise the burden of slavery. Only then, they cried out to the Lord. This is the same situation with many people around us. They prefer to live with the burden of mental sickness and physical ailments and do not want to repent their sins and come to the Lord. When everything is lost and life is completely destroyed, they try to come back. Isn’t it better to come to the Lord as soon as we can?  

Như chúng ta thấy ở đây, người Isarel đã mất 400 năm để nhận ra gánh nặng của ách nô lệ. Chỉ khi đó họ mới kêu cầu đến Chúa. Đây cũng là cảnh ngộ của nhiều người quanh chúng ta. Họ thích sống với gánh nặng về tâm trí và thể xác và không muốn sám hối và đến với Chúa. Khi mọi thứ mất đi và cuộc đời bị phá hủy hoàn toàn, họ cố gắng trở lại. Thế thì chẳng phải tốt hơn là nên trở về cùng Chúa càng sớm càng tốt hay sao?

Anyway, as we read later in Exodus 3:7-8 (please read), God decided to deliver the people from slavery. He appointed Moses to lead them out of Egypt to the promised land, Canaan.  This is the second thing that the Jewish people remembered during the Sabbath. It was how God delivered them from slavery. But, the most important thing is, though they were physically delivered from slavery, they were still spiritually slaves to Satan. They were not spiritually delivered. As we read throughout the Old Testament, the people continued in sin on the course of their journey to the promised land, and even after reaching Canaan and were settled down. 

Chúng ta đọc trong Exodus 3:7-8, Đức Giê Hô Va phán: Ta đã thấy rõ nỗi khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe thấu tiếng họ kêu than vì các đốc công Phải Ta biết được nỗi đau đớn của họ. Ta ngự xuống để giải dân nầy khỏi tay người Ai Cập, đem họ ra khỏi xứ ấy, đưa đến một vùng đất tốt đẹp và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi ở của dân Canaan, dân Hê tít, dân A mô rít, dân Phê rê sít, dân Hê vít, và dân Giê bu sít. Chúa đã quyết định giải cứu dân Ngài khỏi ách nô lệ. Ngài chỉ định Môi Se dẫn dắt họ ra khỏi Ai Cập tới miền đất hứa Canaan. Đây là điều thứ hai mà người Do Thái nhớ trong suốt ngày Sa bát. Đây là cách Chúa giải cứu họ khỏi ách nô lệ. Nhưng điều quan trọng nhất là mặc dù họ được giải cứu thân xác nô lệ, họ vẫn cứ là nô lệ về tinh thần của quỷ. Họ chưa được giải cứu về tinh thần. Như chúng ta đọc được xuyên suốt Cựu Ước, con người tiếp tục sống trong tội lỗi trong suốt hành trình của họ đến miền đất hứa và thậm chí ngay cả khi xác lập bờ cõi ở đó.

The superficial remembrance of deliverance was not the essence of the Sabbath. Instead, it is how one responds to deliverance that is important. Psalm 116:1-2 I love the Lord, because He has heard my voice and my supplications. Because He inclined His ear to me, therefore, I will call on Him as long as I live. As evident from these verses, when God hears our cries and answers our prayers, we should be grateful to Him. Secondly, we do not stop calling on Him as soon as we get physically delivered, but we should call even more, so that our spirits are also delivered. Remember, I mentioned the difference between getting healed and getting well, in the last class. 

Sự tưởng nhớ về sự giải cứu mang tính chất bề ngoài không phải là bản chất của ngày Sa bát. Thay vào đó, nó là cách một người có sự suy ngẫm với sự giải cứu là điều quan trọng. Thi Thiên 116:1-2 Tôi yêu mến Đức Giê Hô Va Vì Ngài nghe tiếng tôi và lời nài xin của tôi. Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi. Bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi. Như những câu này nói, khi Chúa lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng ta và trả lời cầu nguyện của chúng ta, chúng cần phải biết ơn Ngài. Thứ hai là chúng ta không ngừng kêu cầu Ngài ngay cả khi chúng ta được giải cứu về thể xác, mà chúng ta cần phải kêu cầu nhiều hơn nữa để mà tâm linh chúng ta được giải cứu. Nhớ rằng, Cha đã dạy về sự khác biệt giữa được chữa lành và được lành hoàn toàn trong buổi trước.

The people of God and their leaders stopped at their physical deliverance. They did not continue to get their spiritual deliverance. Unless we are spiritually delivered we cannot live with the Lord. Hence King David prayed as we read in Psalm 22:19-20 But you, O Lord, do not be far away! O my help, come quickly to my aid! Deliver my soul from the sword, my life from the power of the dog. King David earnestly prayed that though I am physically well, rich, and powerful as a King, O Lord please help me to save my spirit from the devil. Hanging on the cross, this was the Psalm that Jesus prayed on behalf of mankind. 

Con cái Chúa và những người lãnh đạo của họ đã dừng lại ở sự giải cứu về thể xác. Họ không tiếp tục để có được sự giải cứu về tâm linh. Nếu như chúng ta không được giải cứu về tâm linh, chúng ta không thể ở cùng Chúa được. Do đó, Vua David đã cầu nguyện trong Thi Thiên 22:19-20, Đức Giê Hô Va ơi xin đừng cách xa con! Lạy Chúa quyền năng của con, xin mau mau đến giúp đỡ con. Xin giải cứu linh hồn con khỏi gươm và mạng sống con khỏi loài chó. Vua David đã khẩn thiết khẩn cầu mặc dù con khỏe về thể xác, giàu có và mạnh mẽ như một Nhà Vua, xin Chúa hãy giải cứu tâm linh con khỏi quỷ dữ. Treo mình trên cây thập tự, đây cũng là Thi Thiên là Chúa Giê Su đã cầu nguyện thay cho con người.

Jesus hung on the cross to deliver us from the slavery of the devil. When we remember the suffering and death of Jesus on the cross, we actually look forward to the deliverance that we received by his suffering and death. It means, we are not stuck just by simply remembering the suffering and death of Jesus, but we look forward to the outcome of his suffering and death. Jesus did not remain buried in the grave. He defeated death and rose up on the third day. Thus, for us, His resurrection is the most important event. Hence, we moved the Sabbath to the day of resurrection because God gave us rest from fighting the devil by the resurrection of Jesus on the third day which is Sunday. 

Chúa Giê Su đã treo mình trên Cây Thập Tự để giải cứu chúng ta khỏi ách nô lệ của quỷ. Khi chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh và sự chết của Chúa Giê Su trên cây thập tự, chúng ta thật ra đang trông mong đến sự giải cứu mà chúng ta nhận được qua sự hy sinh và sự chết của Ngài. Có nghĩa rằng chúng ta không kẹt ở đó chỉ bằng cách nhớ đến sự đau thương và sự chết của Chúa Giê Su mà chúng ta trông chờ vào kết quả của điều đó. Chúa đã không chỉ bị chôn vùi trong huyệt mộ. Ngài đã đánh bại sự chết và trỗi dậy vào ngày thứ ba. Do đó, với chúng ta, sự phục sinh của Chúa là sự kiện quan trọng nhất. Do đó, chúng ta chuyển ngày Sa bát sang ngày phục sinh bởi vì Chúa cho chúng ta được an nghỉ khỏi đánh nhau với quỷ bởi sự phục sinh của Chúa vào ngày thứ ba đó là ngày Chủ nhật.

The Pharisees and their followers only looked backwards. They just remembered and talked about the deliverance from Egypt on every Sabbath. They failed to look forward. Philippians 3:13-14 Beloved, I do not consider that I have made it my own; but this one thing I do; forgetting what lies behind and straining forward to what lies ahead. I press on toward the goal for the prize of the heavenly call of God in Christ Jesus. As these verses suggest, we should never get drowned in the past. Instead, we should always aim to achieve the goal to receive the heavenly call. That call is to live eternally with Christ Jesus. 

Người Pha ri si và những người theo họ chỉ nhìn về đằng sau. Họ chỉ nhớ và nói về sự giải cứu khỏi Ai cập trong mọi ngày Sa bát. Nhưng họ không nhìn về phía trước. Philipians 3:13-14, Thưa anh em, tôi không nghĩ rằng mình đã đoạt được rồi, nhưng tôi cứ làm một điều: đó là quên đi những gì ở đằng sau, vươn tới những gì ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà theo đuổi để đoạt giải về sự kêu gọi trên cao của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Giê Su. Và như câu này đã nói, chúng ta không bao giờ chìm đắm trong quá khứ. Thay vào đó, chúng ta nên luôn luôn nhắm tới mục đích để nhận được sự kêu gọi trên cao. Sự kêu gọi đó là sự sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su.

