Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God.
Amen.
Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần,
một vị Chúa thực sự. Amen.
Dear brothers and sisters in Christ,
Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,
We completed studying Matthew chapter 11 in the last class.
Tonight, we start studying Matthew chapter 12. Let us read the first
section from vs. 1-8.
Chúng ta đã hoàn thành Matthew chương 11 ở buổi trước. Tối nay,
chúng ta bắt đầu học Matthew chương 12. Chúng ta hãy đọc chương đầu tiên từ câu
1 đến câu 8.
This incident happened on a Sabbath day. On their way to the
temple, the disciples casually plucked the grains from the field and started
eating. The Pharisees saw this and complained to Jesus that His disciples were
not observing the Sabbath properly.
Sự việc này xảy ra vào ngày Sabbath. Trên đường tới đền thờ, các
môn đồ đã vô tình bẻ các hạt lúa từ cánh đồng và ăn. Những người Pha ri si nhìn
thấy và phàn nàn với Chúa Giê Su rằng các môn đồ của Ngài đã vi phạm ngày Sa
bát.
The origin of Sabbath is found in Genesis 2:2-3 And on the
seventh day God finished the work that He had done, and He rested on the
seventh day from all the work that He had done. So God blessed the seventh day
and hallowed it, because on it God rested from all the work that He had done in
creation. As we see here, God blessed the seventh day and gave it to
us as a day of rest and ceasing from all work.
Nguồn gốc của Ngày Sa bát được đưa ra trong Sáng Thế Ký 2:2-3 Ngày
thứ bảy, Đức Chúa Trời hoàn tất các công việc Ngài đã làm. Vì thế, vào ngày thứ
bảy, Ngài nghỉ. Ngài đã làm xong mọi công việc. Ngài ban phước cho ngày thứ bảy
và thánh hóa ngày đó vì ngày đó Ngài nghỉ sau khi đã làm xong mọi công việc
sáng tạo. Như chúng ta thấy ở đây, Chúa đã ban phước cho ngày thứ bảy và cho
chúng ta một ngày để nghỉ ngơi và dừng khỏi toàn bộ mọi công việc.
The second instance of Sabbath is seen in the journey of the
people of God from Egypt to the promised land, Canaan. Exodus 16:26 we
read: Six days you shall gather it; but on the seventh day, which is a
Sabbath, there will be none; and in Exodus 16:29-30 it is said See!
The Lord has given you the Sabbath, therefore on the sixth day He gives your
food for two days; each of you stay where you are; do not leave your place on
the seventh day. So the people rested on the seventh day. As is instructed
in verses 26&29, the seventh day of the week is a day of rest and on
that day, we are not allowed to do any work.
Ví dụ thứ hai về Ngày Sabbath được nhìn thấy từ hành trình của
người dân Do Thái từ Ai Cập về miền đất hứa, Canaan. Exodus 16:26 chúng ta đọc
rằng: Anh em kiếm ăn trong sáu ngày nhưng ngày thứ bảy là ngày Sa bát, sẽ chẳng
có gì cả. Và trong Exodus 16:29-30 Hãy nhớ rằng Đức Giê Va đã cho các con ngày
Sa bát vì thế vào ngày thứ sáu Ngài ban cho các con hai ngày bánh. Trong ngày
thứ bảy, mỗi người phải ở yên chỗ mình, không ai được ra khỏi nhà. Như vậy, vào
ngày thứ bảy, dân chúng được nghỉ ngơi. Và như trong câu 26 và 29 chỉ ra, Ngày
thứ bảy là ngày nghỉ ngơi và vào ngày này, chúng ta không được phép làm công
việc gì.
This instruction about Sabbath is further emphasised by including
it in the Ten Commandments. Exodus 20:8-11 Remember the Sabbath day, and
keep it holy. Six days you shall labour and do all your work. But the seventh
day is a Sabbath to the Lord your God; you shall not do any work-you, your son
or your daughter, you male or female slave, your livestock, or the alien
resident in your towns. For in six days the Lord made heaven and earth, the
sea, and all that is in them, but rested the seventh day; therefore the Lord
blessed the Sabbath day and consecrated it.
