Friday, November 12, 2021

Matthew 10:16-25 Hãy khôn ngoan như rắn và đơn sơ như bồ câu

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We covered the instructions given to the disciples in the last class. Tonight, we are going to study more about the instructions Jesus gave to his disciples. Let us read Matthew 10:16-25. 

Chúng ta đã học các hướng dẫn cho các môn đồ trong buổi trước. Tối nay, chúng ta sẽ học nhiều hơn về các hướng dẫn mà Chúa Giê Su hướng dẫn cho các môn đồ. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:16-25.

The previous set of instructions were on the dos and donots. So they are our actions. Actions can be seen by everyone. For example, if you stand or sit, everyone can see that. But, the instructions given in this section are internal and no one can see it. For example, no one can see your thoughts or read your mind. If you speak your mind, then only others will know what you are thinking. 

Các hướng dẫn trước là về những điều nên làm và những điều không nên làm. Vì thế đó là những điều chúng ta nên làm. Hành động có thể nhìn thấy bởi tất cả mọi người. Ví dụ, nếu bạn đứng hay ngồi, mọi người có thể nhìn thấy điều đó. Nhưng, hướng dẫn được đưa ra trong phần này nằm ở bên trong và không ai có thể nhìn thấy được. Ví dụ, không ai có thể nhìn thấy suy nghĩ của bạn hoặc đọc tâm trí của bạn. Nếu bạn đọc tâm trí bạn, mọi người sẽ biết bạn đang nghĩ gì.

This set of instructions is about personality development. How should the personality of a follower of Jesus be is the lesson that we learn tonight from this section. In order to develop the personality of the disciples, Jesus uses the symbol of four animals. They are the sheep, wolves, dove and serpent. Each of these has got a particular meaning which is linked to its nature. Let us briefly look at each of these animals:

Kiểu suy nghĩ này là về sự phát triển tính cách. Tính cách của một người theo Chúa là như thế nào là bài học chúng ta sẽ học tối nay từ phần này. Để phát triển tính cách của các môn đồ, Chúa Giê Su đã sử dụng hình ảnh của bốn con vật. Đó là cừu, cáo, bồ câu và rắn. Mỗi con này đều có một ý nghĩa riêng gắn liền với bản chất của chúng. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu:

Sheep or lamb in the Bible represents purity. When John the Baptist saw Jesus, he witnessed Here is the lamb of God who takes away the sin of the world (John 1:29). 

Cừu hay Chiên trong Kinh Thánh thể hiện sự trong sáng. Khi John The Baptist nhìn thấy Chúa Giê Su, ông đã làm chứng rằng “Kìa Chiên con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi.” (John 1:29)

Wolf, fox and jackal represent craftiness and cunningness in the Bible. For example, in Luke 13:32 Jesus calls King Herod a fox because he was an evil king. We studied in Matthew 7:15 where Jesus said, Beware of false prophets, who come to you in sheep’s clothing but inwardly are ravenous wolves. Also in Ezekiel 22:27 we read Its officials within it are like wolves tearing the prey, shedding blood, destroying lives to get dishonest gain.

Sói hay cáo thể hiện sự mưu mô và xảo quyệt trong Kinh Thánh. Ví dụ trong Luke 13:32, Chúa gọi Vua Herod là một con cáo bởi vì ông là một vị vua gian ác. Chúng ta đọc trong Matthew 7:15 Chúa Giê Su nói rằng, Hãy đề phòng bọn tiên tri giả, là những đội lốt chiên đến với các con, nhưng bên trong là muông sói hay cắn xé. Và trong Ezekiel 22:27 Các nhà lãnh đạo ở giữa nó như muông sói xé mồi, chúng chỉ lo làm đổ máu, làm mất linh hồn để được lợi bất nghĩa.

Serpents, like wolves, are also crafty and cunning. We know how the serpent cheated Eve in the Garden of Eden as we read in Genesis 3:1. As we read in this verse, the serpent was shrewd more than any other animals. 

Rắn cũng như sói cũng được biết đến là một loài vật rất xảo trá và nham hiểm. Chúng ta biết rằng con rắn đã lừa Eve trong Vườn Thượng Uyển như chúng ta đã đọc trong Genesis 3:1. Như chúng ta đọc trong câu này, con rắn là loài xảo quyệt hơn bất kỳ loài vật nào khác.

Dove in the Bible also represents purity, innocence and holiness. We studied in Matthew 3:16-17 that immediately after the baptism of Jesus, the Holy Spirit descended in the form of a dove and rested on Him. 

Bồ câu trong Kinh Thánh tượng trưng cho sự thuần khiết, trong sáng và thánh sạch. Chúng ta đọc trong Matthew 3:16-17 rằng ngay sau khi Chúa Giê Su được rửa tội, Thánh Linh đã ngự xuống dưới dạng một con bồ câu và ngự lên Ngài.

So we see in this section that Jesus is using these familiar symbols to help the disciples build a new personality. A question that people ask is, can I continue my same old lifestyle and also follow Jesus? The answer is a big no. We have referred to 2 Corinthians 5:17 in many classes- If anyone is in Christ, he is a new creation, everything old has passed away; see everything has become new. In fact, we have people who get baptised, but do not change. Such people do not know the meaning of baptism. Baptism is not a ritual to become a member of the church. Do not think that the Father at the church baptised me so I am clean. 1 Peter 3:21 And baptism, which this prefigured, now saves you- not as a removal of dirt from the body, but as an appeal to God for a good conscience through the resurrection of Jesus Christ. This verse clearly tells us that mere washing will not change a person. The change should happen inside us. The change inside means change of our personality. Ezekiel 36:26 A new heart I will give you, and a new spirit I will put within you; and I will remove from your body the heart of stone and give you a heart of flesh. As this verse tells us, change in personality means change of our heart and change of our spirit. 

Vì vậy chúng ta đọc trong đoạn này rằng Chúa Giê Su sử dụng những hình ảnh quen thuộc để giúp các môn đồ xây dựng một tính cách mới. Một câu hỏi mà mọi người hỏi là, tôi có thể vừa theo Chúa vừa giữ những điều cũ không? Câu trả lời là hoàn toàn không được. Chúng ta đã đọc 2 Corinthians 5:17 rất nhiều lần rồi – Vậy nếu ai ở trong Đấng Christ, người ấy là tạo vật mới, những gì cũ đã qua đi – nầy mọi sự đều trở nên mới. Thực tế, chúng ta có những người đã được rửa tội, nhưng không thay đổi. Những người đó không hiểu ý nghĩa của việc rửa tội. Sự rửa tội không phải là một nghi lễ để trở thành thành viên của nhà thờ. Đừng nghĩ rằng Cha ở nhà thờ rửa tội tôi vì thế tôi đã được sạch. 1 Peter 3:21 Báp tiêm ngày nay là biểu tượng của điều đó để cứu an hem;báp tiêm không phải là sự cất bỏ ô uế khỏi thân thể mà là lời nguyện ước với Đức Chúa Trời từ một lương tâm trong sáng, qua sự sống lại của Đức Chúa Giê Su Christ. Câu này chỉ rõ rằng với chúng ta rằng nếu chỉ là để rửa cho sạch thì không thể thay đổi được một con người. Sự thay đổi diễn ra ở bên trong chúng ta. Sự thay đổi bên trong nghĩa là sự thay đổi tính cách. Ezekiel 36:26 Ta sẽ ban lòng mới cho các ngươi và đặt tâm linh mới trong các ngươi. Ta sẽ cất lòng bằng đá khỏi xác thịt các ngươi và ban cho các ngươi lòng bằng thịt. Như câu này chỉ cho chúng ta, thay đổi tính cách có nghĩa là thay đổi tấm lòng và thay đổi về tâm linh.

Unless our personality changes, there is no real meaning for baptism. This is the reason why in our (Orthodox) church, we insist that people study the Word of God first, repent their sins, and then get baptised. I can baptise you anytime, but that is not going to benefit you unless your personality changes. Therefore, study the Word of God first and prepare for baptism. 

Trừ khi tính cách của chúng ta thay đổi, sự rửa tội sẽ không có ý nghĩa gì cả. Đây là lý do tại sao ở nhà thờ Chính Thống Giáo, chúng ta nhất khoát rằng mọi người cần phải học Lời của Chúa trước, phải sám hối tội lỗi mình rồi sau đó mới rửa tội. Cha có thể rửa tội cho các bạn bất kỳ lúc nào, nhưng điều đó sẽ không có ích lợi gì cho bạn nếu tính cách của bạn không thay đổi. Do đó, hãy học Lời của Chúa trước đã rồi chuẩn bị cho lễ rửa tội.

Jesus gave two simple but profound tips to change our personality: 

Chúa đã đưa ra hai điều đơn giản nhưng rất sâu sắc để thay đổi tính cách chúng ta:

1. Never forget once that you are living in a world that is full of demonic things. A true follower of Jesus is like a sheep living in the midst of wolves. We know that the best food that wolves like is the meat of sheep. It means if the wolves find a sheep anywhere they will immediately hunt it down and eat. 

1. Đừng bao giờ quên rằng bạn đang sống trong một thế giới tràn đầy ma quỷ. Một người theo Chúa thực sự giống như con cừu sống giữa muông sói. Chúng ta biết rằng cáo thích nhất là thịt cừu. Có nghĩa rằng nếu con cáo mà nhìn thấy cừu ở đâu chúng sẽ ngay lập tức săn bắt và làm thịt.

We are the sheep and the devil is the wolf. The devil uses everything and everyone around to destroy us. For example, the devil uses the internet, gambling, alcohol, greedy and vicious people to trouble us and destroy us. So what is going to be the result? In the same way as sheep are killed and eaten by the wolves, if you are not protected by the Lord, you will also be destroyed by the devil. It means, if you are not covered by the blood of Jesus, you will easily fall into the trap and get destroyed. Jesus repeated this reminder in John 16:33b In the world you face persecution. But take courage; I have conquered the world. 

Chúng ta là cừu còn quỷ là cáo. Quỷ sử dụng mọi thứ và mọi người xung quanh để hủy diệt chúng ta. Ví dụ, quỷ sử dụng internet, bài bạc, rượu, sự tham lam và những người xấu để gây hại và hủy diệt chúng ta. Vậy kết quả của nó là gì? Tương tự như cừu bị làm thịt và bị con cáo ăn, nếu bạn không được Chúa bảo vệ, bạn cũng sẽ bị quỷ làm thịt. Có nghĩa là, nếu bạn không được bảo bọc bởi máu của Chúa Giê Su, bạn sẽ rất dễ bị rơi vào cạm bẫy và bị hủy diệt. Chúa Giê Su đã lặp lại điều này trong John 16:33b, Các con sẽ có hoạn nạn trong thế gian, nhưng hãy vững lòng. Ta đã thắng thế gian rồi.

2. Be wise as serpents and innocent as doves. The most unique thing about Jesus is He never asks us to do something that is not possible. Jesus passed through all the difficulties that a normal human being would pass through. Hebrews 4:15 For we do not have a high priest who is unable to sympathise with our weaknesses, but we have one who in every respect has been tested as we are, yet without sin. It means, our high priest who is Jesus Christ clearly knows that we are living in a demonic world. 

2. Hãy khôn ngoan như rắn và đơn sơ như bồ câu. Điều độc đáo về Chúa Giê Su đó là Ngài không bắt chúng ta làm những thứ mà chúng ta không làm được. Chúa cũng đã trải qua tất cả những khó khăn mà một người đã trải qua. Hebrews 4:15 Vì chúng ta không có một thầy tế lễ thượng phẩm chẳng có thể cảm thông sự yếu đuối chúng ta, nhưng có một thầy tế lễ bị cám dỗ đủ mọi cách như chúng ta song chẳng phạm tội. Có nghĩa rằng, Chúa chính là thầy tế lễ thượng phẩm người biết rõ chúng ta đang trong một thế giới đầy ma quỷ.