Eternity: The third and most important essence of Sabbath is living eternally with Jesus Christ. The Jews looked forward to the age of Messiah on each Sabbath. But, since they were stuck in the past, they were unable to see or realise that the Messiah had come. Hence Jesus quoted the prophecy of Jeremiah as we read in Matthew 13:13 The reason I speak to them in parables is that ‘seeing they do not perceive, and hearing they do not listen, nor do they understand’. 

Sự vĩnh hằng: Điều thứ ba và là điều quan trọng nhất của Ngài Sa bát là sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su. Người Do Thái đã nhìn vào sự đến của đấng Messiah vào ngày Sa bát. Nhưng vì họ bị mắc kẹt trong quá khứ, họ không thể nhìn thấy hay nhận ra rằng Đấng Messiah đã đến. Do đó, Chúa Giê Su đã đọc lại những lời tiên tri của Giê Rê Mi như chúng ta đọc được trong Matthew 13:13 rằng: Bởi vậy, Ta dùng ẩn dụ để nói với họ, vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe không hiểu.

We had many students in this Bible class earlier. Unfortunately, even after seeing the Bible and hearing the messages, they never understood a word from the classes. Eventually, they all left. One student was completely healed of cancer. But still, she is not willing to come to Jesus. The reason is they are unable to see where they will be after they complete their life on this earth. 

Chúng ta có nhiều học sinh từng học ở lớp Kinh Thánh này. Không này, sau khi đọc Kinh Thánh và nghe được những lời này, họ cũng không hiểu gì. Và sau đó họ không tham gia nữa. Một học sinh từng khỏi hẳn bệnh ung thư. Nhưng cô ấy vẫn không sẵn sàng để đến với Chúa/ Lý do là vì họ không thể nhìn thấy họ sẽ ở đâu sau khi họ kết thúc cuộc đời họ trên thế gian này.

Every Sabbath is a day of renewal and a day of advancing ourselves to our next life with Jesus which is actually the eternal life. Psalm 90:10 The days of our life are seventy years, or perhaps eighty, if we are strong; even then their span is only toil and trouble; they are soon gone, and we fly away. This prayer of Moses tells us that no matter how hard we try to indulge in this world, we will not last longer than 70 or 80 years. The coffee shop that you spend time in will forget you. The people whom you trusted and loved will forget you. The places where you worked will forget you. The saddest thing is that all the money that you earned by working so hard will also forget you. Not even a single penny is going to come with you after your death. Hence King David said in Psalm 69:8 I have become a stranger to my kindred, an alien to my mother’s children. As this verse suggests, one day we will become strangers to everyone and everything in this world. 

Mỗi ngày Sa bát là một ngày của sự khởi đầu và là một ngày chúng ta đến gần hơn với cuộc sống sau này với Chúa Giê Su mà thực ra đó mới là cuộc sống vĩnh hằng. Thi Thiên 90:10 Tuổi tác chúng con đến được bảy mươi, còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi. Nhưng sự kiêu căng của nó chỉ rước lấy lao khổ và buồn thảm, vì đời người chóng qua, rồi chúng con bay mất đi. Lời cầu nguyện này là của Môi Se, cho thấy rằng cho dù chúng ta có cố gắng đắm chìm hưởng thụ đến mất ở thế gian này thì cuộc đời chúng ta cũng chỉ có 70 hoặc 80 là cùng. Quán café mà bạn hay lui tới cũng sẽ quên bạn. Những người bạn tin tưởng và yêu mến cũng sẽ quên bạn. Những nơi mà bạn làm cũng sẽ quên bạn. Điều đáng buồn nhất là những đồng tiền bạn kiếm được làm lụng vất vả cũng sẽ quên bạn. Không một xu nào bạn có thể đem theo khi chết. Do đó Vua David nói trong Thi Thiên 69:8, Con trở nên một kẻ xa lạ đối với anh em con, Một người ngoại quốc đối với các con trai của mẹ con. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở nên những người xa lạ với mọi người và mọi thứ ở thế gian này.

But, there is someone who will never forget us. It is our Lord God Almighty. As quoted in one of our earlier classes, Isaiah 49:15 says Can a woman forget her nursing child, or show compassion for the child of her womb? Even these may forget, yet I will not forget you. This is the promise of God. And God never turns away from His promises. When we spend time with the Lord on Sabbath, He prepares us to spend time with Him eternally. And, each Sabbath, we look forward to it. That is the motivation that guides us each Sabbath. 

Nhưng có một người sẽ không bao giờ quên chúng ta. Đó chính là Chúa quyền năng. Trong Ê Sai 49:15, Người mẹ có thể nào quên cho con mình bú hoặc không thương đến con ruột của mình chăng? Dù người mẹ có quên con mình, Ta vẫn không bao giờ quên con. Đây là lời hứa của Chúa. Và Chúa chẳng bao giờ quay lưng khỏi những lời hứa của Ngài. Khi chúng ta dành thời gian với Chúa vào ngày Sa bát. Ngài chuẩn bị chúng ta để có một cuộc sống vĩnh hằng với Ngài. Và mỗi ngày Sa bát chúng ta hướng tới điều đó. Đó là động lực dẫn dắt chúng ta vào mỗi ngày Sa bát.

Jesus replied to the Pharisees, man is not made for Sabbath, but Sabbath is made for man. It means we do not serve the Sabbath but Sabbath serves us a day to travel through the renewal of God’s creation which is us, our deliverance from the slavery of Satan, and reach Jesus to live eternally with Him. 

Chúa đã đáp lại người Pha ri si, không phải con người được tạo ra cho ngày Sa bát mà ngày Sa bát được tạo ra cho con người. Có nghĩa rằng chúng ta không phục vụ ngày Sa bát mà ngày Sa bát phục vụ chúng ta, một ngày để trải qua sự làm mới của tạo vật của Chúa đó là chúng ta, chúng ta được giải cứu khỏi quỷ và vươn tới Chúa để sống mãi mãi với Ngài.

Therefore, as Saint Paul said in 2 Corinthians 7:1 Since we have these promises, beloved, let us cleanse ourselves from every defilement of body and of spirit, making holiness perfect in the fear of the Lord. Without holiness we cannot achieve a life with Jesus. So, let us be clean in body, mind and spirit through our confessions and prayers.

Do đó, như Thánh Paul nói trong 2 Corinthians 7:1, Vì có những lời hứa này, chúng ta hãy thanh tẩy chính mình khỏi mọi vết nhơ của thể xác và tâm linh, cũng hãy làm cho sự thánh hóa được trọn vẹn trong niềm kính sợ Đức Chúa Trời. Nếu không có sự thánh hóa, chúng ta không thể có được sự sống với Chúa Giê Su. Vì vậy, chúng ta hãy thanh tẩy thể xác, tâm trí và tâm linh qua sự sám hối và cầu nguyện.

God bless you. Amen. 

 

Wednesday, January 5, 2022

Matthew 11:25-30 Cảm ơn Cha

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We studied Matthew 11:20-24 in the last class. It was about repentance. We now know the meaning of true repentance. We also studied the difference between worldly repentance and Godly repentance. 

Chúng ta đã học Matthew 11:20-24 ở buổi trước. Phần đó nói về sự ăn năn sám hối. Chúng ta giờ đã hiểu ý nghĩa thực sự của sự ăn năn sám hối là gì. Chúng ta cũng học về sự khác biệt giữa sự ăn năn của thế gian và sự ăn năn của Chúa.

Tonight, we study Matthew 11:25-30. Let us read the section. 

Tối nay, chúng ta học Matthew 11:25-30. Chúng ta hãy cùng đọc phần này.

This is the last section of Matthew chapter 11. 

Đây là phần cuối cùng của Matthew chương 11.

There are three things to study from this section:

Có ba điều chúng ta học được từ phần này:

In the first section Jesus thanks God the Father for revealing the mysteries of heaven to the infants and not to the wise. By infants, Jesus meant those who are simple minded and not very intelligent or wise. You may doubt why it is not revealed to the wise. Is being wise a bad thing that God does not like? Not at all. There are two types of wise people. 