Hướng dẫn về Sa bát được nhấn mạnh bằng cách thêm vào mười điều
răn. Exodus 20:8-11 Hãy nhớ ngày nghỉ để giữ làm ngày thánh. Con phải làm tất
cả công việc mình trong sáu ngày, nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ dành cho Giê
Hô Va Đức Chúa Trời của con. Trong ngày đó, con, con trai, con gái, tôi trai tớ
gái, súc vật của con, cả đến khách lạ trong nhà con đều không được làm bất cứ công
việc gì. Vì trong sáu ngày, Đức Giê Hô Va đã tạo dựng trời, đất, biển và muôn
vật ở trong đó, nhưng Ngài nghỉ ngày thứ bảy. Vì vậy, Đức Giê Hô Va ban phước
cho ngày nghỉ và thánh hóa ngày ấy.
The seventh day of the week is Saturday. According to the Jewish
calendar, a day starts in the evening and ends in the following evening. It
means Sabbath starts on Friday evening and ends on Saturday evening. The
Orthdox church also follows the same timings for a day. Our days start in the
evening at 6pm and end in the evening of the following day at 6pm.
Ngày thứ bảy trong tuần là ngày thứ bảy. Theo lịch của Người Do
Thái, một ngày bắt đầu vào buổi tối và kết thúc vào buổi tối ngày hôm sau. Có
nghĩa là ngày Sa bát bắt đầu vào tối thứ sáu và kết thúc vào tối thứ bảy. Nhà
thờ Chính Thống Giáo cũng tuân theo ngày giờ tương tự cho một ngày. Ngày của
chúng ta bắt đầu vào buổi tối lúc 6h tối và kết thúc vào buổi tối của ngày hôm
sau lúc 6h tối.
You need to know why we observe Sunday as Sabbath. Sunday is
actually the first day of the week and not the seventh day. We observe Sunday
as Sabbath because Jesus resurrected from death on a Sunday. He was crucified
on a Friday and rose up from the dead on the third day which was Sunday. We
received complete rest on Sunday through the resurrection of Lord Jesus. There
is a group of Christians called The Seventh Day Adventists in the USA who still
observe Saturday as Sabbath.
Chúng ta cần phải biết tại sao chúng ta coi Ngày Chủ nhật như ngày
Sa bát. Ngày Chủ nhật thật ra là ngày đầu tiên của tuần chứ không phải ngày thứ
bảy. Chúng ta xem ngày Chủ nhật là ngày Sa bát bởi vì Chúa Giê Su phục sinh từ
cõi chết vào ngày Chủ nhật. Ngài bị đóng đinh vào Ngày thứ sáu và sống lại từ
cõi chết vào ngày thứ ba tức là ngày Chủ nhật. Chúng ta đón nhận sự nghỉ ngơi
hoàn toàn vào ngày Chủ nhật qua sự phục sinh của Chúa Giê Su. Có một nhóm người
theo Đạo Thiên Chúa có tên gọi là Giáo hội Cơ Đốc Phục Lâm An Thất Nhật ở Mỹ họ
vẫn coi ngày thứ bảy là ngày Sa bát.
The Jewish Sabbath starts with lighting of candles, and reciting a
short prayer. In terms of the meals on Sabbath, they had one meal on the eve of
the Sabbath, which is Friday evening. The second meal was lunch on Saturday,
and the third one, later in the afternoon with the lighting of candles and
prayers. Strict observance of Sabbath was practiced by the Jews. However,
people later forgot the meaning and essence of Sabbath and focused more on the
outward things of Sabbath.
