Saturday, January 15, 2022

Matthew 12:1-8 Con Người là Chúa của Ngày Sabbath

  

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We completed studying Matthew chapter 11 in the last class. Tonight, we start studying Matthew chapter 12. Let us read the first section from vs. 1-8. 

Chúng ta đã hoàn thành Matthew chương 11 ở buổi trước. Tối nay, chúng ta bắt đầu học Matthew chương 12. Chúng ta hãy đọc chương đầu tiên từ câu 1 đến câu 8.

This incident happened on a Sabbath day. On their way to the temple, the disciples casually plucked the grains from the field and started eating. The Pharisees saw this and complained to Jesus that His disciples were not observing the Sabbath properly. 

Sự việc này xảy ra vào ngày Sabbath. Trên đường tới đền thờ, các môn đồ đã vô tình bẻ các hạt lúa từ cánh đồng và ăn. Những người Pha ri si nhìn thấy và phàn nàn với Chúa Giê Su rằng các môn đồ của Ngài đã vi phạm ngày Sa bát.

The origin of Sabbath is found in Genesis 2:2-3 And on the seventh day God finished the work that He had done, and He rested on the seventh day from all the work that He had done. So God blessed the seventh day and hallowed it, because on it God rested from all the work that He had done in creation.  As we see here, God blessed the seventh day and gave it to us as a day of rest and ceasing from all work. 

Nguồn gốc của Ngày Sa bát được đưa ra trong Sáng Thế Ký 2:2-3 Ngày thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ bảy, Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc. Ngài ban phước cho ngày thứ bảy và thánh hóa ngày đó vì ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc sáng tạo. Như chúng ta thấy ở đây, Chúa đã ban phước cho ngày thứ bảy và cho chúng ta một ngày để nghỉ ngơi và dừng khỏi toàn bộ mọi công việc. 

The second instance of Sabbath is seen in the journey of the people of God from Egypt to the promised land, Canaan.  Exodus 16:26 we read: Six days you shall gather it; but on the seventh day, which is a Sabbath, there will be none; and in Exodus 16:29-30 it is said See! The Lord has given you the Sabbath, therefore on the sixth day He gives your food for two days; each of you stay where you are; do not leave your place on the seventh day. So the people rested on the seventh day. As is instructed in verses 26&29, the seventh day of the week is a day of rest and on that day, we are not allowed to do any work. 

Ví dụ thứ hai về Ngày Sabbath được nhìn thấy từ hành trình của người dân Do Thái từ Ai Cập về miền đất hứa, Canaan. Exodus 16:26 chúng ta đọc rằng: Anh em kiếm ăn trong sáu ngày nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa bát, sẽ chẳng có gì cả. Và trong Exodus 16:29-30 Hãy nhớ rằng Đức Giê Va đã cho các con ngày Sa bát vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà. Như vậy, vào ngày thứ bảy, dân chúng được nghỉ ngơi. Và như trong câu 26 và 29 chỉ ra, Ngày thứ bảy là ngày nghỉ ngơi và vào ngày này, chúng ta không được phép làm công việc gì.

This instruction about Sabbath is further emphasised by including it in the Ten Commandments. Exodus 20:8-11 Remember the Sabbath day, and keep it holy. Six days you shall labour and do all your work. But the seventh day is a Sabbath to the Lord your God; you shall not do any work-you, your son or your daughter, you male or female slave, your livestock, or the alien resident in your towns. For in six days the Lord made heaven and earth, the sea, and all that is in them, but rested the seventh day; therefore the Lord blessed the Sabbath day and consecrated it. 

Hướng dẫn về Sa bát được nhấn mạnh bằng cách thêm vào mười điều răn. Exodus 20:8-11 Hãy nhớ ngày nghỉ để giữ làm ngày thánh. Con phải làm tất cả công việc mình trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê Hô Va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai, con gái, tôi trai tớ gái, súc vật của con, cả đến khách lạ trong nhà con đều không được làm bất cứ công việc gì. Vì trong sáu ngày, Đức Giê Hô Va đã tạo dựng trời, đất, biển và muôn vật ở trong đó, nhưng Ngài nghỉ ngày thứ bảy. Vì vậy, Đức Giê Hô Va ban phước cho ngày nghỉ và thánh hóa ngày ấy.