Ở phần đầu tiên, Chúa Giê Su đã cảm ơn đức Chúa Cha vì đã hé lộ những điều kỳ diệu của thiên đàng cho trẻ em chứ không phải cho những người khôn ngoan. Bằng từ con trẻ, Chúa Giê Su hàm ý những người có tư tưởng đơn giản và không quá thông mình hay khôn ngoan. Bạn có thể nghi ngờ tại sao những điều này lại không được hé lộ cho những người khôn ngoan. Liệu sự khôn ngoan có phải là một điều xấu mà Chúa không thích không? Không phải vậy. Nhưng có hai kiểu người khôn ngoan.

The first set of wise people are those who simply think they are wise after gaining a few qualifications or reading a few books. But actually they are not wise. Proverbs 3:7 Do not be wise in your own eyes; fear the Lord and turn away from evil. As the verse says, this set of people think whatever they say and whatever they do are right. They have no fear of the Lord and think that they are always right. 

Kiểu người khôn ngoan đầu tiên là những người nghĩ rằng họ khôn ngoan sau khi họ nhận được một vài bằng cấp chứng chỉ hay là đọc xong một vài cuốn sách. Nhưng thật ra là họ không hề khôn ngoan. Châm ngôn 3:7, Đừng khôn ngoan theo mắt mình; Hãy kính sợ Đức Giê Hô Va và lìa khỏi điều ác. Câu này nói rất rõ ràng rằng, kiểu người này nghĩ rằng bất kỳ điều gì họ nói hoặc làm đều là đúng. Họ không hề kính sợ Chúa mà nghĩ rằng họ luôn đúng.

The second set of wise people are those who humble themselves in front of the Lord. They will not boast about their wisdom but always humble themselves. Job 28:28 ……Truly, the fear of the Lord, that is wisdom; and to depart from evil is understanding. As this verse says, if a person is truly wise s/he will love the Lord. Such a person knows clearly the consequences of sins and will keep away from sins. 

Kiểu người khôn ngoan thứ hai là những người hạ mình xuống trước Chúa. Họ sẽ không bao giờ kiêu ngạo về sự khôn ngoan của họ nhưng sẽ luôn khiêm hạ. Job 28:28 Kính sợ Chúa, đó là sự khôn ngoan; Tránh điều ác, đó là sự hiểu biết. Như câu này nói, nếu một người thực sự khôn ngoan, người đó sẽ kính sợ Chúa. Những người đó biết rõ hậu quả của tội lỗi và sẽ giữ mình khỏi phạm tội.

Jesus said, Thank you Father! This is the first and foremost in tonight’s lesson. May I ask you, how many of you have the habit of saying ‘thank you'? Do you ever say thank you to your parents? Do you ever say thank you to your friends?  Do you say thank you to the person who serves you in the restaurant, coffee shop, supermarket or grocery shop? Do you say thank you to your taxi driver? Do you say thank you to your maid, or a person who comes to work for you? My own personal experience suggests that you do not thank anyone. For example, only a couple of people send me thank you messages after each class. All others simply attend the class and disappear. Not that I am desperate for a thank you, but it is basic human manners. We should thank others even for the simplest of things. We should thank those who are above us and those who are lower in status than us. 

Chúa Giê Su nói: Cảm ơn Cha. Đây là câu đầu tiên và trước nhất trong bài ngày hôm nay. Có bao nhiêu người trong các bạn có thói quen nói “cảm ơn”? Bạn có nói cảm ơn cho bố mẹ không? Bạn có nói cảm ơn bạn bè không? Bạn có nói cảm ơn với những người phục vụ bạn trong nhà hàng, quán café, siêu thị hay tạp hóa không? Bạn có nói cảm ơn với người lái xe taxi không? Bạn có nói cảm ơn với những người giúp việc hay người làm cho bạn không? Kinh nghiệm cá nhân của tôi thấy rằng các bạn chẳng bao giờ cảm ơn ai cả. Ví dụ, chỉ có một hai người nhắn tin cảm ơn sau mỗi buổi học. Tất cả những người khác chỉ tham gia rồi biến mất. Không phải là tôi cần sự cảm ơn của các bạn nhưng đây là cung cách bản chất của con người. Chúng ta nên cảm ơn người khác ngay cả cho những điều đơn giản nhất. Chúng ta nên cảm ơn những ai ở trên chúng ta và cả những ai ở tầng lớp thấp hơn chúng ta.

In John 10:30 we read Jesus saying The Father and I are one. Even though God the Father and God the Son are one, still we see God the Son who is Jesus Christ thanking God the Father. That shows humility. That is one of the most important things that we should learn from the life of Jesus. A person with pride and high ego will never say thank you to anyone. As Jesus always did when He was in this world, we too should thank the Lord for everything. 1 Thessalonians 5:18 give thanks in all circumstances; for this is the will of God in Christ Jesus for you. Make saying ‘thank you’ a habit. Say thank you Lord for your love as Psalm 136:26 says O give thanks to the God of heaven, for His steadfast love endures forever. Say thank you Lord for revealing His Word to us as Moses said in Deuteronomy 29:29 The secret things belong to the Lord our God, but the revealed things belong to us and to our children forever, to observe all the words of this law. Say thank you Jesus for protecting us and caring for us. Say thank you for forgiving our sins etc.etc. 

Trong John 10:30, chúng ta đọc Chúa Giê Su nói rằng, Đức Chúa Cha và Ta là một. Mặc dù Chúa Cha và Chúa Con là một, nhưng chúng ta thấy Chúa Con là Đức Chúa Giê Su vẫn cảm ơn Đức Chúa Cha. Điều đó thể hiện sự khiêm hạ. Đó là một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta cần học từ cuộc đời của Chúa Giê Su. Một người có sự tự ái và tự cao sẽ không bao giờ nói cảm ơn ai cả. Giống như Chúa Giê Su đã làm khi Ngài ở thế gian, chúng ta cũng hãy cảm ơn Chúa vì tất cả mọi điều. 1 Thessalonians 5:18, Hãy cảm tạ Chúa trong mọi hoàn cảnh, vì đó là ý muốn của Đức Chúa Trời đối với anh em trong Đấng Christ Giê Su. Hãy tạo thói quen “cảm ơn”. Hãy nói cảm ơn Chúa vì tình yêu của Ngài như trong Thi Thiên 136:26 nói Hãy cảm tạ Đức Chúa Trời của các tầng trời! Vì lòng nhân từ Ngài còn đến đời đời. Nói cảm ơn Chúa vì Ngài đã hé lộ Lời của Ngài như Môi Se nói trong Deuteronomy 29:29 Những điều huyền nhiệm thuộc về Đức Giê Hô Đức Chúa Trời chúng ta, nhưng những điều được mặc khải thuộc về chúng ta và con cháu chúng ta đến đời đời, để chúng ta làm theo mọi lời của luật pháp nầy. Hãy nói cảm ơn Chúa vì Ngài bảo vệ chúng ta và chăm lo cho chúng ta. Cảm ơn Chúa vì đã tha thứ cho tội lỗi của chúng ta vv..

When we say ‘thank you', we are actually worshipping the Lord. That is what Hebrews 12:28 says: Therefore, since we are receiving a kingdom that cannot be shaken, let us give thanks, by which we offer to God an acceptable worship with reverence and awe. When we say thank you to our fellow beings, we are again worshipping the Lord because He sent someone to help us. That someone is our parents, teachers, friends, maids, taxi drivers, etc. Therefore, we need to practice saying thank you as much and as often as we can. 

Khi chúng ta nói, “cảm ơn”, chúng ta thật ra đang thờ phượng Chúa. Đó là điều được nói đến trong Hebrews 12:28, Cho nên, vì chúng ta nhận được một vương quốc không hề rúng động, chúng ta hãy biết ơn và lấy lòng kính sợ mà phục vụ Đức Chúa Trời một cách vui lòng Ngài. Khi chúng ta nói lời cảm ơn tới các bạn hữu, chúng ta cũng đang thờ phượng Chúa bởi vì Ngài sai một ai đó tới giúp chúng ta. Người đó là bố mẹ, thầy cô, bạn bè, người giúp việc, người lái xe vv… Do đó, chúng ta cần phải nói lời cảm ơn càng nhiều càng tốt và càng thường xuyên càng tốt.

In the second section of our reading, Jesus said, All things have been handed over to me by my Father; and no one knows the Son except the Father; and no one knows the Father except the Son and anyone to whom the Son chooses to reveal. As we just saw in the first section, Jesus thanked God the Father. In this second section, Jesus teaches us to be humble. Jesus said, I have been given full power and authority by God the Father. Imagine that you received full authority at your workplace. How will you behave? You may have seen how some managers, supervisors and other bosses behave in the workplace. Their pride and ego make them behave like superhumans. They make an angry face and scold and shout at their subordinates. The Bible says that such people are actually not leaders or managers, they are actually fools. Let us read Proverbs 29:11 A fool gives full vent to anger, but the wise quietly holds it back. You may have even noticed that such people don't talk much; they expect others to respect them and bow with reverence in front of them. They will never say thank you to their subordinates but will expect their subordinates to say thank you to them and be obliged to them. But, Jesus said in Luke 6:31 Do to others as you would have them do to you. It means if you expect ‘thank you’ from others, you should first say thank you to them. 