Ngày Sa bát của người Do Thái bắt đầu bằng việc thắp nến và cùng
đọc một đoạn cầu nguyện ngắn. Xét về bữa ăn trong ngày Sa bát, có một bữa vào
tối ngày Sa bát đó là tối thứ sáu. Bữa thứ hai là bữa trưa ngày thứ 7 và bữa
thứ ba là vào buổi chiều cũng thắp nến và cầu nguyện. Sự tuân thủ nghiêm ngặt
ngày Sa bát được người Do Thái thực hiện. Tuy nhiên, người ta sau đó quên đi ý
nghĩa và bản chất của Ngày Sa bát mà tập trung nhiều hơn vào những thứ bên
ngoài.
The Pharisees were the spiritual leaders of the Jewish people.
But, they themselves ignored the essence of the Sabbath. There were mainly
three things that the Jews did on a Sabbath. 1. They remembered the creation
story that we read in Genesis chapter 1; 2. They also remembered their
deliverance from Egypt about which we read in the book of Exodus; 3.
They looked forward to the coming of the Messiah. These three activities were
the essence of the Sabbath. The three could be summarised as 1. Creation; 2.
Deliverance; and 3. Eternity. Let us have a look at each of these:
Người Pha ri si là những nhà lãnh đạo tinh thần của người Do Thái.
Nhưng ngay chính bản thân họ cũng lãng quên bản chất của ngày Sa bát. Có ba
điểm chính mà người Do Thái làm vào ngày Sa bát 1. Họ tưởng nhớ câu chuyện sáng
tạo của Chúa mà chúng ta đọc được trong Sáng Thế Ký chương 1, 2. Họ cũng nhớ sự
giải cứu khỏi Ai cập trong Exodus chương 3. Họ trông đợi sự đến của đấng
Messiah. Cả ba hoạt động này là bản chất của Ngày Sa bát. Ba điều này có thể
tóm lược là 1. Sự sáng tạo 2. Sự giải cứu 3. Sự vĩnh hằng. Chúng ta hãy nhìn
vào từng điều này một:
Creation: On Sabbath, the Jews just remembered how God
created this world and how He created human beings. But, there is no point in
just repeating the same thing every week. You need to delve deep into it. It
means, you meditate on how God created each thing and beings out of His love.
And think of what went wrong. Then we will realise that we betrayed the love of
God and disobeyed God’s commandment. That is what Adam and Eve did. In other
words, we are not just remembering the past, but we look forward to the future.
This is the way we should read the Bible everyday. If we just read the Bible,
it is the same thing reading again and again. You will eventually get bored.
But, if you meditate on what you read, every time you read, you will get newer
revelation from what you read. That will lead you forward in your life.
Sự sáng tạo: Vào ngày Sa bát, Người Do Thái tưởng nhớ Chúa đã tạo
dựng thế giới này như thế nào và Ngài đã tạo dựng nên con người như thế nào. Nhưng
sẽ chẳng có ích gì nếu như cứ lặp đi lặp lại một điều như thế hàng tuần. Bạn
cần phải đào sâu vào nó. Có nghĩa rằng, bạn suy ngẫm về việc Chúa đã tạo ra mỗi
thứ và mọi vật hiện hữu trên thế gian bằng tình yêu của Ngài như thế nào. Và
hãy nghĩ xem điều gì đã đi trệch khỏi quỹ đạo. Sau đó chúng ta nhận ra rằng
chúng ta đã phản bội tình yêu của Chúa và không tuân theo những điều răn của
Ngài. Đây là những gì Adam và Eva đã làm. Nói cách khác chúng ta không chỉ nhớ
về quá khứ mà còn cần nhìn về tương lai nữa. Đây là cách chúng ta đọc Kinh
Thánh mỗi ngày. Nếu chúng ta chỉ đọc Kinh Thánh, đó là việc cứ đọc đi đọc lại.
Bạn sẽ cảm thấy chán. Nhưng nếu bạn suy ngẫm về những điều bạn đọc, mỗi lần bạn
đọc bạn sẽ lại có những sự hiểu biết mới mẻ hơn về những điều bạn đọc. Điều đó
sẽ dẫn dắt bạn tiến lên trong cuộc sống.