The seventh day of the week is Saturday. According to the Jewish calendar, a day starts in the evening and ends in the following evening. It means Sabbath starts on Friday evening and ends on Saturday evening.  The Orthdox church also follows the same timings for a day. Our days start in the evening at 6pm and end in the evening of the following day at 6pm. 

Ngày thứ bảy trong tuần là ngày thứ bảy. Theo lịch của Người Do Thái, một ngày bắt đầu vào buổi tối và kết thúc vào buổi tối ngày hôm sau. Có nghĩa là ngày Sa bát bắt đầu vào tối thứ sáu và kết thúc vào tối thứ bảy. Nhà thờ Chính Thống Giáo cũng tuân theo ngày giờ tương tự cho một ngày. Ngày của chúng ta bắt đầu vào buổi tối lúc 6h tối và kết thúc vào buổi tối của ngày hôm sau lúc 6h tối.

You need to know why we observe Sunday as Sabbath. Sunday is actually the first day of the week and not the seventh day. We observe Sunday as Sabbath because Jesus resurrected from death on a Sunday. He was crucified on a Friday and rose up from the dead on the third day which was Sunday. We received complete rest on Sunday through the resurrection of Lord Jesus. There is a group of Christians called The Seventh Day Adventists in the USA who still observe Saturday as Sabbath. 

Chúng ta cần phải biết tại sao chúng ta coi Ngày Chủ nhật như ngày Sa bát. Ngày Chủ nhật thật ra là ngày đầu tiên của tuần chứ không phải ngày thứ bảy. Chúng ta xem ngày Chủ nhật là ngày Sa bát bởi vì Chúa Giê Su phục sinh từ cõi chết vào ngày Chủ nhật. Ngài bị đóng đinh vào Ngày thứ sáu và sống lại từ cõi chết vào ngày thứ ba tức là ngày Chủ nhật. Chúng ta đón nhận sự nghỉ ngơi hoàn toàn vào ngày Chủ nhật qua sự phục sinh của Chúa Giê Su. Có một nhóm người theo Đạo Thiên Chúa có tên gọi là Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật ở Mỹ họ vẫn coi ngày thứ bảy là ngày Sa bát.

The Jewish Sabbath starts with lighting of candles, and reciting a short prayer. In terms of the meals on Sabbath, they had one meal on the eve of the Sabbath, which is Friday evening. The second meal was lunch on Saturday, and the third one, later in the afternoon with the lighting of candles and prayers. Strict observance of Sabbath was practiced by the Jews. However, people later forgot the meaning and essence of Sabbath and focused more on the outward things of Sabbath. 

Ngày Sa bát của người Do Thái bắt đầu bằng việc thắp nến và cùng đọc một đoạn cầu nguyện ngắn. Xét về bữa ăn trong ngày Sa bát, có một bữa vào tối ngày Sa bát đó là tối thứ sáu. Bữa thứ hai là bữa trưa ngày thứ 7 và bữa thứ ba là vào buổi chiều cũng thắp nến và cầu nguyện. Sự tuân thủ nghiêm ngặt ngày Sa bát được người Do Thái thực hiện. Tuy nhiên, người ta sau đó quên đi ý nghĩa và bản chất của Ngày Sa bát mà tập trung nhiều hơn vào những thứ bên ngoài.

The Pharisees were the spiritual leaders of the Jewish people. But, they themselves ignored the essence of the Sabbath. There were mainly three things that the Jews did on a Sabbath. 1. They remembered the creation story that we read in Genesis chapter 1; 2. They also remembered their deliverance from Egypt about which we read in the book of Exodus; 3. They looked forward to the coming of the Messiah. These three activities were the essence of the Sabbath. The three could be summarised as 1. Creation; 2. Deliverance; and 3. Eternity. Let us have a look at each of these:

Người Pha ri si là những nhà lãnh đạo tinh thần của người Do Thái. Nhưng ngay chính bản thân họ cũng lãng quên bản chất của ngày Sa bát. Có ba điểm chính mà người Do Thái làm vào ngày Sa bát 1. Họ tưởng nhớ câu chuyện sáng tạo của Chúa mà chúng ta đọc được trong Sáng Thế Ký chương 1, 2. Họ cũng nhớ sự giải cứu khỏi Ai cập trong Exodus chương 3. Họ trông đợi sự đến của đấng Messiah. Cả ba hoạt động này là bản chất của Ngày Sa bát. Ba điều này có thể tóm lược là 1. Sự sáng tạo 2. Sự giải cứu 3. Sự vĩnh hằng. Chúng ta hãy nhìn vào từng điều này một:

Creation: On Sabbath, the Jews just remembered how God created this world and how He created human beings. But, there is no point in just repeating the same thing every week. You need to delve deep into it. It means, you meditate on how God created each thing and beings out of His love. And think of what went wrong. Then we will realise that we betrayed the love of God and disobeyed God’s commandment. That is what Adam and Eve did. In other words, we are not just remembering the past, but we look forward to the future. This is the way we should read the Bible everyday. If we just read the Bible, it is the same thing reading again and again. You will eventually get bored. But, if you meditate on what you read, every time you read, you will get newer revelation from what you read. That will lead you forward in your life. 

Sự sáng tạo: Vào ngày Sa bát, Người Do Thái tưởng nhớ Chúa đã tạo dựng thế giới này như thế nào và Ngài đã tạo dựng nên con người như thế nào. Nhưng sẽ chẳng có ích gì nếu như cứ lặp đi lặp lại một điều như thế hàng tuần. Bạn cần phải đào sâu vào nó. Có nghĩa rằng, bạn suy ngẫm về việc Chúa đã tạo ra mỗi thứ và mọi vật hiện hữu trên thế gian bằng tình yêu của Ngài như thế nào. Và hãy nghĩ xem điều gì đã đi trệch khỏi quỹ đạo. Sau đó chúng ta nhận ra rằng chúng ta đã phản bội tình yêu của Chúa và không tuân theo những điều răn của Ngài. Đây là những gì Adam và Eva đã làm. Nói cách khác chúng ta không chỉ nhớ về quá khứ mà còn cần nhìn về tương lai nữa. Đây là cách chúng ta đọc Kinh Thánh mỗi ngày. Nếu chúng ta chỉ đọc Kinh Thánh, đó là việc cứ đọc đi đọc lại. Bạn sẽ cảm thấy chán. Nhưng nếu bạn suy ngẫm về những điều bạn đọc, mỗi lần bạn đọc bạn sẽ lại có những sự hiểu biết mới mẻ hơn về những điều bạn đọc. Điều đó sẽ dẫn dắt bạn tiến lên trong cuộc sống.

Looking forwards to the future means thinking of how we can get out of our sin. This is what King David prayed as we read in Psalm 51: 7-10 (please read). Here we see that King David is praying to make him a new creation. Psalm 51 is King David’s confession of his sin. In the Orthodox church, our Sabbath evening prayer starts by reciting Psalm 51 immediately after the Kauma (prayer). It is meant to confess our sins and seek deliverance so that we may be made a new creation for the Lord and by the Lord. 

Việc nhìn tiến lên tới tương lai nghĩa rằng hãy nghĩ về việc làm thế nào bạn có thể thoát ra khỏi tội lỗi. Đây là điều Vua David đã cầu nguyện như chúng ta đọc được trong Thi Thiên 51:7-10 Xin lấy chum bài hương tẩy sạch tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên trắng hơn tuyết. Chúa sẽ khiến con nghe tiếng vui vẻ mừng rỡ để các xương cốt mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc. Xin Chúa ngoảnh mặt khỏi các tội lỗi con và bôi xóa mọi gian ác của con. Đức Chúa Trời ơi, xin dựng nên trong con một lòng trong sạch và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng. Ở đây chúng ta thấy Vua David đã cầu nguyện xin Chúa cho mình trở thành một sinh vật mới. Thi Thiên 51 là lời thú tội của Vua David về tội lỗi mình. Trong nhà thờ Chính Thống Giáo, bài cầu nguyện buổi tối của Ngày Sa bát bắt đầu bằng Thi Thiên 51 ngay sau bài Kinh mở đầu (Kauma). Điều này có ý nghĩa là để xưng tội lỗi và tìm kiếm sự giải cứu để chúng ta có thể được làm mới bởi Chúa và cho Chúa.