Ở phần hai của bài đọc, Chúa Giê Su nói, Cha Ta đã giao mọi sự cho Ta, ngoài Cha, không ai biết Con. Ngoài Con, và người nào Con muốn bày tỏ thì cũng không ai biết Cha. Như chúng ta đọc trong phần đầu, Chúa Giê Su đã cảm ơn Chúa Cha. Trong phần thứ hai này, Chúa Giê Su dạy chúng ta cần phải trở nên khiêm tốn. Chúa Giê Su nói, ta được trao toàn bộ thẩm quyền bởi Chúa Cha. Tưởng tượng, bạn nhận được toàn bộ thẩm quyền ở nơi làm việc. Bạn sẽ cư xử như thế nào? Bạn có thể đã nhìn thấy những người giám sát, các ông chủ và các sếp cư xử như thế nào ở nơi làm việc. Sự tự cao và bản ngã của họ khiến họ cư xử như những người trịnh thượng. Họ làm vẻ mặt cau có và la hét đồng nghiệp. Kinh Thánh nói rằng, những người như thế thực ra không phải là người lãnh đạo mà họ thật ra chỉ là những kẻ ngốc. Chúng ta hãy đọc Châm ngôn 29:11, Kẻ ngu dại bộc lộ cơn giận dữ của mình, Còn người khôn ngoan kiên nhẫn kiềm chế nó. Bạn có thể nhận thấy những người này không nói chuyện nhiều; Họ mong người khác tôn trọng họ và cúi đầu tôn kính họ. Họ sẽ chẳng bao giờ nói cảm ơn với đồng nghiệp hay cấp dưới nhưng sẽ mong cấp dưới nói cảm ơn họ và biết ơn họ. Nhưng Chúa Giê Su nói trong Luke 6:31 Các con muốn người ta làm cho mình như thể nào thì hãy làm cho người ta thể ấy. Có nghĩa rằng nếu bạn mong đợi sự cảm ơn từ người khác thì bạn cần phải trước hết cảm ơn họ đã.

Jesus had the full power of heaven and earth as we read in Matthew 28:18 And Jesus came and said to them, All authority in heaven and on earth has been given to me. Even with so much power, Jesus was never arrogant, rude, egoistic or had pride. He was always humble. He taught His disciples to be humble. Jesus said, if you want to be a leader, be a servant to all your followers. Luke 22:26 But not so with you; rather the greatest among you must become like the youngest, and the leader like one who serves. And in Matthew 20:26 we read …whoever wishes to be great among you must be your servant. 

Chúa Giê Su có đầy đủ thẩm quyền của trời và đất như Chúa đã đọc trong Matthew 28:18, Đức Chúa Giê Su đến và phán với họ rằng: Tất cả thẩm quyền trên trời, dưới đất đã giao cho Ta. Ngay cả khi có nhiều thẩm quyền đến thế, Chúa chưa bao giờ tự cao, thô lỗ, hay hống hách. Ngài luôn khiêm nhường. Ngài đã dạy các môn đồ trở nên khiêm nhường. Chúa Giê Su nói, nếu con muốn trở thành nhà lãnh đạo, hãy là người phục vụ cho tất cả những người theo mình. Luke 22:26, Về phần các con thì đừng như vậy, nhưng ai lớn nhất trong các con phải trở nên như kẻ nhỏ nhất, và ai là người lãnh đạo phải như người phục vụ. Và trong Matthew 20:26 chúng ta đọc rằng Ai muốn làm lớn trong các con phải làm đầy tớ.

As I said earlier, people do not say thank you because of high ego and pride. They think that they will become inferior if they say thank you. It means they do not want to be humble. But a follower of Jesus should always be humble and down to earth. Let us read Luke 17:11-19. In this passage we see only one person is humble and returned to say thank you to Jesus. That person was a gentile. Remember in the first section, Jesus thanked God the Father for revealing things not to the wise but to the children? This gentile is that child because though he lived in darkness, as soon as he experienced the Lord, he changed. He was grateful to the Lord and returned to thank the Lord. The other nine were Jews and they knew God already. But they had high ego and pride. Even after experiencing the love of God and receiving the healing, their ego and pride did not allow them to say ‘thank you Jesus’. 

Như tôi đã nói, mọi người không nói cảm ơn bởi sự tự ái và bản ngã của họ. Họ nghĩ rằng họ sẽ trở nên thấp kém nếu nói cảm ơn. Họ không muốn trở nên khiêm hạ. Nhưng một người theo Chúa cần phải trở nên khiêm hạ. Chúng ta hãy đọc Luke 17:11-19. Trong đoạn này, chúng ta chỉ nhìn thấy một người khiêm hạ và quay trở lại cảm tạ Chúa. Người đó là một người ngoại. Nhớ rằng, Chúa Giê Su đã cảm tạ Đức Chúa Cha vì đã hé lộ những điều huyền nhiệm cho trẻ thơ chứ không phải cho người khôn ngoan. Người dân ngoại này cũng giống như một đứa trẻ bởi vì mặc dù sống trong bóng tối, ngay khi biết đến Chúa, ông đã thay đổi. Ông biết ơn Chúa và quay trở lại để cảm tạ Chúa. Chín người kia là người Do Thái và họ đã biết đến Chúa. Nhưng họ đầy lòng tự cao và bản ngã. Ngay cả sau khi trải nghiệm tình yêu thương của Chúa Giê Su và nhận được sự chữa lành, bản ngã không cho phép họ nói “Cảm ơn Chúa Giê Su”.

But, there is a very important thing that we need to learn here. The ten lepers received healing as soon as they heard Jesus. But only one became well. Can you see the difference here? Receiving an outward healing and becoming completely well from the disease are two different things. When you listen to my classes, and especially the Word of God, all those who attend properly receive healings and blessings. I am one hundred percent sure of that. But, are you able to experience them? If you are unable to experience the blessings and healings, it is because you are not thankful enough to the Lord. That is the reason why when people say thank you to me, I tell them to say ‘thank you Jesus'. When you say ‘thank you’ to Jesus, the power of healing and blessings becomes real in you. In fact what happens is that the healing comes and rests in you but you will only be able to realise the healing when you thank Jesus. As I said, when you thank Jesus, you are actually worshipping Him. When you worship Him, the power of God is unleashed in you. That is when you realise the effects of healing and blessings. Hence the Psalmist says in 86:12 I give thanks to you, O Lord my God, with my whole heart, and I will glorify your name forever. 

Nhưng, có một điều quan trọng mà chúng ta cần phải học được. Mười người phong hủi nhận được sự chữa lành sau khi họ nghe thấy Chúa. Nhưng chỉ có một người được lành? Bạn có thấy sự khác biệt ở đây không? Nhận được sự chữa lành bên ngoài và trở nên hoàn toàn khỏe mạnh khỏi bệnh tật là hai điều khác nhau. Khi bạn nghe lớp học này của tôi, đặc biệt là Lời của Chúa, tất cả các bạn đều nhận được sự chữa lành và các phước lành. Đó là điều chắc chắn. Nhưng bạn có thể cảm nhận được chúng không? Nếu bạn không thể cảm nhận được các phước lành và chữa lành, đó là bởi vì bạn chưa đủ lòng biết ơn đối với Chúa. Đó là lý do khi mọi người nói “cảm ơn Cha” tôi bảo họ phải “Cảm ơn Chúa Giê Su”. Bởi vì khi bạn nói “cảm ơn Chúa”, sức mạnh của sự chữa lành và các phước trở nên thực hữu trong bạn. Thực tế, điều xảy ra đó là sự chữa lành đến và ngự trong bạn rồi nhưng bạn sẽ nhận ra sự chữa lành đó khi bạn cảm ơn Chúa Giê Su. Như tôi đã nói, khi bạn cảm ơn Chúa Giê Su, bạn đang thờ phượng Ngài. Khi bạn thờ phượng Ngài, sức mạnh của Chúa được giải phóng trong bạn. Đó là khi bạn nhận ra sức mạnh của sự chữa lành và các ân điển. Do đó Những người đọc Thi Thiên nói 86:12, Lạy Chúa là Đức Chúa Trời của con, con hết lòng ca ngợi Chúa, Tôn vinh danh Chúa mãi mãi.