Looking forwards to the future means thinking of how we can get
out of our sin. This is what King David prayed as we read in Psalm 51: 7-10
(please read). Here we see that King David is praying to make him a new
creation. Psalm 51 is King David’s confession of his sin. In the
Orthodox church, our Sabbath evening prayer starts by reciting Psalm 51 immediately
after the Kauma (prayer). It is meant to confess our sins and seek deliverance
so that we may be made a new creation for the Lord and by the Lord.
Việc nhìn tiến lên tới tương lai nghĩa rằng hãy nghĩ về việc làm
thế nào bạn có thể thoát ra khỏi tội lỗi. Đây là điều Vua David đã cầu nguyện
như chúng ta đọc được trong Thi Thiên 51:7-10 Xin lấy chum bài hương tẩy sạch
tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch; Cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên
trắng hơn tuyết. Chúa sẽ khiến con nghe tiếng vui vẻ mừng rỡ để các xương cốt
mà Ngài đã bẻ gãy được hoan lạc. Xin Chúa ngoảnh mặt khỏi các tội lỗi con và
bôi xóa mọi gian ác của con. Đức Chúa Trời ơi, xin dựng nên trong con một lòng
trong sạch và làm mới lại trong con một tâm linh ngay thẳng. Ở đây chúng ta
thấy Vua David đã cầu nguyện xin Chúa cho mình trở thành một sinh vật mới. Thi
Thiên 51 là lời thú tội của Vua David về tội lỗi mình. Trong nhà thờ Chính
Thống Giáo, bài cầu nguyện buổi tối của Ngày Sa bát bắt đầu bằng Thi Thiên 51
ngay sau bài Kinh mở đầu (Kauma). Điều này có ý nghĩa là để xưng tội lỗi và tìm
kiếm sự giải cứu để chúng ta có thể được làm mới bởi Chúa và cho Chúa.
Deliverance: Looking up to the future means one is desperate
to be delivered from the bondage of Satan. In the same way as the people of God
were in the spiritual bondage of Satan, they were also in physical bondage in
Egypt. The Jews lived as slaves in Egypt for 400 years. When the people could
not bear the slavery anymore, they started crying to the Lord as we read in Exodus
2:23-25 After a long time the king of Egypt died. The Israelites groaned under
their slavery, and cried out. Out of the slavery their cry for help rose up to
God. God heard their groaning, and God remembered His covenant with Abraham,
Isaac, and Jacob. God looked upon the Israelites, and God took notice of
them.
Sự giải cứu: Nhìn về tương lai nghĩa là một người mong ngóng được
giải cứu khỏi xiềng xích của quỷ Satan. Tương tự như con cái Chúa ở trong xiềng
xích về tâm linh của quỷ, họ cũng ở xiềng xích thể xác ở Ai Cập. Người Do Thái
đã sống như là nô lệ ở Ai Cập trong suốt 400 năm. Khi người ta không thể chịu
được sự nô dịch nữa, họ bắt đầu kêu cầu Chúa như chúng ta đọc trong Exodus
2:23-25, Sau một thời gian dài, vua Ai Cập qua đời. Dân Ysarel than thở, kêu
van dưới ách nô lệ, tiếng ca thán của họ thấu đến Đức Chúa Trời. Ngài nghe
tiếng than thở của họ và nhớ lại giao ước đã kết lập với Áp ra ham, Y sác, và
Gia cốp. Đức Chúa Trời đoái đến dân Isarel và thấu hiểu cảnh ngộ của họ.
As we see here, it took 400 years for the Israelites to realise
the burden of slavery. Only then, they cried out to the Lord. This is the same
situation with many people around us. They prefer to live with the burden of
mental sickness and physical ailments and do not want to repent their sins and
come to the Lord. When everything is lost and life is completely destroyed,
they try to come back. Isn’t it better to come to the Lord as soon as we
can?