During His life in this world, Jesus was attacked by the devil each and every moment. So He knows how it is to live in this world. But, Jesus never succumbed to demonic attacks. Instead, He defeated the devil everytime he attacked Him. Jesus defeated the devil by being wise as a serpent and innocent as a dove. The serpent used its wisdom to cheat man. But, Jesus used His wisdom to defeat the devil and save us. For example, we have studied about the temptation of Jesus in Matthew 4. There we studied how Jesus defeated each of the temptations from Satan. 

Trong suốt cuộc đời, Chúa Giê Su bị quỷ tấn công mọi lúc mọi nơi. Vì vậy, Ngài biết làm sao để tồn tại được trong thế gian này. Nhưng Chúa Giê Su không bao giờ thoái lui trước sự tấn công của quỷ. Thay vào đó, Ngài đánh bại quỷ bất kể khi nào chúng tấn công. Chúa đánh bại quỷ bằng cách trở nên khôn ngoan như con rắn và đơn sơ như bồ câu. Con rắn sử dụng sự khôn ngoan để làm hại người. Nhưng Chúa Giê Su đã sử dụng sự khôn ngoan để đánh bại quỷ và cứu chúng ta. Ví dụ chúng ta đã học về những cám dỗ của Quỷ đối với Chúa trong Matthew 4. Ở đó, chúng ta đã học rằng Chúa đã đánh bại mỗi cám dỗ của quỷ Satan như thế nào.

People often use dubious means to cheat others. Such people think they are wise and smart. But using wisdom to cheat others is devilish. We should use our wisdom to defeat the devil and honour God. Let us look at a couple of examples from the Old Testament:

Người ta thường dùng những phương cách mê hoặc để lừa người khác. Những người đó thường nghĩ họ khôn ngoan và thông minh. Nhưng dùng sự khôn ngoan để lừa người khác là ma quỷ. Chúng ta chỉ nên sử dụng sự khôn ngoan của chúng ta để đánh bại quỷ và thờ phượng Chúa. Chúng ta hãy nhìn vào ví dụ từ Cựu Ước:

1. In the book of Ruth, we read that she was a poor widow. After the death of her husband, she followed her mother in law and came to live with her. So she was a foreigner in her husband’s country. She did not have a job, and she did not have any money. As a foreigner, she was only allowed to pick the leftovers from the harvesting farms. But she was content with whatever she collected. Seeing her innocence, and being a poor widow, Boaz, the owner of the farm, gave her a little bit more grain than she picked. 

1. Trong sách về Ruth, chúng ta đọc rằng cô này một góa phụ nghèo. Sau cái chết của chồng, cô đi theo mẹ chồng và sống với bà. Vì vậy cô là người ngoại quốc ở quê chồng. Cô không có việc làm và không có tiền. Là người ngoại quốc cô được thuê để đi nhặt nhạnh những thứ còn sót lại của vụ mùa thu hoạch. Nhưng cô vẫn cứ hài lòng với những gì thu lượm được. Nhìn thấy sự chân thành của cô và là một góa phụ nghèo, Boaz chủ của nông trại đã cho cô thêm một ít lúa hơn số mà bà thu được.

One day, her mother in law advised her to use her wisdom to do something as we read in Ruth 3:1-5. Of course it is inappropriate to go and lie down with a stranger. But if we read carefully, we see that Ruth lied down at the feet of Boaz. Lying down at the feet of a man in that culture demonstrates humility. It means she is not claiming or demanding anything but she is at his mercy. When Boaz woke up, he noticed a woman lying at his feet. Let us read Ruth 4:9-11. As evident from Boaz’ statement, Ruth was wise and at the same time innocent. She never complained or grumbled saying oh I am poor, I do not have any money, and so on. She just did whatever she could and earned. Though she earned very little, she was happy and satisfied with her income. A person who is satisfied and happy with whatever s/he has shows her strong personality. We should practice this in our lives.

Một ngày, mẹ chồng bà khuyên cô sử dụng sự khôn ngoan của cô để làm một việc như chúng ta đọc trong Ruth 3:1-5. Tất nhiên sẽ không phù hợp để đi và nằm với một người lạ. Nhưng nếu chúng ta đọc kỹ, chúng ta thấy rằng Ruth đã nằm ở dưới chân của Boaz. Nằm dưới chân của một người trong văn hóa đó thể hiện sự hạ mình. Có nghĩa là cô không đòi hỏi điều gì và chỉ xin sự thương xót thôi. Khi Boaz thức dậy, nhận thấy có một người phụ nữ nằm dưới chân. Chúng ta hãy đọc tiếp Ruth 4:9-11. Và có thể thấy rõ về sự nhận định của Boaz, Ruth vừa thông minh cũng rất đơn sơ. Cô không bao giờ phàn nàn hay cằn nhằn rằng ôi tôi thật nghèo, tôi không có tiền, vv…. Cô đã chỉ làm những gì mình có thể và kiếm được. Mặc dù kiếm được rất ít, cô vẫn hạnh phúc và vui vẻ với thu nhập của mình. Một người luôn hài lòng và vui vẻ với những gì mình có thể hiện cá tính mạnh mẽ. Chúng ta nên thực hành điều này trong cuộc sống.

Later in chapter 4  we read that Boaz consulted the elders of his town and everyone supported him to marry Ruth. We need to know the importance of Ruth, and who she was. Let us read Ruth 4:18-22. As we read here, King David was the great grandson of Boaz. And, Jesus was born in the lineage of King David. Thus, Naomi became the great grandmother of Jesus Christ. 

Sau đó trong chương 4, chúng ta đọc rằng Boaz đã tham vấn các bậc trưởng lão trong làng và mọi người đều ủng hộ ông cưới Ruth. Chúng ta cần phải biết tầm quan trọng của Ruth và bà là ai. Chúng ta hãy đọc Ruth 4:18-22. Vua David là cháu nối dỗi của Boaz. Và Chúa Giê Su được sinh ra từ dòng dõi của Vua David. Do đó Naomi đã trở thành bà cố tổ của Chúa Giê Su.

See how a poor widow was blessed to become the great grandmother of Jesus Chirst. As a young widow, she must have undergone many temptations. Many men must have troubled her and tried to abuse her. But as Boaz said, she never committed any sin. She used her wisdom and innocence to stay pure and blameless. And the reward was eternal bliss. 

Hãy nhìn xem một góa phụ nghèo đã được ban phước để trở thành bà cố tổ của Chúa Giê Su. Là một góa phụ nghèo, bà hẳn đã phải trải qua nhiều cám dỗ. Nhiều đàn ông hẳn đã quấy rầy bà và tìm cách qua lại với bà. Nhưng như Boaz nói, bà chưa bao giờ phạm phải tội gì. Bà đã sử dụng sự khôn ngoan và sự ngây thơ để trở nên trong sáng và thánh khiết. Và phần thưởng là phước lành đời đời.

The second example is of Jacob. Jacob was living in his wife’s house. His father in law, Laban, was a dubious person. When Jacob decided to return to his homeland, he informed Laban about it. Laban asked, “what shall I give you?'' Let us read Genesis 30: 31-43. We often hear about and see, when a servant or a maid leave their master’s or mistress’ house, they will steal as much as they can and leave. Sometimes, even relatives also do such things. But Jacob did not steal anything from his father in law’s house. He just used his God given gift of wisdom. He remained innocent but at the same time used his wisdom. As we read in the last verse that we read, Jacob became exceedingly rich. 

Ví dụ thứ hai là Jacob. Jacob sống ở nhà của vợ mình. Bố vợ của Jacob là Laban là một kẻ xảo trá. Khi Jacob quyết định trở về quê, Jacob đã thông báo cho La Ban biết. Laban hỏi, “Cha nên cho con cái gì bây giờ?” Chúng ta hãy đọc Genesis 30:31-43. Chúng ta vẫn thường nghe nói thông lệ khi mà đầy tớ rời nhà chủ, họ thường hay ăn trộm càng nhiều càng tốt và rời đi. Thi thoảng, ngay cả họ hàng cũng làm những điều đó. Nhưng Jacob không hề ăn trộm gì từ nhà bố vợ cả. Ông chỉ sử dụng sự khôn ngoan mà Chúa ban cho ông mà thôi. Ông vẫn giữ sự trong sàng nhưng cùng lúc đó sử dụng sự khôn ngoan mà mình có. Chúng ta đọc trong câu sau, Jacob đã trở nên rất giàu có.

This is the advantage of being innocent and using God given wisdom. When we remain blameless, and use our wisdom in the right manner, no demonic forces will be able to cheat us. Instead, we will be able to use our wisdom and innocence to defeat the devil. So we need to develop a personality which is a combination of wisdom and innocence. Hence, Jesus said, be wise as serpents and innocent as doves.  

Đây là lợi ích của việc trở nên trong sáng và sử dụng sự khôn ngoan mà Chúa ban cho. Khi chúng ta trở nên thánh sạch, không có chỗ chê trách, và sử dụng sự khôn ngoan đúng cách, không có một thế lực ma quỷ nào có thể lừa chúng ta được. Thay vào đó, chúng ta sẽ sử dụng sự khôn ngoan và trong sáng đó để đánh bại ma quỷ. Vì vậy, chúng ta cần phải phát triển một tính cách là sự kết hợp của sự khôn ngoan và sự trong sáng. Do đó, Chúa Giê Su nói, hãy khôn ngoan như rắn và trong sáng như bồ câu.

Jesus had a personality which was a combination of innocence and wisdom. In order to survive the evil things around us, all we need to do is to adopt the same personality that Jesus Christ had. More details about the personality of Jesus is stated in Hebrews 7:26 For it was fitting that we should have such a high priest, holy, blameless, undefiled, separated from sinners, and exalted above the heavens. In the same way, in order to change our personality, we need to aim for holiness first. This was one of the most important instructions that was given to Israel by God as we read in Leviticus 11:44a For I am the Lord your God, sanctify yourselves therefore, and be holy, for I am holy. We should sanctify ourselves by repenting and washing away all our sins to become holy. When you are holy, people will see that your personality has changed. 

Chúa Giê Su có một tính cách đó là sự kết hợp của sự trong sáng và sự khôn ngoan. Để sống sót giữa những điều gian ác ở thế gian này, chúng ta cần phải có được tính cách giống như Chúa. Có những chi tiết về tính cách của Chúa được đề cập đến trong Hebrews 7:26, Thật vậy, Ngài Ngài là thầy tế lễ thượng phẩm mà chúng ta cần đến: thánh khiết, vô tội, không ô uế, biệt riêng khỏi kẻ có tội, được tôn cao hơn các tầng trời. Tương tự để thay đổi tính cách trước hết chúng ta cần phải theo đuổi sự thánh khiết trước. Đây là một hướng dẫn quan trọng được Chúa ban cho dân Israel như chúng ta đọc trong Leviticus 11:44a, Vì Ta là Giê Hô Va – Đức Chúa Trời của các con – hãy biệt mình ra thánh và phải thánh; vì Ta là Thánh. Chúng ta cần phải thanh tẩy bản thân bằng cách sám hối và rửa sạch tất cả mọi tội lỗi để trở nên thánh khiết. Khi bạn thánh khiết, mọi người sẽ nhìn thấy tính cách bạn thay đổi.

In the same way, we also need to be blameless. How can we be blameless? The answer is given in Philippians 2:14-15 Do all things without murmuring and arguing, so that you may be blameless and innocent, children of God without blemish in the midst of a crooked and perverse generation, in which you shine like stars in the world. As these verses suggest, we have to give up quarrelling, grumbling, arguing and fighting. Let us look at a simple example: What is the first thing we talk about when we meet someone? Most of us would say, oh life is very difficult, my job is not good, I do not have enough money and so on. Do we ever say that my Lord has blessed me with a family, I have my parents, children, friends; my Lord has given me good health and so on? We do not say that. Instead, we only talk about all the negative things. As God’s children, we have to stop this. When we stop these things, our personality will change. That is when we will be blameless. When we are blameless, we will also be happy as we read in Psalm 119:1 Happy are those whose way is blameless, who walk in the law of the Lord. 