There are two things the devil is extremely scared of. They are the Word of God and Worship. I have said this earlier, the moment you open the Bible, the devil becomes alert. And the moment you start reading he starts panicking. In the same way, the moment you start worshipping the Lord, the devil becomes restless and starts panicking. He will try everything possible to distract you and drag you away from worshipping the Lord. Therefore, whenever you are disturbed or are in trouble, grab your Bible and read. And also start praising and thanking God. Thus, you will be able to defeat the devil and come out of your troubles and difficulties. 

Có hai điều mà quỷ rất sợ. Đó là Lời của Chúa và sự thờ phượng. Khi bạn mở Kinh Thánh, quỷ bắt đầu để ý. Khi bạn bắt đầu đọc thì nó bắt đầu run sợ. Tương tự, khi bạn bắt đầu thờ phượng Chúa, quỷ trở nên bất an và bắt đầu run sợ. Nó sẽ tìm đủ mọi cách để làm bạn xao lãng và kéo bạn khỏi việc thờ phượng Chúa. Do đó, bất kỳ khi nào bạn gặp khó khăn, bất an, hãy mở Kinh Thánh ra và đọc. Và cũng hãy bắt đầu ca ngợi và cảm tạ Chúa. Do đó, bạn sẽ có thể đánh bại quỷ và bước ra khỏi những rắc rối và khó khăn của bạn.

The third thing that we read in tonight’s passage is Jesus exhorting everyone to come to Him. He said, Come to me, all you that are weary and are carrying heavy burdens, and I will give you rest. He further added, Take my yoke upon you, and learn from me; for I am gentle and humble in heart, and you will find rest for your souls. For my yoke is easy, and my burden is light. 

Điều thứ ba chúng ta đọc được là Chúa Giê Su cổ vũ mọi người đến với Ngài. Chúa nói, Hỡi những ai mệt mỏi và gánh nặng, hãy đến với Ta, Ta sẽ cho các ngươi được an nghỉ. Và Ngài nói thêm, hãy gánh lấy ách của Ta và học theo Ta thì linh hồn các ngươi sẽ được an nghỉ. Vì ách ta dễ chịu và gánh Ta nhẹ nhàng.

When it comes to reading the Word of God or worshipping the Lord, often people find it burdensome. If I ask you, do you read the Bible in the morning and evening, you will have 101 excuses for not reading it. Some may say, I wake up late and then I rush to work, so I do not have time to read the Bible. Then in the evening, I come late and am very tired, so I am unable to read. Yet a few others may say, I start reading the Bible, but I immediately feel sleepy and unable to continue. Often people find the Word of God and worshipping the Lord as a heavy yoke. But Jesus said, they are not all heavy. They are in fact very light as long as you are humble and gentle in heart. In other words, if you are unable to read and meditate on the Word of God, or say thank you and worship the Lord, it means you are not gentle and humble. On the contrary, you are hard of heart and have high ego and pride, as I said earlier. Isaiah 66:2 All these things my hand has made, and so all these things are mine, says the Lord. But this is the one to whom I will look, to the humble and contrite in spirit, who trembles at my word. 

Khi nói tới việc đọc Lời của Chúa hoặc thờ phượng Chúa, thường mọi người cảm thấy nó nặng nề. Nếu tôi hỏi bạn, bạn học Kinh Thánh vào buổi sáng hay buổi tối, bạn sẽ có 101 lý do để không đọc. Một số nói rằng, con dậy muộn sau đó vội đi làm, vì thế con không có thời gian để đọc Kinh Thánh. Sau đó tối về, con về muộn và con mệt, vì vậy con cũng không thể đọc được. Một số người khác lại nói rằng, con bắt đầu đọc Kinh Thánh thì con cảm thấy buồn ngủ và không đọc được tiếp. Thường mọi người thấy Lời của Chúa và việc thờ phượng Chúa như là một ách nặng. Nhưng Chúa Giê Su nói, đây không phải là những gánh nặng. Thực tế những điều này rất nhẹ nhàng nếu bạn khiêm tốn và nhẹ nhàng trong lòng. Nói cách khác, nếu bạn không thể đọc hay suy ngẫm Lời của Chúa, hoặc nói cảm ơn Chúa hay thờ phượng Chúa, có nghĩa là bạn chưa đủ khiêm tốn hoặc nhẹ nhàng. Trái lại, bạn cứng lòng và có sự tự ái hoặc bản ngã cao. Ê Sai 66:2 Tay ta đã làm ra mọi điều nầy. Và tất cả đều hiện hữu. Đây là người mà Ta đoái xem, Là người khiêm nhường và có tâm linh thống hối, Người run sợ khi nghe Lời Ta phán.

As this verse clearly states, if we have a humble and contrite heart, the Lord will care for us and look favourably upon us. Hence, Jesus said, be humble and gentle as He is. We need to follow His path of gentleness and humility. 

Như câu này chỉ rõ, nếu chúng ta có tâm linh khiêm hạ và thống hối, Chúa sẽ chăm sóc cho chúng ta và Ngài cũng sẽ đoái xem chúng ta. Do đó Chúa Giê Su nói, hãy khiêm hạ và nhẹ nhàng như Ngài. Chúng ta cần phải đi theo con đường của Ngài đó là con đường của sự khiêm hạ và sự nhẹ nhàng.

God decided to come and live on this earth as a human being because of his humility and love for us. That itself is worth uncountable gratitude. No matter how many times we say thank you, it will still be less. Hence Saint Paul said in Philippians 1:3 I thank my God every time I remember you. And in 2 Corinthians 9:15 Saint Paul says Thanks be to God for His indescribable gift. 

Chúa đã quyết định đến và sống trên thế gian như là một con người bởi vì sự khiêm hạ và tình yêu của Ngài cho chúng ta. Điều đó bản thân nó đã xứng đáng với sự biết ơn không đo đếm được. Cho dù chúng ta có nói cảm ơn Chúa bao nhiêu lần chăng nữa, thì vẫn cứ là chưa đủ. Do đó, Thánh Paul nói trong Philipians 1:3, Tôi cạm tạ Đức Chúa Trời trong mọi lời cầu nguyện cho anh em và trong 2 Corinthians 9:15, Cảm Tạ Đức Chúa Trời vì sự ban cho của Ngài không tả xiết.

The indescribable gift of God to us is Jesus Christ. Without Jesus, we are nothing. With Jesus, we are everything. Without Jesus we are dead. But, with Jesus, we live eternally. Therefore, let us make a strong decision this New Year that we will always thank our fellow beings, our parents, our teachers, our elders, and more importantly to Jesus. 

Sự ban cho không tả xiết của Chúa với chúng ta chính là Chúa Giê Su. Nếu không có Chúa Giê Su, chúng ta không là gì cả. Khi có Chúa, chúng ta có tất cả mọi thứ. Nếu không có Chúa, chúng ta như đã chết. Nhưng có Chúa, chúng ta sống mãi mãi. Do đó, chúng ta hãy đưa ra quyết định mạnh mẽ vào năm mới này rằng chúng ta sẽ luôn biết ơn anh em bạn hữu, bố mẹ, thầy cô, những người già và quan trọng hơn là đối với Chúa Giê Su.

Thank you Jesus!

May God bless you. Amen.

 

Monday, December 20, 2021

Matthew 11:20-24: nếu người ở Ty-rơ, Si đôn và Sô đôm chứng kiến những dấu lạ, hẳn là họ đã ăn năn sám hối lâu rồi.

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We studied Matthew 11:7-19. There we saw who John the Baptist actually was, and how was different from other prophets. 

Chúng ta đã học Matthew 11:7-19. Ở đó chúng ta thấy John The Baptist thực sự là ai và ông khác so với các nhà tiên tri khác như thế nào.

Tonight, we study Matthew 11:20-24. Let us read. 

Tối nay chúng ta sẽ học Matthew 11:20-24.

Jesus taught about repentance in this section. He explained what happens when a person repents and what happens when someone refuses to repent. He directly identifies the people of the lands who had refused to repent. They were the people of Chorazin, Bethsaida, and Capernaum.  These people had the privilege to witness many of the miracles that Jesus performed. But, even after directly witnessing miracles, there was no change in them. Whatever changes they had was just temporary. When they saw the miracles, they would repent. But, again after a while they slip back to their previous sinful lifestyle. 