Như chúng ta thấy ở đây, người Isarel đã mất 400 năm để nhận ra
gánh nặng của ách nô lệ. Chỉ khi đó họ mới kêu cầu đến Chúa. Đây cũng là cảnh
ngộ của nhiều người quanh chúng ta. Họ thích sống với gánh nặng về tâm trí và
thể xác và không muốn sám hối và đến với Chúa. Khi mọi thứ mất đi và cuộc đời
bị phá hủy hoàn toàn, họ cố gắng trở lại. Thế thì chẳng phải tốt hơn là nên trở
về cùng Chúa càng sớm càng tốt hay sao?
Anyway, as we read later in Exodus 3:7-8 (please read), God
decided to deliver the people from slavery. He appointed Moses to lead them out
of Egypt to the promised land, Canaan. This is the second thing that the
Jewish people remembered during the Sabbath. It was how God delivered them from
slavery. But, the most important thing is, though they were physically
delivered from slavery, they were still spiritually slaves to Satan. They were
not spiritually delivered. As we read throughout the Old Testament, the people
continued in sin on the course of their journey to the promised land, and even
after reaching Canaan and were settled down.
Chúng ta đọc trong Exodus 3:7-8, Đức Giê Hô Va phán: Ta đã thấy rõ
nỗi khốn khổ của dân Ta tại Ai Cập và đã nghe thấu tiếng họ kêu than vì các đốc
công Phải Ta biết được nỗi đau đớn của họ. Ta ngự xuống để giải dân nầy khỏi
tay người Ai Cập, đem họ ra khỏi xứ ấy, đưa đến một vùng đất tốt đẹp và rộng
rãi, đượm sữa và mật, tức là nơi ở của dân Canaan, dân Hê tít, dân A mô rít,
dân Phê rê sít, dân Hê vít, và dân Giê bu sít. Chúa đã quyết định giải cứu dân
Ngài khỏi ách nô lệ. Ngài chỉ định Môi Se dẫn dắt họ ra khỏi Ai Cập tới miền
đất hứa Canaan. Đây là điều thứ hai mà người Do Thái nhớ trong suốt ngày Sa
bát. Đây là cách Chúa giải cứu họ khỏi ách nô lệ. Nhưng điều quan trọng nhất là
mặc dù họ được giải cứu thân xác nô lệ, họ vẫn cứ là nô lệ về tinh thần của
quỷ. Họ chưa được giải cứu về tinh thần. Như chúng ta đọc được xuyên suốt Cựu
Ước, con người tiếp tục sống trong tội lỗi trong suốt hành trình của họ đến
miền đất hứa và thậm chí ngay cả khi xác lập bờ cõi ở đó.
The superficial remembrance of deliverance was not the essence of
the Sabbath. Instead, it is how one responds to deliverance that is important. Psalm
116:1-2 I love the Lord, because He has heard my voice and my supplications.
Because He inclined His ear to me, therefore, I will call on Him as long as I
live. As evident from these verses, when God hears our cries and answers
our prayers, we should be grateful to Him. Secondly, we do not stop calling on
Him as soon as we get physically delivered, but we should call even more, so
that our spirits are also delivered. Remember, I mentioned the difference
between getting healed and getting well, in the last class.
Sự tưởng nhớ về sự giải cứu mang tính chất bề ngoài không phải là
bản chất của ngày Sa bát. Thay vào đó, nó là cách một người có sự suy ngẫm với
sự giải cứu là điều quan trọng. Thi Thiên 116:1-2 Tôi yêu mến Đức Giê Hô Va Vì
Ngài nghe tiếng tôi và lời nài xin của tôi. Tôi sẽ cầu khẩn Ngài trọn đời tôi.
Bởi vì Ngài có nghiêng tai qua tôi. Như những câu này nói, khi Chúa lắng nghe
tiếng kêu cầu của chúng ta và trả lời cầu nguyện của chúng ta, chúng cần phải
biết ơn Ngài. Thứ hai là chúng ta không ngừng kêu cầu Ngài ngay cả khi chúng ta
được giải cứu về thể xác, mà chúng ta cần phải kêu cầu nhiều hơn nữa để mà tâm
linh chúng ta được giải cứu. Nhớ rằng, Cha đã dạy về sự khác biệt giữa được
chữa lành và được lành hoàn toàn trong buổi trước.