Tương tự, chúng ta cũng cần phải trở nên không chỗ chê trách được. Làm thế nào chúng ta trở nên như vậy được? Câu trả lời được đưa ra trong Philipians 2:14-15 Hãy làm mọi việc không một tiếng cằn nhằn hay lưỡng lự, để an hem trở nên không chỗ trách được và thánh sạch, là con cái toàn hảo của Đức Chúa Trời giữa một thế hệ xảo quyệt và sa đọa. Như câu này nói, chúng ta cần phải loại bỏ sự cãi vã, cằn nhằn, tranh cãi và tranh luận. Chúng ta hãy nhìn vào ví dụ đơn giản sau đây: điều đầu tiên chúng ta sẽ nói khi chúng ta gặp một ai đó là gì? Hầu hết chúng ta sẽ nói rằng, cuộc sống thật là khó khăn, công việc không tốt, tôi không có đủ tiền, vv,,, Chúng ta không bao giờ nói rằng, Chúa ban phước cho tôi có một gia đình, tôi có bố mẹ, con cái, bạn bè; Chúa cho tôi sức khỏe tốt và vân vân. Chúng ta không nói thế. Thay vào đó, chúng ta chỉ nói những điều tiêu cực. Là con cái Chúa, chúng ta cần phải dừng điều này lại. Khi chúng ta dừng điều này lại, tính cách của chúng ta sẽ thay đổi. Đó là khi chúng ta trở nên không có chỗ trách được. Khi chúng ta không có chỗ trách được, chúng ta sẽ trở nên vui vẻ như trong Thi Thiên 119:1 Phước cho những người trọn vẹn trong đường lối mình, đi trong luật pháp của Đức Giê Hô Va.

Saint Paul appeals in Philippians 2: 5 Let the same mind be in you that was in Christ Jesus. And in Ephesians 5:1 Saint Paul exhorts Therefore, be imitators of God, as beloved children and live in love as Christ loved us and gave Himself up for us, a fragrant offering and sacrifice to God. Until we met Jesus, we had a worldly personality which was mostly demonic. After meeting Jesus, we must now have a changed personality. That personality is one of holiness, pure, and full of love. 

Thánh Paul đã kêu gọi trong Philipians 2:5 Hãy có đồng tâm trí với Đấng Christ. Và trong Ephesians 5:1 Vậy an hem hãy trở nên những người bắt chước Đức Chúa Trời như các con yêu dấu của Ngài. Hãy bước đi trong tình yêu thương như Đấng Christ đã yêu thương chúng ta, xả thân Ngài vì chúng ta như một lễ vật và sinh tế tỏa ngát hương thơm dâng lên Đức Chúa Trời. Cho đến khi chúng ta gặp Chúa Giê Su, chúng ta có những tính cách thuộc về thế gian này mà đa phần đều là ma quỷ. Sau khi gặp Chúa, chúng ta phẩn phải có sự thay đổi. Sự thay đổi này là sự trong sáng, thánh sạch và tràn đầy yêu thương.

Jesus said I am sending you like sheep among the wolves. So how would sheep survive among the wolves? Only by being wise and innocent. When we are wise and innocent, wolves will not be able to eat the sheep- which means the devil will not be able to destroy us. That is when we will achieve what is written in Isaiah 11:6-9. 

Chúa Giê Su nói ta sai con đi như chiên giữa bầy muông sói. Vì vậy chiên con phải sống sót như thế nào giữa bầy sói? Chỉ bằng cách vừa đơn sơ lại vừa khôn ngoan. Khi bạn đơn sơ và khôn ngoan, sói sẽ không thể ăn thịt được cừu, điều này có nghĩa là quỷ sẽ không thể hủy hoại chúng ta được. Đó là khi chúng ta đạt được điều được nói đến trong Isaiah 11:6-9.

Therefore dear friends, let us change our personality and be pure, holy, innocent and wise.

Vì vậy, các bạn thân mến, chúng ta hãy thay đổi tính cách và trở nên trong sáng, thánh khiết, đơn sơ và khôn ngoan.

God bless you. Amen

 

Matthew 10:5-15 Ðừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We had a long interruption of our class due to COVID-19 lockdown in Vietnam. Let us thank God Almighty for protecting our church from COVID-19. Each and every member of the Vietnamese Orthodox Church was covered by the blood of Jesus Christ during the pandemic. Thank you Jesus that none of our members was infected with the virus. 

Chúng ta đã có một sự gián đoạn dài của lớp học do lockdown Covid 19 ở Việt Nam. Chúng ta hãy cảm tạ Chúa quyền năng vì đã bảo vệ nhà thờ của chúng ta khỏi Covid 19. Mỗi thành viên và tất cả các thành viên của Nhà thờ Chính Thống Giáo Việt Nam đều được bảo vệ bởi máu của Chúa Giê Su trong suốt đại dịch này. Cảm ơn Chúa Giê Su vì không có thành viên nào trong lớp chúng ta bị nhiễm virus cả.

Let us also thank the Lord for bringing us back together to study the Word of God. 

Chúng ta cũng hãy cảm tạ Chúa vì đã mang chúng ta ngồi lại với nhau để học Lời của Chúa.

We covered the twelve disciples of Jesus until the last class. 

Lần trước chúng ta đã học về các môn đồ của Chúa Giê Su.

Tonight, we are going to study the instructions given to these disciples by Jesus Christ. Let us read Matthew 10:5-15. 

Tối nay chúng ta sẽ học những hướng dẫn mà Chúa dặn các môn đồ. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:5-15.

Ấy đó là mười hai sứ đồ Ðức Chúa Jêsus sai đi, và có truyền rằng: Ðừng đi đến dân ngoại, cũng đừng vào một thành nào của dân Sa-ma-ri cả;

10:6song thà đi đến cùng những con chiên lạc mất của nhà Y-sơ-ra-ên.

10:7Khi đi đàng, hãy rao giảng rằng: Nước thiên đàng gần rồi.

10:8Hãy chữa lành kẻ đau, khiến sống kẻ chết, làm sạch kẻ phung, và trừ các quỉ. Các ngươi đã được lãnh không thì hãy cho không.

10:9Ðừng đem vàng, hoặc bạc, hoặc tiền trong lưng các ngươi;

10:10cũng đừng đem cái bao đi đường, hoặc hai áo, hoặc giày, hoặc gậy; vì người làm việc đáng được đồ ăn.

10:11Các ngươi vào thành nào hay là làng nào, hãy hỏi thăm ai là người đáng tiếp rước mình, rồi ở nhà họ cho đến lúc đi.

10:12Và khi vào nhà nào, hãy cầu bình an cho nhà ấy;

10:13nếu nhà đó xứng đáng, thì sự bình an các ngươi xuống cho; bằng không, thì sự bình an các ngươi trở về các ngươi.

10:14Nếu ai không tiếp rước, không nghe lời các ngươi, khi ra khỏi nhà đó, hay là thành đó, hãy phủi bụi đã dính chơn các ngươi.

10:15Quả thật, ta nói cùng các người, đến ngày phán xét, thì xứ Sô-đôm và xứ Gô-mô-rơ sẽ chịu đoán phạt nhẹ hơn thành ấy.

After appointing the disciples, Jesus gave a set of instructions which comprised nine dos and nine do nots. 

Sau khi bổ nhiệm các môn đồ, Chúa Giê Su đã đưa ra các chỉ dẫn bao gồm chín điều cần phải làm và chín điều không nên làm.

The nine donots are: 1. Do not go to the gentiles; 2. Do not enter the town of the Samaritans; 3. Do not take gold with you; 4. Do not take silver with you; 5. Do not take copper with you; 6. Do not take a bag for your journey; 7. Do not take two dresses; 8. Do not worry about sandals; and 9. Do not even take a staff with you (A staff is a long stick that people always used to carry with them). 

Chín điều không nên làm là: 1. Đừng đi với dân ngoại 2. Đừng vào thành của Người Samaritans 3. Đừng mang vàng theo 4. Đừng mang bạc theo 5. Đừng mang đồng theo 6. Đừng mang túi theo cho hành trình 7. Đừng mang hai bộ quần áo 8. Đừng lo lắng về giày dép và 9. Thậm chí đừng mang gậy theo (gậy là một cái gậy dài người ta dùng để mang theo mình).

The nine dos that Jesus asked the disciples to do were: 1. Go to the lost sheep of the house of Israel; 2. As you go proclaim the good news that the Kingdom of heaven is near; 3. Cure the sick; 4. Raise the dead; 5. Cleanse the lepers; 6. Cast out demons; 7. Give them all these free of cost; 8. Find the house in the village which is worthy; and 9. Enter that house, greet the people living in that house and bless that house.  

Chín điều cần làm mà Chúa bảo các môn đồ làm là 1. Hãy đi đến những con chiên lạc mất của nhà Israel 2. Khi đi hãy rao giảng tin lành rằng vương quốc Thiên Đàng đến gần rồi 3. Hãy chữa lành cho người ốm 4. Hãy gọi người chết sống lại 5. Hãy rửa sạch người phong hủi 6. Đuổi quỷ 7. Hãy cho không tất cả những điều trên 8. Hãy tìm những nhà nào trong làng mà xứng đáng và 9. Vào nhà đó, chào người trong nhà và ban phước cho nhà đó.

Upon reading the donots, we may find it very difficult to understand and follow. We may naturally ask the question, how can we go on a journey without taking anything along? What will we eat? What will we drink? It is a long journey, we need to change our clothes. 

Khi đọc những điều không nên làm, chúng ta có thể cảm thấy khó hiểu và khó theo dõi. Chúng ta có thể hỏi một câu hỏi tự nhiên, làm thế nào chúng ta có thể tiếp tục hành trình mà không mang gì theo cả? Chúng ta sẽ ăn gì? Sẽ uống gì? Đó là một hành trình dài, chúng ta cần phải thay quần áo chứ.

If you have attended military training you would know that as  a soldier you are expected to follow the orders of the commander. You cannot say no to your commander. You cannot even ask questions. You are expected to obey the commands. Obedience to the commander of the battalion is the very first rule that every soldier must follow. The soldiers fully trust their commander and obey the orders. In the same way, for us, God is the commander. As a commander cares for his battalion, God takes care of us. Accordingly, He instructs us. We are expected to obey His commands. 1 Samuel 15:22b Surely, to obey is better than sacrifice, and to heed than the fat of rams. 

Nhưng nếu bạn đã từng tham gia huấn luyện trong quân đội, bạn sẽ biết rằng là người lính thì sẽ phải tuyệt đối tuân theo mệnh lệnh của đại tướng chỉ huy. Bạn không thể cãi lời đại tướng được. Bạn thậm chí không được đặt câu hỏi. Bạn cần phải vâng lệnh. Sự tuân lệnh đối với đại tướng chỉ huy là quy tắc bất di bất dịch mà mọi người lính phải tuân theo. Người lính đặt trọn vẹn niềm tin vào đại tướng và tuân theo mọi mệnh lênh. Tương tự, đối với chúng ta, Chúa là đại tướng chỉ huy. Như người đại tướng chỉ huy chăm lo cho quân lính của mình, Chúa cũng chăm sóc cho chúng ta như vậy. Theo đó, Ngài chỉ dẫn cho chúng ta. Chúng ta cần phải vâng lệnh Ngài. 1 Samuel 15:22b Kìa sự vâng lời tốt hơn sinh tế, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực.

Let us look at an example from John 5:5-9. This man was lying paralysed for 38 years. In a state of paralysis, he could not move his hands or legs, or even his body. He could not stand on his legs, let alone walk. Jesus approached this man and asked him to get up, pick up his mat, and walk. It means the paralysed man had to move his body to get up, he had to use his hands to pick up his mat, and he had to use his legs to walk. Suppose that the paralysed man replied to Jesus, are you kidding me? How can I get up when my body is paralysed? How can I pick up my mat when I cannot move my hands? How do I walk when my legs cannot be moved? But we read here that the paralysed man did not ask any such questions. He did not doubt the word of God. He just stood up like a normal man would and walked away. That is what obedience is. And we see here how obedience changed the life of a paralysed man after 38 years. This could happen in our lives too. We may have to wait patiently and sometimes a long time for our life to be changed. But do not forget. God only needs one second to change your life. But, we may have to wait patiently for that one second. The good news is that everyone who sincerely follows Jesus will definitely have that one moment in life. That is the assurance for God’s children. 