Chúa Giê Su đã dạy về sự ăn năn trong phần này. Ngài giải thích chuyện gì xảy ra khi một người ăn năn và chuyện gì xảy ra khi một người từ chối ăn năn sám hối. Ngài chỉ rõ những người ở những miền đất từ chối sám hối. Họ là người ở vùng Cô ra xin, Bết Sai Đa và Ca pe na um. Những người này đã có vinh dự được chứng kiến rất nhiều những dấu lạ mà Chúa Giê Su đã thực hiện. Nhưng ngay cả khi trực tiếp chứng kiến những phép lạ mà Chúa thực hiện, họ cũng không có bất kỳ thay đổi nào. Bất kể thay đổi nào mà họ có chỉ là tạm thời. Khi họ nhìn thấy các dấu lạ, họ sẽ ăn năn. Nhưng sau một khoảng thời gian họ lại quay trở lại lối sống tội lỗi trước kia của mình,

The other three cities that Jesus mentioned were Tyre, Sidon, and Sodom. These three were sinful cities. But the people living in those places did not have an opportunity to witness Jesus’ miracles. Jesus said, had they witnessed the miracles, they would have sincerely repented. 

Có ba thành phố khác mà Chúa cũng đề cập đến là Ty-rơ, Sy đôn và Sô-đôm. Ba thành phố này là những thành phố tội lỗi. Tuy nhiên mọi người sống ở những nơi này không có cơ hội được chứng kiến những phép lạ của Chúa Giê Su. Chúa Giê Su nói rằng, nếu họ chứng kiến những dấu lạ, họ hẳn đã mặc áo sô, đội tro và sám hối lâu rồi.

Even today, we have two sets of people. One set experiences the love of Jesus and receives the blessings from the Lord, but still are inclined to sins. They are whitewashed tombs as I mentioned in the last class. The changes in them are temporary. James 4:17 Anyone then, who knows the right thing to do and fails to do it, commits sins. As this verse says, when you know what a sin is, you are expected to keep away from it. If you commit sin knowing that it is a sin, you will be judged by God as we read in Hebrews 10:26-27 For if we wilfully persist in sin after having received the knowledge of the truth, there no longer remains a sacrifice for sins, but a fearful prospect of judgement, and a fury of fire that will consume the adversaries. 

Ngay cả hôm nay, chúng ta có hai loại người. Một kiểu người đã trải nghiệm tình yêu của Chúa và đang nhận các ân điển của Ngài nhưng vẫn có xu hướng phạm tội. Họ là những lăng mộ trắng như Cha đã dạy ở bài trước. Những thay đổi của họ chỉ là tạm thời. James 4:17 Vậy ai biết điều tốt phải làm mà không làm thì phạm tội. Câu này nói rằng, khi bạn biết đâu là tội, bạn được mong đợi là sẽ tránh xa khỏi nó. Nếu bạn phạm tội khi mà biết rõ đấy là tội, bạn sẽ bị Chúa phán xét như trong Hebrews 10:26-27, Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi mà lại cố ý phạm tội, thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa nhưng chỉ kinh khiếp chờ đợi sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi.

The second set of people are those who live in sin, but do not know that they are living in sin. They do not know because nobody has told them what sin is. They are the people who have never heard about Jesus nor experienced His love in their lives. Jesus said in John 9:41 Jesus said to them, If you were blind, you would not have sin. But now that you say, We see, your sin remains. As mentioned in the last class, the blind are those who are living in darkness and have never seen Jesus. So, God treats them as sinners without the knowledge of sin. This is the reason why Jesus prayed for those soldiers who tortured and crucified Him as we read in Luke 23:34 Then Jesus said, Father, forgive them; for for they do not know what they are doing. The soldiers were Romans and they were gentiles. They never had the opportunity to experience the love of Jesus. Hence, though they tortured and crucified HIm, Jesus prayed for them so that their sins could be forgiven by the Father. 

Kiểu người thứ hai là những người sống trong tội lỗi nhưng không biết rằng họ đang sống trong tội. Họ không biết bởi vì không ai nói với họ tội là gì. Họ là những người chưa bao giờ trải nghiệm về Chúa và cũng chưa biết tình yêu của Ngài trong đời sống của họ. Chúa Giê Su nói trong John 9:41 Đức Chúa Giê Su đáp: Nếu các ngươi mù thì không có tội gì, nhưng vì các ngươi nói: Chúng tôi thấy, nên tội các ngươi vẫn còn. Như được đề cập trong bài trước, người mù là những người sống trong bóng tối và chưa từng nhìn thấy Chúa. Đây là lý do Chúa đã cầu nguyện cho những người lính đánh đập và khổ hình Ngài như chúng ta đọc trong Luke 23:34 Chúa Giê Su nói, Lạy Cha, xin hãy tha thứ cho họ vì họ không biết những điều họ làm. Những người lính là người Romans và là dân ngoại đạo. Họ chưa từng có cơ hội trải nghiệm tình yêu thương của Chúa Giê Su. Do đó, mặc dầu họ đánh đập và khổ hình Ngài, Chúa Giê Su vẫn cầu nguyện cho họ để mà tội lỗi của họ được Chúa Cha tha thứ. 

As we see here, whether you know it or not, a sin is a sin. The only difference is that if you know about sin and then commit it, you can expect punishment. But, if you have not heard about Jesus and live in sin, you can always plead for mercy. Jesus said, if the people of Tyre, Sidon and Sodom experienced the love of Jesus and witnessed the signs, they would have sincerely repented. 

Như chúng ta thấy ở đây, cho dù mình biết hay không biết, tội vẫn là tội. Sự khác biệt chỉ là nếu bạn biết về tội và vẫn phạm vào, bạn sẽ bị phạt. Nhưng nếu bạn chưa được biết về Chúa Giê Su và bạn phạm tội, bạn có thể cầu xin sự thương xót của Chúa. Chúa Giê Su nói, nếu người ở Ty-rơ, Si đôn và Sô đôm biết về Chúa và chứng kiến những dấu lạ của Ngài, hẳn là họ đã ăn năn sám hối lâu rồi.

We need to have a sound understanding of repentance. At the outset, repentance is an emotion and an action. Imagine a sin that you committed in the past which you enjoyed a lot at that time. At that time, you did not know Jesus and you did not know what sin is, and you thought it was great pleasure. But, after experiencing the love of Jesus, now you feel disgusting about those sins and become emotional. But, if you suppress your emotions, it would affect your mental health. In order to avoid that, you need to act on your emotions. Acting on your emotion means you decide to confess and make a permanent decision never to commit that sin again. You decide not to repeat those sins because you know how much you suffered due to those sins. You make such a strong decision because after experiencing the love of Jesus, you feel disgusted when the memory of those past sins come to your mind. This is the basis of true repentance- a combination of emotion and action. 

Chúng ta cần phải có sự hiểu rõ về sự sám hối. Đầu tiên, sự sám hối là một cảm xúc và cũng là hành động. Tưởng tượng, một tội mà bạn phạm phải trong quá khứ mà thời điểm đó bạn cảm thấy rất vui thích. Lúc đó, bạn không biết đến Chúa Giê Su và bạn không biết tội là gì, và bạn nghĩ đấy là một điều vui. Nhưng sau khi biết về Chúa, bạn cảm thấy kinh tởm về những tội lỗi đó và trở nên xúc động. Nhưng nếu bạn dồn nén những cảm xúc của bạn, nó sẽ ảnh hưởng tới sức khỏe tâm thần của bạn. Để tránh điều đó, bạn cần phải hành động với cảm xúc của bạn. Hành động ở đây nghĩa là bạn quyết định sám hối và đưa ra quyết định vĩnh viễn là bạn sẽ không giờ phạm phải tội lỗi. Bạn quyết định không phạm phải những tội lỗi đó bởi vì bạn biết bạn đã phải khốn khổ thế nào do phạm tội. Bạn đưa ra quyết định mạnh mẽ bởi vì sau khi trải nghiệm tình yêu của Chúa, bạn cảm thấy kinh tởm khi những ký ức của những tội lỗi đã qua quay trở lại tâm trí bạn. Đây là điều cơ bản của sự sám hối thực sự - một sự kết hợp của cảm xúc và hành động.

2 Peter 2:20-22 For if, after they have escaped the defilements of the world through the knowledge of our Lord and Saviour Jesus Christ, they are again entangled in them and overpowered, the last state has become worse for them than the first. For it would have been better for them never to have known the way of righteousness than, after knowing it, to turn back from the holy commandment that has passed on to them. It has happened to them according to the true proverb, The dog turns back to its own vomit, and The sow is washed only to wallow in the mud.  