The people of God and their leaders stopped at their physical
deliverance. They did not continue to get their spiritual deliverance. Unless
we are spiritually delivered we cannot live with the Lord. Hence King David
prayed as we read in Psalm 22:19-20 But you, O Lord, do not be far away! O
my help, come quickly to my aid! Deliver my soul from the sword, my life from
the power of the dog. King David earnestly prayed that though I am
physically well, rich, and powerful as a King, O Lord please help me to save my
spirit from the devil. Hanging on the cross, this was the Psalm that Jesus
prayed on behalf of mankind.
Con cái Chúa và những người lãnh đạo của họ đã dừng lại ở sự giải
cứu về thể xác. Họ không tiếp tục để có được sự giải cứu về tâm linh. Nếu như
chúng ta không được giải cứu về tâm linh, chúng ta không thể ở cùng Chúa được.
Do đó, Vua David đã cầu nguyện trong Thi Thiên 22:19-20, Đức Giê Hô Va ơi xin
đừng cách xa con! Lạy Chúa quyền năng của con, xin mau mau đến giúp đỡ con. Xin
giải cứu linh hồn con khỏi gươm và mạng sống con khỏi loài chó. Vua David đã
khẩn thiết khẩn cầu mặc dù con khỏe về thể xác, giàu có và mạnh mẽ như một Nhà
Vua, xin Chúa hãy giải cứu tâm linh con khỏi quỷ dữ. Treo mình trên cây thập
tự, đây cũng là Thi Thiên là Chúa Giê Su đã cầu nguyện thay cho con người.
Jesus hung on the cross to deliver us from the slavery of the
devil. When we remember the suffering and death of Jesus on the cross, we
actually look forward to the deliverance that we received by his suffering and
death. It means, we are not stuck just by simply remembering the suffering and
death of Jesus, but we look forward to the outcome of his suffering and death.
Jesus did not remain buried in the grave. He defeated death and rose up on the
third day. Thus, for us, His resurrection is the most important event. Hence,
we moved the Sabbath to the day of resurrection because God gave us rest from
fighting the devil by the resurrection of Jesus on the third day which is
Sunday.
Chúa Giê Su đã treo mình trên Cây Thập Tự để giải cứu chúng ta
khỏi ách nô lệ của quỷ. Khi chúng ta tưởng nhớ sự hy sinh và sự chết của Chúa
Giê Su trên cây thập tự, chúng ta thật ra đang trông mong đến sự giải cứu mà
chúng ta nhận được qua sự hy sinh và sự chết của Ngài. Có nghĩa rằng chúng ta
không kẹt ở đó chỉ bằng cách nhớ đến sự đau thương và sự chết của Chúa Giê Su
mà chúng ta trông chờ vào kết quả của điều đó. Chúa đã không chỉ bị chôn vùi
trong huyệt mộ. Ngài đã đánh bại sự chết và trỗi dậy vào ngày thứ ba. Do đó,
với chúng ta, sự phục sinh của Chúa là sự kiện quan trọng nhất. Do đó, chúng ta
chuyển ngày Sa bát sang ngày phục sinh bởi vì Chúa cho chúng ta được an nghỉ
khỏi đánh nhau với quỷ bởi sự phục sinh của Chúa vào ngày thứ ba đó là ngày Chủ
nhật.
The Pharisees and their followers only looked backwards. They just
remembered and talked about the deliverance from Egypt on every Sabbath. They
failed to look forward. Philippians 3:13-14 Beloved, I do not consider that
I have made it my own; but this one thing I do; forgetting what lies behind and
straining forward to what lies ahead. I press on toward the goal for the prize
of the heavenly call of God in Christ Jesus. As these verses suggest, we
should never get drowned in the past. Instead, we should always aim to achieve
the goal to receive the heavenly call. That call is to live eternally
with Christ Jesus.