Chúng ta hãy đọc ví dụ từ John 5:5-9.

Nơi đó, có một người bị bịnh đã được ba mươi tám năm.

5:6Ðức Chúa Jêsus thấy người nằm, biết rằng đau đã lâu ngày thì phán: Ngươi có muốn lành chăng?

5:7Người bịnh thưa rằng: Lạy Chúa, tôi chẳng có ai để quăng tôi xuống ao trong khi nước động; lúc tôi đi đến, thì kẻ khác đã xuống ao trước tôi rồi.

5:8Ðức Chúa Jêsus phán rằng: Hãy đứng dậy, vác giường ngươi và đi.

5:9Tức thì người ấy được lành, vác giường mình và đi. Vả, bấy giờ là ngày Sa-bát.

Người đàn ông nằm liệt trong 38 năm. Trong trạng thái bị liệt, ông không thể dịch chuyển được tay hoặc chân hoặc thậm chí cả thân thể. Ông không thể đứng trên đôi chân mình, chứ đừng nói là đi bộ. Chúa đã tiến lại gần ông ta và bảo ông, hãy đứng dậy, cầm chiếu của mình và bước đi. Có nghĩa rằng người bị liệt cần phải di chuyển thân thể để ngồi dậy, phải dùng tay để cầm chiếu lên và phải dừng chân để đi. Tưởng tượng rằng, người bị liệt nói với Chúa, Ngài đùa tôi à? Làm thế nào tôi có thể ngồi dậy được khi thân thể tôi bị liệt? Làm thế nào tôi có thể cầm chiếu lên được khi mà tôi không thể dịch chuyển đôi bàn tay? Làm thế nào tôi đi được nếu chân tôi không cử động được. Nhưng chúng ta đọc ở đây rằng, người bị liệt đã không hỏi bất kỳ câu hỏi nào cả. Ông ta không hề nghi ngờ Lời của Chúa. Ông đã đứng dậy như một người bình thường và cứ thế bước đi. Đó là sự vâng lời. Và chúng ta thấy sự vâng lời của đã thay đổi cuộc đời của một người bị bại liệt suốt 38 năm. Điều này cũng có thể xảy ra trong cuộc đời của chúng ta nữa. Chúng ta có thể phải chờ đợi kiên nhẫn và đôi khi cả cuộc đời để được thay đổi. Nhưng đừng quên. Chúa chỉ cần một giây để thay đổi cuộc đời chúng ta. Nhưng chúng ta cần phải chờ đợi kiên nhẫn cho giây phút đó. Tin lành ở đây đó là những người theo Chúa một cách chân thành chắc chắn sẽ bắt gặp khoảnh khắc đó. Đó là sự đảm bảo dành cho con cái Chúa.

IF we use our rational mind we may find many things impossible. But if we submit the impossible to God, He will make all our impossibilities into possibilities. When the angel visited Mother Mary and conveyed the good news of Jesus going to be conceived in her womb, she replied, how is it possible as I am a virgin?' The angel replied as we read in Luke 1:37 For nothing will be impossible with God. Mother Mary fully believed what the angel said, and replied as we read in (vs 38) Here am I, the servant of the Lord; let it be with me according to your word. We see here the complete obedience of Mother Mary. Obedience to God means ‘even if you find it impossible or unimaginable, just do what He asks you to do’. 

Nếu chúng ta sử dụng tâm trí đầu óc chúng ta sẽ thấy nhiều điều phi lý. Nhưng nếu chúng ta phó thác những điều tưởng như không thể cho Chúa, Ngài sẽ biến những điều không thể thành có thể. Khi thiên sứ ghé thăm mẹ Mary và truyền đến bà tin tốt lành rằng Chúa Giê Su sẽ được thụ thai trong bụng dạ bà, bà đã đáp lại rằng “Làm thế nào có thể được vì tôi chưa ăn nằm với người nam nào?” Thiên sứ đã đáp lại trong Luke 1:37 Vì không có điều gì là không thể đối với Chúa. Mẹ Mary đã tin hoàn toàn vào điều Thiên Sứ nói và đáp lại như ở câu 38, Tôi đây là tôi tớ Chúa; xin sự ấy xảy ra cho tôi như lời người truyền!. Chúng ta thấy ở đây sự vâng phục tuyệt đối của Mẹ Mary. Sự vâng phục với Chúa nghĩa là “hãy cả nếu như bạn thấy điều gì đó là không thể xảy ra hay không thể tưởng tượng được, hãy làm những gì mà Ngài truyền!”

Obedience to God will take away all kinds of worries and doubts from our minds. St Paul instructs in 1 Corinthians 7:21-22 that do not be concerned if you are a slave. Because, even though you are a slave, since you have started following Jesus, you are a free person. If you are called as a slave do not fight to become free because you are already free in Jesus. In the same way, if you were called as a woman, be like a woman and please the Lord. Do not try to become like a man. If you were called as a man, do not try to become like a woman. If you are called as a husband, live like a husband. If you were called as a wife, live like a wife, do not try to become the husband of the family. God calls everyone in their own capacity. God calls the rich, God calls the poor, God calls parents, and grandparents. Whatever you are, the primary responsibility is to obey God and follow His commandments. In John 15:10 Jesus said, If you keep my commandments, you will abide in my love, just as I have kept my father’s commandments and abide in His love.

Sự vâng lời Chúa sẽ lấy đi hết tất cả những sự lo lắng và nghi hoặc từ tâm trí của chúng ta. Thánh Paul nói trong 1 Corinthians 7:21-22 rằng đừng lo vì mình là kẻ nô lệ. Bởi vì mặc dù mình là kẻ nô lệ, nhưng khi mình theo Chúa, mình là kẻ tự do. Nếu bạn được Ngài gọi khi là nô lệ đừng cố gắng đấu tranh để được tự do bởi vì bạn vốn đã tự do trong Chúa rồi. Tương tự, nếu bạn được gọi là một người nữ, thì hãy là một người nữ và làm hài lòng Chúa. Đừng cố gắng trở nên như một người đàn ông. Nếu bạn được gọi là người đàn ông, đừng cố gắng trở nên như một người đàn bà. Nếu bạn được gọi như là một người chồng, hãy sống như một người chồng. Nếu bạn được gọi như là vợ thì hãy sống như là vợ, đừng cố gắng trở thành chồng trong gia đình. Chúa gọi mọi người trong năng lực của họ. Chúa gọi người giàu, Chúa gọi người nghèo, Chúa gọi người làm cha, làm mẹ, làm ông bà. Cho dù bạn là người nào, trách nhiệm lớn nhất vẫn là vâng phục Chúa và làm theo những lời răn của Ngài. Trong John 15:10 Chúa Giê Su nói: Nếu các ngươi vâng giữ các điều răn của ta, thì sẽ ở trong sự yêu thương ta, cũng như chính ta đã vâng giữ các điều răn của Cha ta, và cứ ở trong sự yêu thương Ngài.

We know that if a child is obedient, parents will love such a child even more. Teachers give special care and love to students who are obedient in class. If a man asks why can’t I be like a woman, or a wife asks why should I obey my husband, or a person with less money questions God asking Lord, why can’t you make me rich? It is disobedience as such a person is not willing to follow God’s commandments. Disobedience in the Bible is called ‘rebellion’. Rebellion is the opposite of obedience. We read that in 1 Samuel 15:23. Rebellion belongs to Satan. The Archangel Lucifer questioned God and said, why should I obey God? Why can’t I be above God so that He obeys me?  We read that in Isaiah 14:12-15. This rebellion cast out Lucifer from God’s presence forever. When we try to question God, or refuse to follow His commandments, we are also rebelling against God. 

Chúng ta biết rằng nếu một đứa trẻ vâng lời, bố mẹ sẽ yêu đứa trẻ đó nhiều hơn. Giáo viên sẽ quan tâm và yêu thương học sinh nào chăm chỉ ngoan ngoãn trong lớp. Nếu một người đàn ông lại hỏi tại sao tôi lại không thể giống như người nữ được, hoặc người vợ hỏi tại sao tôi lại phải nghe lời chồng, hoặc một người ít tiền hỏi Chúa, tại sao Ngài không làm cho con giàu có hơn? Thật ra chính là sự không vâng phục là lý do người đó không sẵn sàng làm theo các điều răn của Chúa. Sự không vâng phục trong Kinh Thánh gọi là “sự nổi loạn”. Sự nổi loạn là từ trái nghĩa của vâng phục. Chúng ta đọc trong 1 Samuel 15:23 Sự phản nghịch đáng tội như tà thuật. Sự ương ngạnh đáng tội như thờ lạy hình tượng. Sự nổi loạn thuộc về quỷ Satan. Thiên sứ trưởng Lucifer đã hỏi Chúa và nói Vì sao tôi lại phải tuân theo Chúa? Sao tôi không thể vươn lên cao hơn ngai của Chúa và Ngài phải vâng phục tôi? Chúng ta đọc điều đó trong Isaiah 14:12-15.

Hỡi sao mai, con trai của sáng sớm kia, sao ngươi từ trời sa xuống! Hỡi kẻ giày đạp các nước kia, ngươi bị chặt xuống đất là thể nào!

14:13Ngươi vẫn bụng bảo dạ rằng: Ta sẽ lên trời, sẽ nhắc ngai ta lên trên các ngôi sao Ðức Chúa Trời. Ta sẽ ngồi trên núi hội về cuối cùng phương bắc.

14:14Ta sẽ lên trên cao những đám mây, làm ra mình bằng Ðấng Rất Cao.

14:15Nhưng ngươi phải xuống nơi âm phủ, sa vào nơi vực thẳm!

Sự nổi loạn này đã đẩy Lucifer ra khỏi sự hiện diện của Chúa mãi mãi. Khi chúng ta gạn hỏi Chúa hoặc từ chối làm theo điều răn của Ngài, chúng ta cũng đang nổi loạn chống lại Chúa.

There is a reason why God gives certain instructions to us. God says in Jeremiah 29:11 For surely I know the plans I have for you, says the Lord, plans for your welfare and not for harm, to give you a future with hope. God gives us instructions with a clear plan for our future. It may sound initially as tough and difficult for us. But later we will realise that all that God had said was for my good future. We do not know our future. But God knows our past, present, and future. If we obey God, we will achieve that glorious future. If we question, argue, or refuse what God asks us to do, it means we are telling Him, ‘God, you don't worry, I will decide my future’. 

Đây là lý do tại sao Chúa đã đưa ra các chỉ dẫn cụ thể cho chúng ta. Chúa nói trong Jeremiah 29:11 Ðức Giê-hô-va phán: Vì ta biết ý tưởng ta nghĩ đối cùng các ngươi, là ý tưởng bình an, không phải tai họa, để cho các ngươi được sự trông cậy trong lúc cuối cùng của mình. Chúa ban cho chúng ta những chỉ dẫn với một kế hoạch rõ ràng cho tương lai chúng ta. Ban đầu nó nghe có vẻ khó khăn đối với chúng ta. Nhưng sau đó, chúng ta sẽ nhận ra rằng tất cả những gì Chúa làm đều là tốt cho tương lai của chúng ta. Chúng ta không biết tương lai của mình. Nhưng Chúa biết quá khứ, hiện tại và tương lai của chúng ta. Nếu chúng ta vâng lời Chúa, chúng ta sẽ nhận được vinh quang chói lọi đó. Nếu chúng ta gạn hỏi, tranh cãi hoặc từ chối làm những điều Chúa bảo chúng ta làm, có nghĩa là chúng ta đang nói với Chúa, “Chúa ơi, Chúa cứ kệ con, con sẽ tự quyết định tương lai của con.”