2 Peter 2:20-22: Vì nếu nhờ sự nhận biết Chúa và Cứu Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê Su Christ mà họ đã thoát khỏi sự ô uế của thế gian, nhưng nay lại bị lôi cuốn và phải quy phục những điều đó một lần nữa, thì tình trạng cuối cùng của họ còn tệ hại hơn lúc đầu. Thà họ không biết con đường công chính còn hơn là đã biết mà còn quay lưng lại với điều răn thánh đã được truyền dạy cho mình. Điều xảy đến cho họ thật đúng với tục ngữ: Chó liếm lại đồ nó đã mửa và heo tắm sạch lại lăn lóc trong vũng bùn.

Imagine that you fell in a sewage tank and got your whole body covered with all sorts of dirt in the tank. You are lying there without anyone to get you out. After a long time, someone passes by and sees you drowning in the tank. That person helps you to get out, helps you to get cleaned and change your clothes. After being cleansed, you are now completely clean. Then you say thank you to the person and walk home. The person who helped you reminds you before parting to be careful of sewage tanks in future. Either on your way back, or later, will you ever jump into the sewage tank again to experience the ugly things in the tank? Or will you always be careful not to fall into the tank? If you are a studpid person, you may jump into it without thinking about the bad experience you had when you fell into the sewage tank. 

Tưởng tượng rằng bạn rơi vào một hố rác và toàn thân thể bạn bốc mùi với tất cả những thứ bẩn thỉu trong cái hố đó. Bạn nằm đó và không ai giúp bạn. Sau một thời gian dài, có ai đó đi ngang qua và nhìn thấy bạn đang chìm trong hố đó. Người đó giúp bạn ra khỏi hố, giúp bạn rửa sạch và thay quần áo cho bạn. Sau khi được rửa sạch, giờ đây bạn hoàn toàn sạch sẽ. Sau đó bạn nói cảm ơn người đó và đi về nhà. Người giúp bạn nhắc bạn trước khi chia tay rằng trong tương lai hãy cẩn thận đừng dẫm phải hố nữa nhé. Trên đường về hoặc sau đó, liệu bạn có lại dẫm phải hố và lại ngã xuống hố rác nữa không? Nếu bạn là một kẻ ngốc nghếch, bạn có thể lại dẫm phải hố mà không suy nghĩ về những trải nghiệm kinh khủng trước kia.

This is what the above verses means. Imagine, you grab a pig from mud, shower it with expensive shampoo and tell it to stay clean. Is the pig going to listen to you? As soon as you release the pig, it will straight away go back to the same muddy place. But we are human beings. We are the most intelligent of all the creations of God. When the memory of our past dirty and stinking life comes to our mind, we feel it as disgusting. That feeling of disgust leads us to repentance. That feeling of disgust should enable us to make stronger decisions never to even look at the sinful past. That is what true repentance is. Jesus said in Luke 13:3 Unless you repent, you will all perish. So, the very first thing that we should have is the feeling of disgust when we think about our sins. This is the reason why Jesus started His ministry with the proclamation to repent as we studied earlier in Matthew 3:17 From that time Jesus began to proclaim, Repent, for the kingdom of heaven has come near. 

Đây là ý nghĩa của những câu này. Tưởng tượng, bạn lôi một con lợn ra khỏi bùn, tắm cho nó bằng dầu gội thơm phức và bảo nó là từ giờ sạch sẽ đi nhé. Liệu con lợn có nghe bạn không? Ngay sau khi thả nó ra, nó sẽ ngay lập tức quay trở lại cùng một chỗ bùn đó. Nhưng chúng ta là con người cơ mà. Chúng ta là tạo vật thông mình nhất trong tất cả các tạo vật của Chúa. Khi ký ức của quá khứ bẩn thỉu đến với ký ức, chúng ta cảm thấy nó kinh tởm. Cảm giác kinh tởm đó đưa dẫn chúng ta đến với sự sám hối. Cảm giác kinh tởm cho phép chúng ta có những quyết định mạnh mẽ hơn không bao giờ thậm chí nhìn về quá khứ nữa. Đó là sự sám hối thực sự. Chúa Giê Su nói trong Luke 13:3 Nhưng nếu các ngươi chẳng ăn năn thì tất cả sẽ bị hư mất. Vì vậy điều đầu tiên mà chúng ta cần phải có đó là cảm giác kinh tởm khi chúng ta nghĩ về những tội lỗi của chúng ta. Đây là lý do tại sao khi Chúa Giê Su bắt đầu rao giảng Ngài bắt đầu bằng lời tuyên cáo về sự ăn năn sám hối trong Matthew 4:17, Từ lúc ấy, Đức Chúa Giê Su bắt đầu rao giảng rằng: Các ngươi hãy ăn năn, vì vương quốc thiên đàng đã đến gần.

Imagine that you got an opportunity to have coffee with Jesus. You are so excited to meet Jesus and about the opportunity to spend time with Him. You and Jesus are in a coffee house sitting at a table. While having coffee and chatting, a person with whom you have committed sin in the past walks into the coffee house and sits at another table. What will you do? Will you leave Jesus and go and sit with that person? Or will you feel disgusted to see that person as suddenly all the past sinful memories come to your mind? If you are enjoying time with Jesus and enjoying His sweet talk and His love, you will sit even closer to Jesus when you see the other person. This is what true repentance is. After repentance we are living with God in His house. We would never want to go back and live in our old sinful place. Hence Psalm 84:1-2 says How lovely is your dwelling place, O Lord of hosts! My soul longs, indeed it faints for the courts of the Lord; my heart and my flesh sing for joy to the living God.

Tưởng tượng rằng, bạn có cơ hội ngồi uống café với Chúa Giê Su. Bạn rất háo hức được gặp Chúa và có cơ hội được dành thời gian với Ngài. Bạn và Chúa ngồi trong quán café ở một cái bàn. Khi đang uống café và đang nói chuyện, một người mà bạn đã từng phạm tội đi ngang qua và ngồi vào bàn gần bạn. Bạn sẽ làm gì? Bạn sẽ rời Chúa Giê Su và đi ngồi với người kia chăng? Hay bạn cảm thấy xấu hổ và ghê tởm khi những ký ức tội lỗi ùa về? Nếu bạn đang vui với Chúa và thích những lời nói ngọt ngào của Ngài cũng như tình yêu của Ngài, bạn sẽ ngồi gần hơn với Chúa khi bạn nhìn thấy người kia. Đây là sự sám hối thực sự. Sau khi sám hối bạn ngồi cùng với Chúa trong nhà của Ngài. Chúng ta sẽ không bao giờ muốn quay lại và sống trong những nơi tội lỗi nữa. Do đó, Thi Thiên 84:1-2, Lạy Đức Giê Hô Va vạn quân, nơi ngự của Ngài đáng yêu thay! Linh hồn con mong ước đến nỗi hao mòn về hành lang của Đức Giê Hô Va; Tâm hồn và thể xác con cất tiếng ca ngợi Đức Chúa Trời hằng sống.

Secondly, repentance is what Saint Paul said in 2 Corinthians 7:10 For Godly grief produces a repentance that leads to salvation and brings no regret, but worldly grief produces death. This verse needs to be clearly understood. As this verse states, there are two types of grief. The first type is Godly grief and the second type is worldly grief. The meaning of grief is intense sorrow. For example, when someone close to us dies, we are drowned in grief. Likewise, when we realise the number of years that we wasted living in sin, we are stuck by grief. In both these cases we are at permanent loss. We are not going to get back the person who is dead. Likewise, we are not going to get back the days that we lived in sin. Then the question arises, how do we move forward?

Thứ hai, sự sám hối là những gì Thánh Paul nói đến trong 2 Corinthians 7:10, Vì sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời sinh ra sự ăn năn để được cứu rỗi, điều này không có gì nuối tiếc nhưng sự đau buồn theo thế gian thì dẫn đén sự chết. Câu này cần phải được hiểu rõ. Theo như câu này chỉ ra, có hai kiểu buồn phiền. Kiểu đầu tiên là sự đau buồn theo ý Đức Chúa Trời và kiểu thứ hai là đau buồn theo thế gian. Ý nghĩa của sự đau buồn là sự đau khổ to lớn. Ví dụ khi một người thân của chúng ta qua đời, chúng ta chìm trong đau buồn. Tương tự khi chúng ta nhận ra nhiều năm chúng ta đã lãng phí trong tội lỗi, chúng ta cũng đau buồn. Trong cả hai trường hợp chúng ta đều gặp mất mát to lớn. Chúng ta sẽ không thể lấy lại được người đã chết. Tương tự như vậy chúng ta không thể lấy lại những ngày tháng chúng ta đã sống trong tội lỗi. Vậy thì câu hỏi nảy sinh ở đây là, làm thế nào chúng ta có thể tiến lên phía trước được?