Deliverance: Looking up to the future means one is desperate to be delivered from the bondage of Satan. In the same way as the people of God were in the spiritual bondage of Satan, they were also in physical bondage in Egypt. The Jews lived as slaves in Egypt for 400 years. When the people could not bear the slavery anymore, they started crying to the Lord as we read in Exodus 2:23-25 After a long time the king of Egypt died. The Israelites groaned under their slavery, and cried out. Out of the slavery their cry for help rose up to God. God heard their groaning, and God remembered His covenant with Abraham, Isaac, and Jacob. God looked upon the Israelites, and God took notice of them. 

Sự giải cứu: Nhìn về tương lai nghĩa là một người mong ngóng được giải cứu khỏi xiềng xích của quỷ Satan. Tương tự như con cái Chúa ở trong xiềng xích về tâm linh của quỷ, họ cũng ở xiềng xích thể xác ở Ai Cập. Người Do Thái đã sống như là nô lệ ở Ai Cập trong suốt 400 năm. Khi người ta không thể chịu được sự nô dịch nữa, họ bắt đầu kêu cầu Chúa như chúng ta đọc trong Exodus 2:23-25, Sau một thời gian dài, vua Ai Cập qua đời. Dân Ysarel than thở, kêu van dưới ách nô lệ, tiếng ca thán của họ thấu đến Đức Chúa Trời. Ngài nghe tiếng than thở của họ và nhớ lại giao ước đã kết lập với Áp ra ham, Y sác, và Gia cốp. Đức Chúa Trời đoái đến dân Isarel và thấu hiểu cảnh ngộ của họ.

As we see here, it took 400 years for the Israelites to realise the burden of slavery. Only then, they cried out to the Lord. This is the same situation with many people around us. They prefer to live with the burden of mental sickness and physical ailments and do not want to repent their sins and come to the Lord. When everything is lost and life is completely destroyed, they try to come back. Isn’t it better to come to the Lord as soon as we can?  

Như chúng ta thấy ở đây, người Isarel đã mất 400 năm để nhận ra gánh nặng của ách nô lệ. Chỉ khi đó họ mới kêu cầu đến Chúa. Đây cũng là cảnh ngộ của nhiều người quanh chúng ta. Họ thích sống với gánh nặng về tâm trí và thể xác và không muốn sám hối và đến với Chúa. Khi mọi thứ mất đi và cuộc đời bị phá hủy hoàn toàn, họ cố gắng trở lại. Thế thì chẳng phải tốt hơn là nên trở về cùng Chúa càng sớm càng tốt hay sao?

Anyway, as we read later in Exodus 3:7-8 (please read), God decided to deliver the people from slavery. He appointed Moses to lead them out of Egypt to the promised land, Canaan.  This is the second thing that the Jewish people remembered during the Sabbath. It was how God delivered them from slavery. But, the most important thing is, though they were physically delivered from slavery, they were still spiritually slaves to Satan. They were not spiritually delivered. As we read throughout the Old Testament, the people continued in sin on the course of their journey to the promised land, and even after reaching Canaan and were settled down. 

Chúng ta đọc trong Exodus 3:7-8, Đức Giê Hô Va phán: Ta đã thấy rõ nỗi khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe thấu tiếng họ kêu than vì các đốc công Phải Ta biết được nỗi đau đớn của họ. Ta ngự xuống để giải dân nầy khỏi tay người Ai Cập, đem họ ra khỏi xứ ấy, đưa đến một vùng đất tốt đẹp và rộng rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi ở của dân Canaan, dân Hê tít, dân A mô rít, dân Phê rê sít, dân Hê vít, và dân Giê bu sít. Chúa đã quyết định giải cứu dân Ngài khỏi ách nô lệ. Ngài chỉ định Môi Se dẫn dắt họ ra khỏi Ai Cập tới miền đất hứa Canaan. Đây là điều thứ hai mà người Do Thái nhớ trong suốt ngày Sa bát. Đây là cách Chúa giải cứu họ khỏi ách nô lệ. Nhưng điều quan trọng nhất là mặc dù họ được giải cứu thân xác nô lệ, họ vẫn cứ là nô lệ về tinh thần của quỷ. Họ chưa được giải cứu về tinh thần. Như chúng ta đọc được xuyên suốt Cựu Ước, con người tiếp tục sống trong tội lỗi trong suốt hành trình của họ đến miền đất hứa và thậm chí ngay cả khi xác lập bờ cõi ở đó.