Người Pha ri si và những người theo họ chỉ nhìn về đằng sau. Họ
chỉ nhớ và nói về sự giải cứu khỏi Ai cập trong mọi ngày Sa bát. Nhưng họ không
nhìn về phía trước. Philipians 3:13-14, Thưa anh em, tôi không nghĩ rằng mình
đã đoạt được rồi, nhưng tôi cứ làm một điều: đó là quên đi những gì ở đằng sau,
vươn tới những gì ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà theo đuổi để đoạt giải về
sự kêu gọi trên cao của Đức Chúa Trời trong Đấng Christ Giê Su. Và như câu này
đã nói, chúng ta không bao giờ chìm đắm trong quá khứ. Thay vào đó, chúng ta
nên luôn luôn nhắm tới mục đích để nhận được sự kêu gọi trên cao. Sự kêu gọi đó
là sự sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su.
Eternity: The third and most important essence of Sabbath
is living eternally with Jesus Christ. The Jews looked forward to the age of
Messiah on each Sabbath. But, since they were stuck in the past, they were
unable to see or realise that the Messiah had come. Hence Jesus quoted the
prophecy of Jeremiah as we read in Matthew 13:13 The reason I speak to them
in parables is that ‘seeing they do not perceive, and hearing they do not
listen, nor do they understand’.
Sự vĩnh hằng: Điều thứ ba và là điều quan trọng nhất của Ngài Sa
bát là sống vĩnh hằng cùng với Chúa Giê Su. Người Do Thái đã nhìn vào sự đến
của đấng Messiah vào ngày Sa bát. Nhưng vì họ bị mắc kẹt trong quá khứ, họ
không thể nhìn thấy hay nhận ra rằng Đấng Messiah đã đến. Do đó, Chúa Giê Su đã
đọc lại những lời tiên tri của Giê Rê Mi như chúng ta đọc được trong Matthew
13:13 rằng: Bởi vậy, Ta dùng ẩn dụ để nói với họ, vì họ xem mà không thấy, lắng
tai mà không nghe không hiểu.
We had many students in this Bible class earlier. Unfortunately,
even after seeing the Bible and hearing the messages, they never understood a
word from the classes. Eventually, they all left. One student was completely
healed of cancer. But still, she is not willing to come to Jesus. The reason is
they are unable to see where they will be after they complete their life on
this earth.
Chúng ta có nhiều học sinh từng học ở lớp Kinh Thánh này. Không
này, sau khi đọc Kinh Thánh và nghe được những lời này, họ cũng không hiểu gì.
Và sau đó họ không tham gia nữa. Một học sinh từng khỏi hẳn bệnh ung thư. Nhưng
cô ấy vẫn không sẵn sàng để đến với Chúa/ Lý do là vì họ không thể nhìn thấy họ
sẽ ở đâu sau khi họ kết thúc cuộc đời họ trên thế gian này.
Every Sabbath is a day of renewal and a day of advancing ourselves
to our next life with Jesus which is actually the eternal life. Psalm 90:10
The days of our life are seventy years, or perhaps eighty, if we are strong;
even then their span is only toil and trouble; they are soon gone, and we fly
away. This prayer of Moses tells us that no matter how hard we try to
indulge in this world, we will not last longer than 70 or 80 years. The coffee
shop that you spend time in will forget you. The people whom you trusted and
loved will forget you. The places where you worked will forget you. The saddest
thing is that all the money that you earned by working so hard will also forget
you. Not even a single penny is going to come with you after your death. Hence
King David said in Psalm 69:8 I have become a stranger to my kindred, an
alien to my mother’s children. As this verse suggests, one day we will
become strangers to everyone and everything in this world.