If we respond like that, then we are responsible for whatever happens in our life. Then we cannot complain for whatever wrong happens in our lives. The best example is Jesus telling the future of the Jews who did not accept Him, as we read in Matthew 23:37-38 Jerusalem, Jerusalem, the city that kills the prophets and stones those who are sent to it. How often have I desired to gather your children together as a hen gathers her brood under her wings, and you were not willing! See your house is left to you, desolate. Jesus repeatedly told the Jesws to leave evil things, and repent. But they rejected it. They said, we know our future Jesus, you don't worry. Later, foreign powers invaded and all the houses were looted and the Jewish people were made slaves to foreign power. Therefore, since God knows what is good for us and our future, we should submit ourselves to the will of God. 

Nếu chúng ta đáp lại như thế, thì chúng ta sẽ phải tự chịu trách nhiệm cho bất kỳ điều gì xảy ra trong đời sống của mình. Sau đó chúng ta không thể phàn nàn vì những điều sai xảy ra trong đời sống chúng ta được. Ví dụ lớn nhất là Chúa Giê Su kể về tương lai của những người Do Thái không chấp nhận Ngài như chúng ta đọc trong Matthew 23:37-38, Hỡi Giê-ru-sa-lem, Giê-ru-sa-lem, ngươi giết các đấng tiên tri và ném đá những kẻ chịu sai đến cùng ngươi, bao nhiêu lần ta muốn nhóm họp các con ngươi như gà mái túc con mình lại ấp trong cánh, mà các ngươi chẳng nghe lời! Nầy, nhà các ngươi sẽ bỏ hoang! Chúa liên tục nói với những người Do Thái hãy từ bỏ những điều ác và sám hối. Nhưng họ từ chối Chúa. Họ nói, chúng tôi biết tương lai của chúng tôi, Ngài không cần phải lo. Sau đó, những kẻ xâm lược ngoại bang đã xâm lược và tất cả nhà của họ đã bị chiếm và người Do Thái đã trở thành nô lệ cho các thế lực ngoại quốc. Do đó, vì Chúa biết những điều gì là tốt cho chúng ta và cho tương lai chúng ta, chúng ta nên phó thác bản thân chúng ta cho ý chí của Chúa.

Jesus gave a set of instructions to His disciples. There are things that the disciples were instructed to do and there are things that the disciples were asked not to do. Those instructions are applicable to all of us who have decided to follow Jesus Christ. 

Chúa Giê Su đã đưa ra một loạt những hướng dẫn cho các môn đồ của mình. Có những điều mà các môn đồ được hướng dẫn làm và có những điều không nên làm. Những lời dặn đó cũng áp dụng cho tất cả chúng ta

Let us read tonight’s Bible section once again. 

Chúng ta hãy đọc phần ngày hôm nay một lần nữa.

There is a reason why Jesus gave that strict instruction. Before trying to know the reason we need to know who the gentiles are. During the time of Jesus, the gentiles were those who did not follow the true God. They worshipped idols, led sinful lives, and had demonic beliefs, practices and lifestyle. Let us read Ephesians 4:17-19. Here we see that the mind of the gentiles was filled with wasteful things. They were hard hearted people, and their understanding was silly and guided by evil thoughts. Moreover, they were licentious, greedy, and impure in life. 

Đây là một lý do tại sao Chúa Giê Su đưa ra hướng dẫn nghiêm ngặt này. Trước khi biết lý do chúng ta cần phải biết dân ngoại là ai. Ở thời Chúa, dân ngoại là những kẻ không đi theo Chúa thật sự. Họ thờ hình tượng, sống cuộc sống tội lỗi và có những niềm tin, hành vi và lối sống ma quỷ. Chúng ta hãy đọc trong Ephesians 4:17-19. Vậy, nầy là điều tôi nói và điều tôi nhơn danh Chúa mà rao ra: ấy là anh em chớ nên ăn ở như người ngoại đạo nữa, họ theo sự hư không của ý tưởng mình,

4:18bởi sự ngu muội ở trong họ, và vì lòng họ cứng cỏi nên trí khôn tối tăm, xa cách sự sống của Ðức Chúa Trời.

4:19Họ đã mất cả sự cảm biết, đành bỏ mình trong một đời buông lung, đem lòng mê đắm không biết chán mà phạm hết mọi điều ô uế.

Ở đây chúng ta thấy rằng tâm trí của dân ngoại chứa đầy những điều ô uế. Họ là những kẻ cứng lòng và sự hiểu biết của họ vô cùng ngu xuẩn và bị quỷ dẫn dắt. Hơn nữa họ là kẻ bất khiết, sống tham lam ngu muội.

At this point, we may pretend and say that oh I am not a gentile because I follow Jesus. Outwardly you may be a follower of Jesus but that does not mean that you are not a gentile. Let us read Romans 2:28-29. Here Saint Paul explains that just because a person is circumcised does not mean that he is a Jew. A true Jew will follow the instructions of God and live according to the law of God. Then Saint Paul said, a true Jew is one whose heart is spiritual. 

Ở điểm này, chúng ta có thể giả vờ và nói rằng, ồ tôi không phải dân ngoại bởi vì tôi theo Chúa Giê Su. Bề ngoài, bạn có thể là người theo Chúa nhưng điều đó không có nghĩa rằng bạn không phải dân ngoại. Chúng ta hãy đọc Romans 2:28-29 Vì một người chỉ bề ngoài là người Do Thái thì không phải là người Do Thái thật, còn sự cắt bì về mặt thể xác bên ngoài thì không phải là sự cắt bì thật. Nhưng một người bên trong là người Do Thái mới thức là người Do Thái; sự cắt bì thật phát xuất từ tấm lòng, bởi Thánh Linh, chứ không theo chữ nghĩa. Ở đây Thánh Paul giải thích rằng, chỉ bởi việc cắt bì không có nghĩa anh là người Do Thái. Một người Do Thái thật sẽ nghe theo những lời hướng dẫn của Chúa và sống tuân theo luật pháp Chúa. Sau đó Thánh Paul nói, một người Do Thái thật là người mà tấm lòng người ấy có sự tâm linh.  

In the same way, just because a person is baptised does not mean he or she is a follower of Jesus. If a person after being baptised lives according to the will of the devil, that person is still a gentile. If you are baptised and you follow Jesus, you should live according to the teachings of Jesus. Ephesians 4:1 I therefore, the prisoner in the Lord, beg you to lead a life worthy of the calling to which you have been called. So, in order to be known as a follower of Jesus, you will need to live according to the Word of God. Otherwise, you are still a gentile with all the demons still living inside you.  

Tương tự như vậy, chỉ bởi vì bạn đã được rửa tội không có nghĩa bạn là người theo Chúa. Nếu một người sau khi được rửa tội sống theo ý chí của quỷ thì người đó vẫn là dân ngoại. Nếu bạn được rửa tội và bạn theo Chúa Giê Su, bạn sẽ sống theo lời dạy của Chúa Giê Su. Ephesians 4:1 Vậy, tôi là kẻ tù trong Chúa, khuyên anh em phải ăn ở một cách xứng đáng với chức phận mà Chúa đã gọi anh em, Vì vậy để được xứng đáng là người theo Chúa, bạn cần phải sống một cuộc sống theo Lời của Chúa. Nếu không, bạn vẫn chỉ là dân ngoại với tất cả những con quỷ sống trong bạn.

So now, we can look at what Jesus meant when he said do not go to the gentiles. It means, even if a person is a follower of Jesus, if s/he is not living according to the Word of God, try to keep away from them. 1 Corinthians 15:33 Do not be deceived: Bad company ruins good morals. Do not act in overconfidence and say, yea I know that person is demonic, but I will change her or him. What actually would happen is that the demons inside them will craftily and cunningly drag you into their trap. What would happen is, they will start complaining about others to you.

Vậy thì chúng ta có thể nhìn vào ý CHúa muốn nói gì khi nói đừng đi tới dân ngoại. Có nghĩa rằng, ngay cả nếu một người theo Chúa, nếu người đó không sống theo Lời của Chúa thì hãy tránh xa họ ra. 1 Corinthians 15:33 Anh em chớ mắc lừa: bạn bè xấu làm hư thói nết tốt. Đừng hành xử quá tự tin mà nói rằng, tôi biết người đó là xấu, nhưng tôi sẽ tìm cách thay đổi người ta. Điều xảy ra thật ra lại là con quỷ trong họ sẽ một cách mưu mô và xảo quyệt sẽ kéo bạn vào bẫy của nó. Điều xảy ra là, họ sẽ bắt đầu phàn nàn về người khác với bạn.

ONly the devil talks like that. Or, they will just start talking about their problems and difficulties. For example, a woman may say, oh I have to work hard, my husband is lazy, he doesn’t go to work, he is a drunkard, he gambles and wastes money, etc. Another person will ask questions like why is God giving us difficulties? Why can’t God take away all the pain in our lives? There is another set of people who would say, ‘you know God forgives our sin, so let us do whatever we like, later we can just ask God to forgive, and loving God will forgive us’. There may also be people who would say, come join our celebration. We are celebrating Halloween. It is fun, come and join us. A few others may drag you to believe that if you do not spend any money on the first day of the lunar month or year, you can be very rich. You started with overconfidence but you ended falling in the hands of the devil. One bad apple is enough to spoil the whole basket of apples. 1 Corinthians 5:6 Your boasting is not a good thing. Do you not know that a little yeast leavens the whole hatch of dough? One evil person can spoil the whole church. Therefore, we need to be extra careful. 

Chỉ có quỷ mới nói như vậy, hoặc họ sẽ bắt đầu kể lể về những khó khăn và rắc rối. Ví dụ một người phụ nữ có thể sẽ nói, ồ tôi phải làm việc vất vả, chống tôi rất lười, ông ta không đi làm, ông là kẻ nghiên rượu, ông ta đánh bạc và lãng phí tiền của…Một người khác sẽ đặt câu hỏi tại sao Chúa lại mang đến cho chúng ta những khó khăn? Tại sao Chúa không lấy đi những khó khăn và nỗi đau trong cuộc sống cho chúng ta? Lại có một nhóm người khác sẽ nói rằng “Bạn biết Chúa luôn tha thứ tội lỗi của chúng ta, vì vậy chúng ta hãy cứ làm những gì chúng ta muốn, sau đó, chúng ta có thể bảo Chúa tha thứ và Chúa sẽ tha thứ cho chúng ta.” Có những người người sẽ nói rằng, hãy tới tham gia cuộc vui với chúng tôi. Chúng tôi đang tổ chức Halloween. Vui lắm, đến đây và vui chơi một tí đi. Một số người khác có thể kéo bạn tin rằng, nếu không tiêu tiền vào ngày mùng 1 hàng tháng thì bạn sẽ tiết kiệm được tiền và trở nên giàu có. Bạn bắt đầu với sự tự tin nhưng cuối cùng bạn lại rơi vào tay của quỷ. Một quả táo hỏng là đủ để làm hư cả rổ táo. 1 Corinthians 5:6 Thật anh em chẳng có cớ mà khoe mình đâu! Anh em há chẳng biết rằng một chút men làm cho cả đống bột dậy lên sao? Một người xấu có thể làm phá hủy cả một nhà thờ lớn. Vì thế, chúng ta cần phải hết sức cảnh giác.

The disciples were just starting a true life following God. They were only just appointed as disciples. It means they were new to the teachings of Jesus. When we are new to something, we should be extremely careful. If a new follower of Jesus talks to the gentiles trying to teach them about the Word of God, they will drag you into their own arguments and problems. The result will be that you will fall into their trap. 

Các môn đồ chỉ mới bắt đầu cuộc sống thực sự khi theo Chúa. Họ mới được bổ nhiệm như là các môn đồ. Có nghĩa là họ vẫn còn mới với những lời dạy của Chúa. Khi chúng ta còn mới, chúng ta cần phải hết sức cẩn thận. Nếu một người mới theo Chúa nói với dân ngoại và cố gắng dạy bảo họ về lời của Chúa, họ sẽ kéo bạn vào những tranh cãi và rắc rối. Kết quả là bạn sẽ rơi vào bẫy của họ.