Let us use these two examples and try to differentiate between worldly grief and Godly grief. First let us look at the death scenario. When someone close to us dies, of course we are stuck with intense grief. We weep and cry. But, if we continue crying as if our whole world has ended, then our grief is worldly. If our grief is worldly it is because we have no hope about the dead person. And if we do not have any hope of the dead person, it is because we do not believe in life with Jesus after death. We can sometimes hear such people crying aloud saying I do not want to live anymore without my dad, mom, brother, sister, husband, wife, child, etc. Some people even commit suicide.

Chúng ta hãy sử dụng hai ví dụ để thử phân biệt giữa sự đau buồn của thế gian và sự đau buồn của Chúa. Trước hết chúng ta hãy nhìn vào cái chết. Khi một người thân của chúng ta qua đời, tất nhiên là chúng ta sẽ bị kẹt giữa sự đau buồn. Chúng ta khóc và khóc. Nhưng nếu chúng ta cứ tiếp tục khóc như thể thế giới này đã kết thúc, thì sự đau buồn của chúng ta là của thế gian. Nếu sự đau buồn của chúng ta là của thế gian thì nó là bởi vì chúng ta không có hy vọng gì về người chết cả. Và nếu chúng ta không có hy vọng gì về người chết, nó là bởi vì chúng ta không tin vào cuộc sống cùng với Chúa sau khi chết. Chúng ta đôi khi có thể nghe thấy người ta gào lên như này, không còn cha, mẹ, hay anh, em hay chồng vợ hay con, tôi không còn muốn sống nữa. Những người đó thậm chí còn tự vẫn.

Whereas in the case of Godly grief, our weeping will not last long. It is because we know that our beloved has gone to be with the Lord. 1 Thessalonians 4:13-14 But we do not want you to be uninformed, brothers and sisters, about those who have died, so that you may not grieve as others do who have no hope. For since we believe that Jesus died and rose again, even so, through Jesus, God will bring with Him those who have died. 

Trong khi đó, trong trường hợp của sự đau buồn của Chúa, sự khóc lóc của chúng ta sẽ không kéo dài. Đó là bởi vì chúng ta biết rằng người thân của chúng ta ra đi để về với Chúa. 1 Thessalonians 4:13-14, Thưa anh em, chúng tôi không muốn anh em không biết về những người đã ngủ, để anh em không đau buồn như người khác không có hy vọng. Vì nếu chúng ta tin Đức Chúa Giê Su đã chết và sống lại, thì cũng vậy, Đức Chúa Trời sẽ đem những người ngủ trong Đức Chúa Giê Su đến với Ngài.

Thus the children of God always have hope in their beloved who are dead. Because they have hope, and they believe in the Word of God, they will also turn to full repentance. They repent because they know that when Jesus comes again, they will be able to see their beloved with Jesus. And, in order to join Jesus, repentance is a must. Thus, Godly grief leads to repentance. 

Do đó, con cái Chúa luôn luôn có hy vọng về những người thân đã khuất của họ. Bởi vì họ có hy vọng và họ tin vào Lời của Chúa, họ cũng sẽ hướng tới sự ăn năn hoàn toàn. Họ ăn năn bởi vì họ biết khi Chúa tới lần thứ hai, họ sẽ có thể nhìn thấy người thân đã khuất của họ cùng với Chúa. Và để ở cùng với Chúa, sự ăn năn là bắt buộc phải có. Do đó, sự đau buồn theo ý muốn của Chúa dẫn tới sự ăn năn sám hối.

Now let us look at the second example of looking back to the days that a person has wasted in sin. If you are stuck by worldly grief, you will keep grieving about your sin and the wasted days forever. Thinking about all the disgusting things that you have committed in your life, you will be depressed and your mental health will also get affected. Some people even commit suicide because they allow sin to rule over their body and life. Hence Romans 6:12 advises Therefore, do not let sin exercise dominion in your mortal bodies, to make you obey their passions. It means you should never be slaves to sins or the thoughts of sins that you have committed in the past. If you do so, you will end up killing yourselves. This is what it means: worldly grief leads to death. 

Bây giờ, chúng ta hãy cùng nhìn vào ví dụ thứ hai, khi nhìn về những ngày tháng mà một người đã lãng phí trong tội lỗi. Nếu bạn bị mắc kẹt trong sự đau buồn theo thế gian, bạn sẽ cứ buồn mãi về tội lỗi hay những tháng ngày đó. Nghĩ về những điều ghê tởm bạn đã phạm phải trong cuộc sống, bạn sẽ buồn phiền và sức khỏe tâm thần của bạn sẽ bị ảnh hưởng. Một số người còn tự sát bởi vì họ để tội lỗi chi phối thân xác và sự sống của họ. Do đó Romans 6:12 nói rằng Vậy đừng để tội lỗi cai trị trong thân thể hay chết của anh em và khiến anh em phải chiều theo dục vọng của nó. Có nghĩa rằng bạn không bao giờ được phép là nô lệ cho tội lỗi hoặc suy nghĩ tội lỗi mà bạn đã phạm phải trong quá khứ. Nếu làm thế bạn sẽ chỉ kết cục hủy hoại bản thân mình. Vì vậy, đau buồn theo thế gian dẫn tới sự chết.

Opposite to this is Godly grief. It means whenever the thoughts of past sins come to your mind, your repentance will become stronger. You may have already confessed and repented, but the devil may bring those thoughts to your mind once in a while. It is a devil's trap for you. But, since you are a child of God now, you decide to stay even more closer to Jesus by staying strong with your repentance. Repentance is a change of mind from evil to good. As the power of repentance increases in you, you become more and more obedient to the Lord. Being more obedient means you become more humble. In short, Godly grief helps you to grow in obedience because the power of repentance is ever increasing in you. 

Trái với đó là sự đau buồn theo ý muốn của Chúa. Bất kỳ khi nào suy nghĩ về quá khứ dội đến tâm trí bạn, sự ăn năn sám hối của bạn sẽ lại càng mạnh mẽ hơn. Bạn có thể đã xưng tội và rửa tội nhưng quỷ đôi lúc sẽ mang những suy nghĩ đó đến tâm trí bạn. Đó là bẫy của quỷ đối với bạn. Như giờ đây bạn đã là con cái Chúa, bạn quyết định sẽ ở gần hơn với Chúa bằng cách mạnh mẽ với sự ăn năn sám hối của bạn. Sự sám hối là sự thay đổi tâm trí từ quỷ thành tốt. Vì sức mạnh của sự sám hối gia tăng trong bạn, bạn trở nên càng ngày càng vâng lời Chúa hơn. Vâng lời nghĩa là bạn sẽ trở nên khiêm tốn hơn. Tóm lại, sự đau buồn của Chúa giúp bạn lớn lên trong sự vâng lời bởi vì sức mạnh của sự ăn năn cứ lớn dần lên trong bạn.

Jesus said, woe to you Chorazin, woe to Bethsaida. The reason why Jesus said that was because there was no Godly grief in the people of Chorazin and Bethsaida, even after experiencing Jesus and witnessing the signs. Since you all have now experienced Jesus, you should have Godly grief. The power of repentance should increase after each class because you are experiencing Jesus more and more after each class. Let us all receive the power of repentance from Jesus.

Chúa Giê Su nói rằng, khốn cho ngươi Chô ra xin và khốn cho ngươi Bết Sai Đa. Lý do Chúa nói như vậy là bởi vì không có sự ăn  năn theo ý muốn của Chúa trong người Chô ra xin và Bết Sai đa ngay cả khi đã trải nghiệm Chúa và chứng kiến các dấu lạ. Tất cả các bạn đều đang trải nghiệm Chúa, bạn cũng chỉ nên đau buồn theo ý muốn Chúa. Sức mạnh của sự ăn năn sám hối cần phải lớn dần lên trong bạn mỗi buổi học bởi vì bạn được biết đến Chúa nhiều hơn sau mỗi buổi. Cầu mong tất cả chúng ta đều nhận được sức mạnh của sự ăn năn đến từ Chúa Giê Su.

God bless you. Amen.