The superficial remembrance of deliverance was not the essence of the Sabbath. Instead, it is how one responds to deliverance that is important. Psalm 116:1-2 I love the Lord, because He has heard my voice and my supplications. Because He inclined His ear to me, therefore, I will call on Him as long as I live. As evident from these verses, when God hears our cries and answers our prayers, we should be grateful to Him. Secondly, we do not stop calling on Him as soon as we get physically delivered, but we should call even more, so that our spirits are also delivered. Remember, I mentioned the difference between getting healed and getting well, in the last class. 

Sự tưởng nhớ về sự giải cứu mang tính chất bề ngoài không phải là bản chất của ngày Sa bát. Thay vào đó, nó là cách một người có sự suy ngẫm với sự giải cứu là điều quan trọng. Thi Thiên 116:1-2 Tôi yêu mến Đức Giê Hô Va Vì Ngài nghe tiếng tôi và lời nài xin của tôi. Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi. Bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi. Như những câu này nói, khi Chúa lắng nghe tiếng kêu cầu của chúng ta và trả lời cầu nguyện của chúng ta, chúng cần phải biết ơn Ngài. Thứ hai là chúng ta không ngừng kêu cầu Ngài ngay cả khi chúng ta được giải cứu về thể xác, mà chúng ta cần phải kêu cầu nhiều hơn nữa để mà tâm linh chúng ta được giải cứu. Nhớ rằng, Cha đã dạy về sự khác biệt giữa được chữa lành và được lành hoàn toàn trong buổi trước.

The people of God and their leaders stopped at their physical deliverance. They did not continue to get their spiritual deliverance. Unless we are spiritually delivered we cannot live with the Lord. Hence King David prayed as we read in Psalm 22:19-20 But you, O Lord, do not be far away! O my help, come quickly to my aid! Deliver my soul from the sword, my life from the power of the dog. King David earnestly prayed that though I am physically well, rich, and powerful as a King, O Lord please help me to save my spirit from the devil. Hanging on the cross, this was the Psalm that Jesus prayed on behalf of mankind. 

Con cái Chúa và những người lãnh đạo của họ đã dừng lại ở sự giải cứu về thể xác. Họ không tiếp tục để có được sự giải cứu về tâm linh. Nếu như chúng ta không được giải cứu về tâm linh, chúng ta không thể ở cùng Chúa được. Do đó, Vua David đã cầu nguyện trong Thi Thiên 22:19-20, Đức Giê Hô Va ơi xin đừng cách xa con! Lạy Chúa quyền năng của con, xin mau mau đến giúp đỡ con. Xin giải cứu linh hồn con khỏi gươm và mạng sống con khỏi loài chó. Vua David đã khẩn thiết khẩn cầu mặc dù con khỏe về thể xác, giàu có và mạnh mẽ như một Nhà Vua, xin Chúa hãy giải cứu tâm linh con khỏi quỷ dữ. Treo mình trên cây thập tự, đây cũng là Thi Thiên là Chúa Giê Su đã cầu nguyện thay cho con người.

Jesus hung on the cross to deliver us from the slavery of the devil. When we remember the suffering and death of Jesus on the cross, we actually look forward to the deliverance that we received by his suffering and death. It means, we are not stuck just by simply remembering the suffering and death of Jesus, but we look forward to the outcome of his suffering and death. Jesus did not remain buried in the grave. He defeated death and rose up on the third day. Thus, for us, His resurrection is the most important event. Hence, we moved the Sabbath to the day of resurrection because God gave us rest from fighting the devil by the resurrection of Jesus on the third day which is Sunday. 

Chúa Giê Su đã treo mình trên Cây Thập Tự để giải cứu chúng ta khỏi ách nô lệ của quỷ. Khi chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh và sự chết của Chúa Giê Su trên cây thập tự, chúng ta thật ra đang trông mong đến sự giải cứu mà chúng ta nhận được qua sự hy sinh và sự chết của Ngài. Có nghĩa rằng chúng ta không kẹt ở đó chỉ bằng cách nhớ đến sự đau thương và sự chết của Chúa Giê Su mà chúng ta trông chờ vào kết quả của điều đó. Chúa đã không chỉ bị chôn vùi trong huyệt mộ. Ngài đã đánh bại sự chết và trỗi dậy vào ngày thứ ba. Do đó, với chúng ta, sự phục sinh của Chúa là sự kiện quan trọng nhất. Do đó, chúng ta chuyển ngày Sa bát sang ngày phục sinh bởi vì Chúa cho chúng ta được an nghỉ khỏi đánh nhau với quỷ bởi sự phục sinh của Chúa vào ngày thứ ba đó là ngày Chủ nhật.