This is the reason why Jesus said do not go to the gentiles. Instead, Jesus said, go to the lost sheep of Israel. The disciples were also Israelites. It means Jesus asked the disciples to go to their own families and share the Word of God. The simple message is start from your home. Share the Word of God with your children, brothers, sisters, and parents. Show them through your life, words, and deeds how Jesus has changed you. If they see changes in your life, if they see that you are being blessed by God, they will also be encouraged to follow the Lord. For example, members in your family see that previously you were very arrogant or unmerciful or greedy. But now, you are very gentle, polite, loving and caring, and have no greed for money at all. That will motivate them to follow Jesus. If you simply invite a demonic person to follow Jesus, s/he will say, give me money and I will follow Jesus.

Đây là lý do tại sao Chúa Giê Su nói đừng đi tới dân ngoại. Thay vào đó, Chúa Giê Su nói, hãy đi tới những con chiên lạc mất của Nhà Israel. Các môn đồ cũng là người Israel. Điều này nghĩa là Chúa muốn các môn đồ đi tới gia đình của họ và chia sẻ Lời của Chúa. Thông điệp đơn giản sẽ bắt đầu từ chính gia đình của bạn. Hãy chia sẻ Lời của Chúa với con cái, anh chị em, và bố mẹ bạn. Hãy cho họ thấy qua cuộc sống của bạn, qua lời nói và hành động Chúa dã biến đổi bạn như thế nào. Nếu họ nhìn thấy những thay đổi trong cuộc đời bạn, nếu họ thấy bạn được ban phước bởi Chúa, họ cũng sẽ được khích lệ để theo Chúa. Ví dụ, các thành viên trong gia đình bạn thấy rằng trước đây bạn là kẻ ngạo mạn, thiếu nhân đạo hoặc tham lam. Nhưng giờ đây, bạn rất nhẹ nhàng, hiền lành và nhân từ và chẳng tham tiền chút nào cả. Điều này sẽ khích lệ họ theo Chúa Giê Su. Nếu bạn đơn giản chỉ mời một người xấu theo Chúa, anh ta hoặc cô ta sẽ nói, cho tôi tiền đi rồi tôi sẽ theo.

We studied about each disciple in the previous classes. We say how they worked for the Lord and died for the Lord. They obeyed Jesus’ instructions word by word. They never carried gold or silver, or copper or two clothes ever in their journey to different parts of the world. Yes, they proficiently preached the Word of God. They did not carry any money, but they had full power over the demons. Without gold, silver, and copper, they cast out demons, healed the sick, and even raised the dead. 

Chúng ta đã học về mỗi môn đồ ở trong các buổi học trước. Chúng ta nói rằng làm thế nào họ có thể làm việc cho Chúa và chết cho Chúa được nhỉ. Họ đã tuân theo những chỉ dẫn của Chúa Giê Su từng lời từng lời. Họ chẳng bao giờ mang theo vàng, bạc, đồng hay hai bộ quần áo theo trong hành trình của họ tới tất cả các nơi trên thế giới. Vâng, họ đã rao giảng mạnh mẽ Lời của Chúa. Họ không mang theo tiền, nhưng họ có đủ quyền năng đối với quỷ dữ. Không có vàng, bạc hay đồng, họ đã đuổi quỷ, chữa lành cho người bệnh, và thậm chí gọi dậy cả người chết.

But look at ourselves. How much money do we have? How many sets of clothes do we have? We have everything. But, we do not know how to preach or teach the Word of God. You have fashionable clothes, a job and money, but can you even heal an ordinary flu? Can you cast out demons with your money? Can you pray and bless a person who is suffering from difficulties? We have everything, but we do not have any such powers. The disciples had nothing but they had all these powers. That is the result of obedience. The disciples received the power from above on the day of Pentecost as we read in Acts 2. They received the power because they were obedient. 

Nhưng hãy nhìn chúng ta. Chúng ta có bao nhiêu tiền? Chúng ta có bao nhiêu bộ quần áo? Chúng ta có tất cả mọi thứ. Nhưng chúng ta không biết cách làm thế nào để rao giảng và dạy Lời của Chúa. Chúng ta có quần áo hàng hiệu, công việc và tiền nhưng chúng ta không thể chữa lành một bệnh cúm thông thường? Bạn có thể dùng tiền để đuổi quỷ được không? Bạn có thể cầu nguyện và ban phước cho một người chịu ảnh hưởng bởi khó khăn không? Chúng ta có mọi thứ nhưng chúng ta không có những quyền năng đó. Các môn đồ không có gì cả nhưng họ lại có tất cả những quyền năng này. Đó là kết quả của sự vâng lời. Các môn đồ đã nhận được quyền năng từ bên trên vào ngày lễ Pentecost như chúng ta đọc trong Acts 2. Họ nhận được quyền năng bởi vì họ đã vâng phục.

Dear friends, obedience to Jesus will change your lives. Money will not. Obedience will get you spiritual powers, greed cannot. Anger, enmity, and false beliefs can only destroy you and your life. A complete submission to Jesus will save you and change your life. 

Các bạn thân mến, sự vâng phục với Chúa sẽ thay đổi cuộc đời của bạn. Tiền sẽ không làm được điều đó. Sự vâng phục sẽ cho bạn sức mạnh tâm linh, sự tham lam không làm được điều đó. Sự tức giận, thù hận và những niềm tin giả chỉ phá hủy bạn và cuộc đời của bạn mà thôi. Một sự vâng phục hoàn toàn đối với Chúa Giê Su sẽ cứu cuộc đời bạn và thay đổi cuộc đời bạn.

Dear friends, Jesus wants you to be happy. Jesus wants you to be saved. Jesus wants to give you all the spiritual powers. A soldier is powerful under the protection of the commander. In the same way, if Jesus covers us, we are completely safe from the devil, and are powerful to fight against him. 

Các bạn thân mến, Chúa Giê Su muốn bạn trở nên hạnh phúc. Chúa Giê Su muốn bạn được cứu. Chúa Giê Su muốn ban cho bạn các quyền năng tâm linh. Một người lính sẽ trở nên mạnh mẽ dưới sự bảo vệ của tướng chỉ huy. Tương tự như vậy, nếu Chúa Giê Su bảo bọc chúng ta, chúng ta sẽ được an toàn tuyệt đối khỏi quỷ dữ và trở nên mạnh mẽ để chiến đấu chống lại chúng.

Therefore, let us submit ourselves to the command of Jesus. If Jesus has said no, let us obey. If Jesus has asked us to do something, let us do it without any delay.

Do đó, chúng ta hãy phó thác chúng ta hoàn toàn trước sự chỉ huy của Chúa. Nếu Chúa đã nói không, chúng ta hãy vâng lời, nếu Chúa bảo chúng ta làm gì, chúng ta hãy làm điều đó mà không chậm trễ.

May God bless you. Amen.

Cầu Chúa ban phước cho tất cả các bạn. Amen. 

Saturday, October 2, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh Simon The Zealot và Judas Iscariot

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have covered the lives of ten disciples so far. Tonight, we are going to study about the lives of the 11th and the 12th disciples. They are Simon the Zealot and Judas Iscariot. 

Từ trước tới nay, chúng ta đã học cuộc đời của mười môn đồ. Tối nay, chúng ta sẽ học về cuộc đời của môn đồ thứ 11 và 12. Đó là Simon The Zealot và Judas Iscariot.

There is scant evidence about the life of Simon the Zealot. He is mentioned as Simon the Cananaean in this section, as well as in Mark 3: 18. In Luke 6: 15 and Acts 1:13 he is mentioned as Simon the Zealot. Both Cananaean and Zealot have the same meaning. 

Kinh Thánh không có nhiều dữ liệu về cuộc đời của Simon The Zealot. Ông được đề cập đến như là Simon của Cannanean trong phần này cũng như trong Mark 3:18. Trong Luke 6:15 và Acts 1:13 ông được đề cập đến như là Simon The Zealot. Cả Cananean và Zealot đều có cùng một nghĩa.

The meaning of zealot means a person who is zealous/jealous about one’s self, group, religion, country and so on. In Exodus 20:5 and Deuteronomy 5:9 God commanded You shall not bow down to them or worship them: for I the Lord your God am a jealous God, punishing children for the iniquity of the parents, to the third and fourth generation of those who reject me. When Jesus cleansed the temple by driving all the traders out of the temple, the prophecy about zealousness given in Psalm 69:10 was fulfilled. Again, Saint Paul explains his past life as a zealous person in Acts 22:3, Philippians 3: 6, and Galatians 1:14. 

Nghĩa của từ zealot nghĩa là một người sốt sắng về một nhóm, một tôn giáo một quốc gia, vân vân…Trong Exodus 20:5 và Deuteronomy 5:9 Chúa đã ban lệnh rằng Con không được cúi lậy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng; vì Ta là Đức Giê Hô Va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến thế hệ thứ ba, thứ tư. Khi Chúa thanh tẩy đền thờ bằng cách đuổi hết tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ, lời tiên tri về sự sốt sắng đã được ứng nghiệm được đưa ra trong Thi Thiên 69:9 Vì sự sốt sắng về nhà Chúa thiêu đốt con. Và Thánh Paul cũng miêu tả về cuộc đời mình như một người sốt sắng trong Acts 22:3, Philipians 3:6 và Galatians 1:14.

There was a group during the Old Testament period and during the time of Jesus who were zealous about God’s law and commandments. They were like extremists. During the time of Jesus, they worked secretly against the Roman empire. Saint Simon was a member of that group. The extremist nature of the zealots is mentioned in Acts 23: 12-14 In the morning the Jews joined in a conspiracy and bound themselves by an oath neither to eat nor drink until they had killed Paul. There were more than forty who joined in this conspiracy. They went to the chief priests and elders and said, we have strictly bound ourselves by an oath to taste no food until we have killed Paul. 

Có một nhóm người trong Cựu Ước và trong suốt thời của Chúa họ sốt sắng về luật của Chúa và các điều răn của Chúa. Họ là những kẻ cực đoan. Trong thời của Chúa Giê Su, họ âm thầm chống lại triều đình La Mã. Thánh Simon là một thành viên trong nhóm đó. Bản chất cực đoan của những người zealots được miêu tả trong Acts 23:12-14, Đến sáng người Do Thái lập mưu và thề với nhau rằng họ chẳng ăn chẳng uống cho đến khi giết được Pau lô. Có hơn bốn mươi người đã dự vào âm mưu đó. Họ đến với các thầy tế lễ cả và các trưởng lão nói rằng: chúng tôi đã thề với nhau chẳng ăn uống gì cho đến khi giết được Pau lô.

One may think that zealousness for the purpose of God is good. It is good to an extent but God never allows violence in the name of zealousness. Even at the Garden of Gethsemane, when Simon Peter attacked the soldiers, Jesus stopped him from doing so. Saint Paul said in Romans 10: 2 I can testify that they have a zeal for God, but it is not enlightened. As per this verse the zeal of the people is foolish because they are not lightened up with the knowledge of God. True zeal for God means true knowledge of God. That true knowledge is the love and grace of God.  

Một người có thể nghĩ rằng sự sốt sắng cho mục đích của Chúa là tốt. Nó tốt tới một mức độ nào đó thôi nhưng Chúa không bao giờ cho phép sự bao lực nhân danh sự sốt sắng. Ngay cả ở vườn Gethsemane khi Simon Peter tấn công những người lính, Chúa Giê Su đã ngăn ông lại. Thánh Paul nói trong Romans 10:2, Tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, nhưng lòng nhiệt thành đó thiếu tri thức. Như trong câu này nói rằng, sự sốt sắng của người ta là ngu ngốc bởi vì nó không được soi sáng bởi tri thức của Chúa. Sự sốt sắng thực sự cho Chúa có nghĩa là tri thức thực sự của Chúa. Tri thức thực sự đó là tình yêu và sự nhân từ của Chúa.

Saint Simon belonged to this group. It was only after he started following Jesus that he left the group. He was completely transformed by Jesus from an extremist to a peace loving disciple. Saint Simon preached in Syria, Iraq and Persia. He was sawed in half in Persia and was martyred. His prayers always intercede for us. 