Mỗi ngày Sa bát là một ngày của sự khởi đầu và là một ngày chúng
ta đến gần hơn với cuộc sống sau này với Chúa Giê Su mà thực ra đó mới là cuộc
sống vĩnh hằng. Thi Thiên 90:10 Tuổi tác chúng con đến được bảy mươi, còn nếu
mạnh khỏe thì đến tám mươi. Nhưng sự kiêu căng của nó chỉ rước lấy lao khổ và
buồn thảm, vì đời người chóng qua, rồi chúng con bay mất đi. Lời cầu nguyện này
là của Môi Se, cho thấy rằng cho dù chúng ta có cố gắng đắm chìm hưởng thụ đến
mất ở thế gian này thì cuộc đời chúng ta cũng chỉ có 70 hoặc 80 là cùng. Quán
café mà bạn hay lui tới cũng sẽ quên bạn. Những người bạn tin tưởng và yêu mến
cũng sẽ quên bạn. Những nơi mà bạn làm cũng sẽ quên bạn. Điều đáng buồn nhất là
những đồng tiền bạn kiếm được làm lụng vất vả cũng sẽ quên bạn. Không một xu
nào bạn có thể đem theo khi chết. Do đó Vua David nói trong Thi Thiên 69:8, Con
trở nên một kẻ xa lạ đối với anh em con, Một người ngoại quốc đối với các con
trai của mẹ con. Một ngày nào đó chúng ta cũng sẽ trở nên những người xa lạ với
mọi người và mọi thứ ở thế gian này.
But, there is someone who will never forget us. It is our Lord God
Almighty. As quoted in one of our earlier classes, Isaiah 49:15 says Can
a woman forget her nursing child, or show compassion for the child of her womb?
Even these may forget, yet I will not forget you. This is the promise of
God. And God never turns away from His promises. When we spend time with the
Lord on Sabbath, He prepares us to spend time with Him eternally. And, each
Sabbath, we look forward to it. That is the motivation that guides us each
Sabbath.
Nhưng có một người sẽ không bao giờ quên chúng ta. Đó chính là
Chúa quyền năng. Trong Ê Sai 49:15, Người mẹ có thể nào quên cho con mình bú
hoặc không thương đến con ruột của mình chăng? Dù người mẹ có quên con mình, Ta
vẫn không bao giờ quên con. Đây là lời hứa của Chúa. Và Chúa chẳng bao giờ quay
lưng khỏi những lời hứa của Ngài. Khi chúng ta dành thời gian với Chúa vào ngày
Sa bát. Ngài chuẩn bị chúng ta để có một cuộc sống vĩnh hằng với Ngài. Và mỗi
ngày Sa bát chúng ta hướng tới điều đó. Đó là động lực dẫn dắt chúng ta vào mỗi
ngày Sa bát.
Jesus replied to the Pharisees, man is not made for Sabbath, but Sabbath
is made for man. It means we do not serve the Sabbath but Sabbath serves us a
day to travel through the renewal of God’s creation which is us, our
deliverance from the slavery of Satan, and reach Jesus to live eternally with
Him.
Chúa đã đáp lại người Pha ri si, không phải con người được tạo ra
cho ngày Sa bát mà ngày Sa bát được tạo ra cho con người. Có nghĩa rằng chúng
ta không phục vụ ngày Sa bát mà ngày Sa bát phục vụ chúng ta, một ngày để trải
qua sự làm mới của tạo vật của Chúa đó là chúng ta, chúng ta được giải cứu khỏi
quỷ và vươn tới Chúa để sống mãi mãi với Ngài.
Therefore, as Saint Paul said in 2 Corinthians 7:1 Since we
have these promises, beloved, let us cleanse ourselves from every defilement of
body and of spirit, making holiness perfect in the fear of the Lord. Without
holiness we cannot achieve a life with Jesus. So, let us be clean in body, mind
and spirit through our confessions and prayers.
Do đó, như Thánh Paul nói trong 2 Corinthians 7:1, Vì có những lời
hứa này, chúng ta hãy thanh tẩy chính mình khỏi mọi vết nhơ của thể xác và tâm
linh, cũng hãy làm cho sự thánh hóa được trọn vẹn trong niềm kính sợ Đức Chúa
Trời. Nếu không có sự thánh hóa, chúng ta không thể có được sự sống với Chúa
Giê Su. Vì vậy, chúng ta hãy thanh tẩy thể xác, tâm trí và tâm linh qua sự sám
hối và cầu nguyện.
God bless you. Amen.
No comments:
Post a Comment