The Pharisees and their followers only looked backwards. They just remembered and talked about the deliverance from Egypt on every Sabbath. They failed to look forward. Philippians 3:13-14 Beloved, I do not consider that I have made it my own; but this one thing I do; forgetting what lies behind and straining forward to what lies ahead. I press on toward the goal for the prize of the heavenly call of God in Christ Jesus. As these verses suggest, we should never get drowned in the past. Instead, we should always aim to achieve the goal to receive the heavenly call. That call is to live eternally with Christ Jesus. 

Người Pha ri si và những người theo họ chỉ nhìn về đằng sau. Họ chỉ nhớ và nói về sự giải cứu khỏi Ai cập trong mọi ngày Sa bát. Nhưng họ không nhìn về phía trước. Philipians 3:13-14, Thưa anh em, tôi không nghĩ rằng mình đã đoạt được rồi, nhưng tôi cứ làm một điều: đó là quên đi những gì ở đằng sau, vươn tới những gì ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà theo đuổi để đoạt giải về sự kêu gọi trên cao của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Giê Su. Và như câu này đã nói, chúng ta không bao giờ chìm đắm trong quá khứ. Thay vào đó, chúng ta nên luôn luôn nhắm tới mục đích để nhận được sự kêu gọi trên cao. Sự kêu gọi đó là sự sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su.

Eternity: The third and most important essence of Sabbath is living eternally with Jesus Christ. The Jews looked forward to the age of Messiah on each Sabbath. But, since they were stuck in the past, they were unable to see or realise that the Messiah had come. Hence Jesus quoted the prophecy of Jeremiah as we read in Matthew 13:13 The reason I speak to them in parables is that ‘seeing they do not perceive, and hearing they do not listen, nor do they understand’. 

Sự vĩnh hằng: Điều thứ ba và là điều quan trọng nhất của Ngài Sa bát là sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su. Người Do Thái đã nhìn vào sự đến của đấng Messiah vào ngày Sa bát. Nhưng vì họ bị mắc kẹt trong quá khứ, họ không thể nhìn thấy hay nhận ra rằng Đấng Messiah đã đến. Do đó, Chúa Giê Su đã đọc lại những lời tiên tri của Giê Rê Mi như chúng ta đọc được trong Matthew 13:13 rằng: Bởi vậy, Ta dùng ẩn dụ để nói với họ, vì họ xem mà không thấy, lắng tai mà không nghe không hiểu.

We had many students in this Bible class earlier. Unfortunately, even after seeing the Bible and hearing the messages, they never understood a word from the classes. Eventually, they all left. One student was completely healed of cancer. But still, she is not willing to come to Jesus. The reason is they are unable to see where they will be after they complete their life on this earth. 

Chúng ta có nhiều học sinh từng học ở lớp Kinh Thánh này. Không này, sau khi đọc Kinh Thánh và nghe được những lời này, họ cũng không hiểu gì. Và sau đó họ không tham gia nữa. Một học sinh từng khỏi hẳn bệnh ung thư. Nhưng cô ấy vẫn không sẵn sàng để đến với Chúa/ Lý do là vì họ không thể nhìn thấy họ sẽ ở đâu sau khi họ kết thúc cuộc đời họ trên thế gian này.

Every Sabbath is a day of renewal and a day of advancing ourselves to our next life with Jesus which is actually the eternal life. Psalm 90:10 The days of our life are seventy years, or perhaps eighty, if we are strong; even then their span is only toil and trouble; they are soon gone, and we fly away. This prayer of Moses tells us that no matter how hard we try to indulge in this world, we will not last longer than 70 or 80 years. The coffee shop that you spend time in will forget you. The people whom you trusted and loved will forget you. The places where you worked will forget you. The saddest thing is that all the money that you earned by working so hard will also forget you. Not even a single penny is going to come with you after your death. Hence King David said in Psalm 69:8 I have become a stranger to my kindred, an alien to my mother’s children. As this verse suggests, one day we will become strangers to everyone and everything in this world. 