Thánh Simon thuộc về nhóm này. Chỉ sau khi theo Chúa Giê Su, ông mới rời khỏi nhóm này. Và ông đã thay đổi hoàn toàn được Chúa biến đổi từ một kẻ cực đoan trở thành một môn đồ yêu chuộng hòa bình. Thánh Simon đã rao giảng ở Syria, Iraq và Ba Tư. Ông bị cưa nửa người và Ba Tư và bị tử vì đạo. Lời cầu nguyện của Thánh luôn cầu thay cho chúng ta.

The last of the disciples was Judas Iscariot. He was the one who betrayed Jesus. There are a few references about Judas in the Bible. Many people ask the question, didn’t Jesus know that Judas would betray Him? Of course yes, Jesus knew that Judas would betray Him as we read in Luke 22: 21 But see, the one who betrays me is with me, and his hand is on the table. So why did Jesus allow Judas to continue as His disciple? The simple answer is Jesus loves everyone including the sinners. We studied this in Matthew 5:43-45. Jesus not only taught to love the enemies, but He practiced what He taught. Jesus loved Judas equally as He loved all others. His love was not just hidden in the heart. Jesus showed His love to Jesus by correcting when Judas went wrong. This is evident in John 12: 1-8. Here we see that Judas was wrong in his thinking and what he said. And, Jesus immediately corrected him. 

Môn đồ cuối cùng của Chúa là Judas Iscariot. Đây là kẻ đã phản Chúa. Có một vài đoạn nói về Judas trong Kinh Thánh. Nhiều người hỏi câu hỏi, chẳng lẽ Chúa không biết Judas sẽ phản Ngài sao? Tất nhiên là Chúa có biết, Chúa biết trước là Judas sẽ phản Ngài trong Luke 22:21, Nầy bàn tay kẻ phản bội Ta đang để trên bàn với Ta. Vậy tại sao Chúa Giê Su cho phép Judas tiếp tục làm môn đồ của mình? Câu trả lời đơn giản là bởi vì Chúa Giê Su yêu thương tất cả mọi người kể cả những kẻ có tội. Chúng ta đọc điều này trong Matthew 5:43-45, Nhưng các con có nghe lời dạy rằng, Hãy thương yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch. Nhưng ta bảo các con: hãy thương yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con để các con được trở nên con của Cha các con ở trên trời, vì Ngài khiến mặt trời mọc lên chiếu sáng kẻ gian ác lẫn người lương thiện, ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. Chúa Giê Su không những dạy để yêu kẻ thù, nhưng Ngài còn thực hành những gì Ngài đã dạy dỗ. Chúa Giê Su cũng yêu thương Judas bằng với các môn đồ khác. Tình yêu của Ngài không chỉ che giấu trong lòng. Chúa thể hiện tình yêu thương với Judas bằng cách chỉ ra những điều sai phạm của Judas. Điều này được đưa ra trong John 12:1-8. Ở đây chúng ta thấy rằng Judas đã sai trong suy nghĩ và những điều mình nói. Và Chúa Giê Su đã ngay lập tức sửa dạy cho Judas.

Jesus could see the demon of greed working in Judas. Jesus could immediately kick Judas out saying you are demonic so I do not want you. Jesus did not do that. Instead, He did not allow the demon to succeed by correcting Judas. Looking into that incident, one may think and ask, what was wrong in Judas’ thinking? Isn’t using the money for charity a good thing rather than just wasting it? The answer is given by Jesus Himself in Luke 12:13-17. Through the reply, Jesus clearly teaches how to manage our money. He clearly said what is owed to God must be given to God. What is owed to the government in the form of tax must be paid to the government. I taught earlier that we should not cheat the government on paying tax. God does not want the government’s money and God’s money should be given to God. We need to search and find out how much of God’s money is kept with us and how much we have cheated the government. God’s money is only one tenth of our income. That we set aside and pay as tithe. 

Chúa Giê Su có thể nhìn thấy con quỷ tham lam hoạt động trong Judas. Chúa Giê Su có thể ngay lập tức đuổi Judas đi nói rằng ngươi là ma quỷ, ta không muốn ngươi. Chúa Giê Su đã không làm như vậy. Thay vào đó, Chúa không cho phép quỷ thành công bằng cách sửa dạy Judas. Nhìn vào tình huống đó, một người có thể nghĩ rằng, Judas có gì sau khi nghĩ vậy đâu? Chẳng phải tiền để làm từ thiện là một điều tốt thay vì lãng phí nó hay sao? Câu trả lời được đưa ra ở trong Luke 12:13-17. Qua câu trả lời, Chúa Giê Su đã dạy rõ cách để quản lý tiền bạc của chúng ta. Ngài chỉ rõ rằng, những gì thuộc về Chúa cần phải dành cho Chúa. Cái gì thuộc về chính phủ thì cần phải trả cho chính phủ. Cha đã dạy trước đây rằng chúng ta không được lừa chính phủ về vấn đề tiền thuế. Chúa không muốn tiền của chính phủ và tiền của Chúa thì cần phải được trả cho Chúa. Chúng ta cần phải tìm xem có bao nhiêu tiền của Chúa mà chúng ta vẫn đang cầm và bao nhiêu tiền chúng ta đã lừa chính phủ. Tiền của Chúa chỉ là một phần mười thu nhập. Chúng ta bỏ riêng tiền đó ra và trả như là tiền tithe.

People often say, what is the point of giving tithe? Can’t we just use that money for charity or something else. No, as Jesus said, you can always do charity whenever you want. For charity there is no account because Jesus said in Matthew 6:3 But when you give alms, do not let your left hand know what your right hand is doing. So, charity is a secret thing and should be done as much as you can. Whereas tithe is strictly accountable and is meant for God, which means the church. We use the tithe money to build and maintain the church. Building the church does not only mean using brick and mortar to construct a building. Yes, of course we can use the tithe for constructing a house for the Lord.

Người ta thường nói, mục đích của việc trả tithe là gì? Chúng ta sao không dùng tiền mà làm từ thiện hay việc khác. Không, Chúa nói, bạn có thể làm từ thiện bất kỳ khi nào bạn muốn. Đối với từ thiện thì không nên đếm bởi vì Chúa Giê Su nói trong Matthew 6:3 Khi làm việc từ thiện đừng cho tay trái biết tay phải làm gì. Vì vậy, từ thiện là một điều bí mật và cần được làm càng nhiều càng tốt. Trong khi đó tiền tithe thì được đếm rõ ràng và được dành cho Chúa, nghĩa là cho nhà thờ. Chúng ta sử dụng tiền tithe để xây dựng và duy trì nhà thờ. Xây dựng nhà thờ không phải chỉ là mang gạch, đá để xây nên nhà thờ. Mặc dù chúng ta có thể sử dụng tiền tithe để xây nhà cho Chúa.

But more than that, building a church means sharing the Word of God with others and bringing them to be part of the church. In a spiritual sense, the church means all the members joined together with Jesus. So when Judas objected to wasting money and said it could be used for charity instead, it was the devil trying to object to building a church. Hence, Jesus corrected Judas. This is a great lesson to us. If you hide God’s money and refuse to pay tithe, it means, you are refusing the souls to be saved and join the body of Christ which is called the Church. Therefore, be extremely careful with God’s money. As I said, Jesus did not kick Judas out, but corrected him. This demonstrates God’s love to the sinners too. God waits patiently by telling the sinners regularly what is wrong. 

Nhưng hơn thế, xây dựng nhà thờ nghĩa là chia sẻ Lời của Chúa với người khác và mang họ trở thành một phần của Nhà thờ. Theo ý nghĩa tâm linh, nhà thờ nghĩa là tất cả các thành viên tham gia cùng với Chúa. Vì thế khi Judas phản đối việc lãng phí tiền và nói là để làm từ thiện, chính là quỷ đang cố gắng phản đối việc xây dựng nhà thờ. Do đó, Chúa Giê Su đã sửa dạy Judas. Đây là bài học lớn cho chúng ta. Nếu bạn giấu tiền của Chúa và từ chối trả tiền tithe, có nghĩa là bạn đang từ chối linh hồn mình được cứu và từ chối tham gia vào thân thể của Chúa cái mà còn được gọi là Nhà thờ. Do đó, hãy thật cẩn thận với tiền của Chúa. Như tôi nói, Chúa Giê Su đã không đuổi Judas đi nhưng sửa dạy Judas. Điều này thể hiện tình yêu của Chúa đối với kẻ có tội. Chúa chờ đợi kiên nhẫn bằng cách nói cho kẻ có tội điều sai điều đúng.

But, we see that despite Jesus correcting him, Judas never changed. Money was a weakness for Judas. We read  earlier in John 12:6 that the money bag was with Judas and he used to regularly steal from it. It is so sad to see that Judas was walking with Jesus, and at the same time stealing God’s money. Jesus and His 12 disciples comprised the first church. So, like our church in Vietnam, the church has only very few members. And, one member of that church was stealing money from the church. Imagine that the disciples were singing with Jesus and praying with Jesus. But, among them there was one stealing. Even today, we get to see people who pray for hours together, kneeling and weeping, reading the Bible and worshipping. But, at the same time, they steal God’s money. The stealing could be either directly or indirectly. Indirect stealing is by refusing to pay tithe and using it for meeting personal needs. Like Judas, such people would say, oh it is a waste of money, and there is no point in paying tithe.

Nhưng, chúng ta thấy rằng mặc dù Chúa sửa dạy, Judas cũng chẳng bao giờ thay đổi. Tiền là điểm yếu của Judas. Chúng ta đọc trước đó trong John 12:6 rằng túi tiền ở cùng với Judas và hắn thường trộm tiền từ đó. Thật buồn khi nhìn thấy Judas đi cùng với Chúa và cùng lúc đó lại trộm tiền của Chúa. Chúa Giê Su và 12 môn đồ đã hình thành nhà thờ đầu tiên. Vì vậy, cũng giống như nhà thờ ở Việt Nam, nhà thờ chỉ có một vài thành viên. Và một thành viên của nhà thờ đang ăn trộm tiền của nhà thờ. Tưởng tượng các môn đồ đang hát cùng với Chúa và cầu nguyện. Nhưng giữa họ lại có một người đang ăn trộm. Ngay cả ngày nay, chúng ta nhìn thấy có những người cầu nguyện nhiều giờ liền, quỳ gối, khóc lóc, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Nhưng cùng lúc đó, họ ăn trộm tiền của Chúa. Việc ăn trộm có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Ăn trộm gián tiếp là từ chối trả tiền tithe và sử dụng nó cho việc cá nhân. Giống như Judas, những người đó sẽ nói rằng, lãng phí tiền, chẳng có ích gì khi trả tiền tithe cả.

Do not forget, we will be asked to show our accounts by God, when we will have to explain everything including the money. Jesus was God, but still as the Son of God, He gave His accounts to God the Father. We read that in John 17:12 While I was with them, I protected them in your name that you have given me. I guarded them, and not one of them was lost except the one destined to be lost, so that the Scripture might be fulfilled. We see clearly here how Jesus is giving accounts to God the Father. In the same way, we should also be clear with our accounts, and say, Lord, last month you gave me this much of money. And I have paid one tenth of what you gave me. If we do that, then we are clear with our accounts. 

Đừng quên rằng, chúng ta sẽ được Chúa hỏi về các khoản và lúc đó chúng ta sẽ phải giải trình mọi thứ bao gồm cả tiền bạc. Chúa Giê Su là Chúa, nhưng cũng là con của Chúa, Ngài cũng giải trình các khoản trước Cha. Chúng ta đọc trong John 17:12 rằng Trong lúc còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ trong Danh Cha, là Danh Cha đã ban cho con; Con đã bảo vệ họ, không để mất một ai, trừ đứa con của sự hư mất để Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. Chúng ta có thể thấy Chúa đã giải trình cho Chúa Cha như thế nào. Tương tự như vậy, chúng ta cũng phải giải trình rõ ràng với các khoản của chúng ta, và nói, Chúa ơi, tháng trước Ngài đã ban cho con bằng này tiền. Và con đã trả 1/10 những gì Ngài ban cho con. Nếu chúng ta làm thế, ấy là chúng ta trung thực với các khoản của mình.

Jesus said, I tried several times to correct Judas. But, he never changed. Instead, he was stubborn. He could not get rid of his greed. He could not be honest with money matters. He never tried to get rid of the demon of greed. And now, he is lost. What we learn here is, even if we do not pay tithe, God will not kick us out of His love. He will keep telling you to be careful. If we do not listen to Him, then we will one day fall fully in the devil’s trap. After that we will be unable to escape. This is what happened with Judas. Judas accepted a bribe to betray Jesus. After Jesus was caught and sentenced to be crucified to death, Judas felt guilt. He decided to repent and went back to return the money. Let us read Matthew 27:3-5.

Chúa Giê Su nói, ta đã vài lần sửa Judas rồi. Nhưng nó không thay đổi. Thay vào đó, nó rất ngang bướng. Nó không bỏ sự tham lam của mình. Nó không loại bỏ sự tham lam của mình. Nó không thể trung thực với vấn đề tiền bạc. Nó không muốn dứt bỏ con quỷ tham lam. Và giờ, nó đã bị lạc lối. Điều chúng ta thấy ở đây rằng là, ngay cả khi chúng ta không trả tiền tithe, Chúa sẽ không đá chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài. Ngài sẽ cứ bảo chúng ta rằng phải cẩn thận đấy. Nếu chúng ta không lắng nghe Ngài, một ngày chúng ta rơi hoàn toàn vào bẫy của quỷ. Sau đó chúng ta sẽ không thể thoát ra được. Đó là điều xảy ra với Judas. Judas đã chấp nhận một khoản hối lộ để phản bội Chúa. Sau khi Chúa Giê Su bị bắt và bị xử tội chết, Judas cảm thấy tội lỗi. Nó ăn năn và quay lại trả lại tiền. Chúng ta hãy đọc Matthew 27:3-5. Khi Judas, kẻ phản Ngài thấy Ngài bị kết án thì hối hận, đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Nhưng họ đáp: Việc ấy thì có liên can gì đến chúng tôi? Đó là việc của anh. Giu đá ném bạc vào đền thờ, rồi trở ra đi thắt cổ.

As we see here, once we fall fully into the devil's trap of greed, there is no escape. Saint Paul said in 1 Timothy 6:10 For the love of money is a root of all kinds of evil, and in their eagerness to be rich some have wandered away from the faith and pierced themselves with many pains. This is what happened to Judas. His greed for money led him finally to suicide. You can use God’s money for anything- you can buy a car, a new house, gold or anything that you want. You can even set up a business with God’s money. But don't forget, the final outcome will be your complete disaster. Don’t think that God will destroy you. Never. It is the devil that will drag you away and destroy you. The spirit of suicide told Judas, go and kill yourself. And that was the end of greed. 

Chúng ta thấy ở đây rằng, một khi chúng ta rơi hoàn toàn vào bẫy của con quỷ tham lam, không lối thoát. Thánh Paul nói trong 1 Timothy 6:10 Vì lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác, một số người vì đeo đuổi nó mà lìa bỏ đức tin, tự chuốc lấy nhiều nỗi đau nhức nhối. Đây là điều xảy ra với Judas. Lòng tham tiền đã dẫn nó tới chỗ tự sát. Bạn có thể dùng tiền của Chúa cho bất kỳ việc gì – bạn có thể mua oto, mua nhà, vàng hay bất kỳ điều gì mình muốn. Bạn có thể mở công việc kinh doanh với tiền của Chúa. Đừng nghĩ Chúa sẽ hủy diệt bạn. Không đâu. Chính là quỷ sẽ lôi bạn đi và hủy diệt bạn. Ác linh tự sát bảo Judas, hãy đi và kết liễu đời mầy đi. Và đó là sự cuối cùng của sự tham lam.

I mentioned earlier that church is the body of Christ. Keeping that in mind let us read John 6:66-71. Here we see an interesting phenomenon. Many of the followers of Jesus started leaving as they found His teachings difficult. The teaching was about the body and blood of Jesus as we see in the earlier section of John 6. The people started leaving after Jesus started teaching about the Holy Qurbana which is receiving the body and blood of Jesus at the church.

Tôi đề cập trước đó rằng Nhà thờ là thân thể của Đấng Christ. Hãy nhớ điều đó và đọc John 6:66-71. Ở đây chúng ta thấy một hiện tượng thú vị. Nhiều người theo Chúa bắt đầu rời đi sau khi họ thấy lời dạy khó khăn. Lời dạy đó là về thân thể và máu của Chúa như chúng ta đọc trong John 6. Người ta bắt đầu bỏ đi sau khi Chúa dạy về Holy Qurbana đó là nhận máu và thân thể của Chúa ở nhà thờ.

The moment we think about Holy Qurbana, the devil becomes active. He will do everything possible to divert you and drag you away from Holy Qurbana. It happened with Judas as well. He was dragged away immediately after receiving the first Holy Qurbana. Let us read Luke 22: 19-21. But, immediately after receiving Holy Qurbana, Satan entered Judas as we read in John 13:27 After he received the piece of bread, Satan entered into him. Jesus said to him, do quickly what you are going to do. 

Ngay khi chúng ta nghĩ về Holy Qurbana, quỷ bắt đầu trở nên hoạt động tích cực. Nó sẽ làm mọi thứ có thể để lạc hướng bạn và kéo bạn ra khỏi lễ Holy Qurbana. Điều này cũng xảy ra với Judas nữa. Nó đã bị kéo xa ngay lập tức sau khi nhận lễ Holy Qurbana đầu tiên. Chúng ta hãy đọc Luke 22:19-21. Nhưng ngay sau khi nhận lễ Holy Qurbana, Satan sà vào lòng Judas như chúng ta đọc trong John 13:27 Sau khi Judas nhận lấy miếng bánh thì Satan vào lòng anh ta. Đức Chúa Giê Su bảo Judas: Việc con làm, hãy làm nhanh đi.

Looking closely into this. We see that Judas received the Holy Qurbana but was not able to enjoy it. The reason is, Judas did not confess fully nor repent before receiving the Holy Qurbana. In fact Satan was already there inside Judas even before receiving the Holy Qurbana as we read in Luke 22: 3 Then Satan entered Judas called Iscariot, who was of the twelve. This happened before the first Holy Qurbana. What it means is Judas did not completely shut the door to Satan. So the devil kept coming in and going out. And as read in John 13”27, it was too late for even Jesus to help me. Jesus was convinced that Judas was lost forever. Hence, He said, do quickly what you are going to do. Judas had the last chance to repent when Jesus said this to him. But instead, we read that he immediately left the place. So, it was Judas’ choice to go with Satan. Jesus never kicked him out. 

Nhìn kỹ vào tình huống này. Chúng ta thấy rằng Judas đã nhận Holy Qurbana nhưng đã không trân trọng hay vui vẻ. Lý do là vì Judas đã không xưng tội hoàn toàn và cũng không sám hối trước khi nhận Holy Qurbana. Thực tế, Satan đã ở đó trong Judas ngay cả trước khi nhận Holy Qurbana như chúng ta đọc trong Luke 22:3 Lúc ấy, quỷ Satan nhập vào Judas gọi là Iscariot, là một trong số 12 môn đồ. Điều này xảy ra trước lễ Holy Qurbana đầu tiên. Có nghĩa là Judas đã không đóng hoàn toàn cửa trước Satan. Vì vậy quỷ cứ đi ra đi vào. Và như chúng ta đọc trong John 13:27, đã quá muộn để Chúa Giê Su có thể giúp nó. Chúa đã tin chắc rằng Judas bị hư mất vĩnh viễn. Do đó, Ngài nói, việc con làm hãy làm nhanh đi. Judas đã có cơ hội cuối cùng để xưng tội khi Chúa Giê Su nói điều này với nó. Nhưng thay vào đó, chúng ta đọc rằng nó đã mau chóng rời khỏi chỗ mình. Vì thế, đó là sự lựa chọn của Judas để đi với quỷ. Chúa chẳng bao giờ đuổi nó đi cả.

Dear friends, Jesus waits patiently for you. Whenever you are lost, and whatever sins you commit, He constantly reminds you to come back. But, the decision is yours. Jesus will never forcefully bring anyone to Him. He does everything out of pure love. In His love, Jesus keeps calling us. In His love, Jesus keeps trying to correct us. But, if someone is determined to destroy the self, and keeps rejecting the Lord, it is what they choose. God cannot be blamed for that. 

Các bạn thân mến, Chúa Giê Su kiên nhẫn chờ bạn. Mỗi khi bạn lạc lối, và với bất kỳ tội lỗi nào bạn mắc phải, Ngài luôn nhắc bạn quay trở lại. Nhưng, quyết định là ở bạn. Chúa Giê Su sẽ không bao giờ ép buộc ai đến với Ngài cả. Ngài làm mọi thứ đều do tình yêu chân thực. Nhưng nếu ai đó kiên quyết tự hủy hoại chính mình và từ chối Chúa, thì đó điều họ chọn. Chúa không thể bị đổ lỗi về điều đó.

Judas hanged himself and did. His death was horrific. Let us read Acts 1: 17-18. Judas tried to return the money that he accepted as a bribe to betray Jesus. But the chief priests refused. So, he used that money to buy some land. But the fate was, he had to hang himself on a tree in his own land. The tradition says that after this incident, he was caught with a disease of obesity. His body started swelling and swelling. He was completely shattered with his disease and eventually decided to commit suicide. So it was a very fat Judas that tried to hang himself. And that is what we read in Acts 1:18 that even after hanging he could not die but fell on the weight of his body as the rope which he used to hang could not hold his weight. The rope broke, and he fell down. When he fell down, his body was burst in the middle and all the bowels gushed out. 

Judas đã treo cổ tự vẫn. Cái chết của nó thật thương tâm. Chúng ta hãy đọc Acts 1:17-18, Vì nó vốn ở trong số chúng ta và đã dự phần trong chức vụ nầy. Nó lấy tiền thưởng của tội ác mình mà mua một đám ruộng rồi ngã nhào xuống đó, nứt bụng và đổ ruột ra. Judas đã cố đem trả tiền mà nó nhận như là sự hối lộ để phản bội Chúa. Nhưng các thầy tế lễ cả đã từ chối. Vì vậy, nó dùng tiền để mua ruộng. Nhưng trớ trêu thay, nó đã phải treo mình tự tử trên chính đám ruộng mà mình mua. Chuyện kể rằng sau sự kiện này, nó bị bệnh béo phì. Thân thể bắt đầu nứt ra và phình lên. Nó hoàn toàn bị kiệt quệ bởi căn bệnh này và cuối cùng quyết định tự vẫn. Chính là một tên Judas quá béo đã tìm cách tự sát. Và điều chúng ta đọc trong Acts 1:18 đó là ngay cả khi treo mình lên, nó không chết và ngã xuống và nứt bụng ra bởi vì sợ dây thừng để treo lên không giữ được sức nặng của nó. Dây đứt và nó ngã xuống. Khi nó ngã xuống, thân xác nó ngã nhào xuống và bể bụng ra.

The biggest question that we should ask ourselves is, what do we get by cheating God? What do we get by stealing God’s money? What do we get by betraying Holy Qurbana? Certainly, we do not want the fate of Judas. We want the fate of the other disciples who are enjoying their life in heaven with Jesus.

Câu hỏi lớn nhất mà chúng ta hỏi bản thân mình là, chúng ta được gì khi lừa dối Chúa? Chúng ta nhận được điều gì khi ăn cắp tiền của Chúa? Chúng ta được gì khi phản bội Holy Qurbana. Chắc chắn chúng ta không muốn số phận của Judas. Chúng ta muốn số phận của các môn đồ khác những người đang được sống trên thiên đàng cùng với Chúa Giê Su.

May God’s blessing be with all of us.

Amen.