Mỗi ngày Sa bát là một ngày của sự khởi đầu và là một ngày chúng ta đến gần hơn với cuộc sống sau này với Chúa Giê Su mà thực ra đó mới là cuộc sống vĩnh hằng. Thi Thiên 90:10 Tuổi tác chúng con đến được bảy mươi, còn nếu mạnh khỏe thì đến tám mươi. Nhưng sự kiêu căng của nó chỉ rước lấy lao khổ và buồn thảm, vì đời người chóng qua, rồi chúng con bay mất đi. Lời cầu nguyện này là của Môi Se, cho thấy rằng cho dù chúng ta có cố gắng đắm chìm hưởng thụ đến mất ở thế gian này thì cuộc đời chúng ta cũng chỉ có 70 hoặc 80 là cùng. Quán café mà bạn hay lui tới cũng sẽ quên bạn. Những người bạn tin tưởng và yêu mến cũng sẽ quên bạn. Những nơi mà bạn làm cũng sẽ quên bạn. Điều đáng buồn nhất là những đồng tiền bạn kiếm được làm lụng vất vả cũng sẽ quên bạn. Không một xu nào bạn có thể đem theo khi chết. Do đó Vua David nói trong Thi Thiên 69:8, Con trở nên một kẻ xa lạ đối với anh em con, Một người ngoại quốc đối với các con trai của mẹ con. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở nên những người xa lạ với mọi người và mọi thứ ở thế gian này.

But, there is someone who will never forget us. It is our Lord God Almighty. As quoted in one of our earlier classes, Isaiah 49:15 says Can a woman forget her nursing child, or show compassion for the child of her womb? Even these may forget, yet I will not forget you. This is the promise of God. And God never turns away from His promises. When we spend time with the Lord on Sabbath, He prepares us to spend time with Him eternally. And, each Sabbath, we look forward to it. That is the motivation that guides us each Sabbath. 

Nhưng có một người sẽ không bao giờ quên chúng ta. Đó chính là Chúa quyền năng. Trong Ê Sai 49:15, Người mẹ có thể nào quên cho con mình bú hoặc không thương đến con ruột của mình chăng? Dù người mẹ có quên con mình, Ta vẫn không bao giờ quên con. Đây là lời hứa của Chúa. Và Chúa chẳng bao giờ quay lưng khỏi những lời hứa của Ngài. Khi chúng ta dành thời gian với Chúa vào ngày Sa bát. Ngài chuẩn bị chúng ta để có một cuộc sống vĩnh hằng với Ngài. Và mỗi ngày Sa bát chúng ta hướng tới điều đó. Đó là động lực dẫn dắt chúng ta vào mỗi ngày Sa bát.

Jesus replied to the Pharisees, man is not made for Sabbath, but Sabbath is made for man. It means we do not serve the Sabbath but Sabbath serves us a day to travel through the renewal of God’s creation which is us, our deliverance from the slavery of Satan, and reach Jesus to live eternally with Him. 

Chúa đã đáp lại người Pha ri si, không phải con người được tạo ra cho ngày Sa bát mà ngày Sa bát được tạo ra cho con người. Có nghĩa rằng chúng ta không phục vụ ngày Sa bát mà ngày Sa bát phục vụ chúng ta, một ngày để trải qua sự làm mới của tạo vật của Chúa đó là chúng ta, chúng ta được giải cứu khỏi quỷ và vươn tới Chúa để sống mãi mãi với Ngài.

Therefore, as Saint Paul said in 2 Corinthians 7:1 Since we have these promises, beloved, let us cleanse ourselves from every defilement of body and of spirit, making holiness perfect in the fear of the Lord. Without holiness we cannot achieve a life with Jesus. So, let us be clean in body, mind and spirit through our confessions and prayers.

Do đó, như Thánh Paul nói trong 2 Corinthians 7:1, Vì có những lời hứa này, chúng ta hãy thanh tẩy chính mình khỏi mọi vết nhơ của thể xác và tâm linh, cũng hãy làm cho sự thánh hóa được trọn vẹn trong niềm kính sợ Đức Chúa Trời. Nếu không có sự thánh hóa, chúng ta không thể có được sự sống với Chúa Giê Su. Vì vậy, chúng ta hãy thanh tẩy thể xác, tâm trí và tâm linh qua sự sám hối và cầu nguyện.

God bless you. Amen. 

 

No comments:

Post a Comment