Saturday, October 2, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh Simon The Zealot và Judas Iscariot

 Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have covered the lives of ten disciples so far. Tonight, we are going to study about the lives of the 11th and the 12th disciples. They are Simon the Zealot and Judas Iscariot. 

Từ trước tới nay, chúng ta đã học cuộc đời của mười môn đồ. Tối nay, chúng ta sẽ học về cuộc đời của môn đồ thứ 11 và 12. Đó là Simon The Zealot và Judas Iscariot.

There is scant evidence about the life of Simon the Zealot. He is mentioned as Simon the Cananaean in this section, as well as in Mark 3: 18. In Luke 6: 15 and Acts 1:13 he is mentioned as Simon the Zealot. Both Cananaean and Zealot have the same meaning. 

Kinh Thánh không có nhiều dữ liệu về cuộc đời của Simon The Zealot. Ông được đề cập đến như là Simon của Cannanean trong phần này cũng như trong Mark 3:18. Trong Luke 6:15 và Acts 1:13 ông được đề cập đến như là Simon The Zealot. Cả Cananean và Zealot đều có cùng một nghĩa.

The meaning of zealot means a person who is zealous/jealous about one’s self, group, religion, country and so on. In Exodus 20:5 and Deuteronomy 5:9 God commanded You shall not bow down to them or worship them: for I the Lord your God am a jealous God, punishing children for the iniquity of the parents, to the third and fourth generation of those who reject me. When Jesus cleansed the temple by driving all the traders out of the temple, the prophecy about zealousness given in Psalm 69:10 was fulfilled. Again, Saint Paul explains his past life as a zealous person in Acts 22:3, Philippians 3: 6, and Galatians 1:14. 

Nghĩa của từ zealot nghĩa là một người sốt sắng về một nhóm, một tôn giáo một quốc gia, vân vân…Trong Exodus 20:5 và Deuteronomy 5:9 Chúa đã ban lệnh rằng Con không được cúi lậy trước các hình tượng đó hay phụng thờ chúng; vì Ta là Đức Giê Hô Va Đức Chúa Trời của con, là Đức Chúa Trời kỵ tà. Đối với những kẻ ghét Ta, Ta sẽ vì tội đó của tổ tiên mà trừng phạt con cháu họ đến thế hệ thứ ba, thứ tư. Khi Chúa thanh tẩy đền thờ bằng cách đuổi hết tất cả những kẻ buôn bán ra khỏi đền thờ, lời tiên tri về sự sốt sắng đã được ứng nghiệm được đưa ra trong Thi Thiên 69:9 Vì sự sốt sắng về nhà Chúa thiêu đốt con. Và Thánh Paul cũng miêu tả về cuộc đời mình như một người sốt sắng trong Acts 22:3, Philipians 3:6 và Galatians 1:14.

There was a group during the Old Testament period and during the time of Jesus who were zealous about God’s law and commandments. They were like extremists. During the time of Jesus, they worked secretly against the Roman empire. Saint Simon was a member of that group. The extremist nature of the zealots is mentioned in Acts 23: 12-14 In the morning the Jews joined in a conspiracy and bound themselves by an oath neither to eat nor drink until they had killed Paul. There were more than forty who joined in this conspiracy. They went to the chief priests and elders and said, we have strictly bound ourselves by an oath to taste no food until we have killed Paul. 

Có một nhóm người trong Cựu Ước và trong suốt thời của Chúa họ sốt sắng về luật của Chúa và các điều răn của Chúa. Họ là những kẻ cực đoan. Trong thời của Chúa Giê Su, họ âm thầm chống lại triều đình La Mã. Thánh Simon là một thành viên trong nhóm đó. Bản chất cực đoan của những người zealots được miêu tả trong Acts 23:12-14, Đến sáng người Do Thái lập mưu và thề với nhau rằng họ chẳng ăn chẳng uống cho đến khi giết được Pau lô. Có hơn bốn mươi người đã dự vào âm mưu đó. Họ đến với các thầy tế lễ cả và các trưởng lão nói rằng: chúng tôi đã thề với nhau chẳng ăn uống gì cho đến khi giết được Pau lô.

One may think that zealousness for the purpose of God is good. It is good to an extent but God never allows violence in the name of zealousness. Even at the Garden of Gethsemane, when Simon Peter attacked the soldiers, Jesus stopped him from doing so. Saint Paul said in Romans 10: 2 I can testify that they have a zeal for God, but it is not enlightened. As per this verse the zeal of the people is foolish because they are not lightened up with the knowledge of God. True zeal for God means true knowledge of God. That true knowledge is the love and grace of God.  

Một người có thể nghĩ rằng sự sốt sắng cho mục đích của Chúa là tốt. Nó tốt tới một mức độ nào đó thôi nhưng Chúa không bao giờ cho phép sự bao lực nhân danh sự sốt sắng. Ngay cả ở vườn Gethsemane khi Simon Peter tấn công những người lính, Chúa Giê Su đã ngăn ông lại. Thánh Paul nói trong Romans 10:2, Tôi làm chứng cho họ rằng họ có lòng nhiệt thành với Đức Chúa Trời, nhưng lòng nhiệt thành đó thiếu tri thức. Như trong câu này nói rằng, sự sốt sắng của người ta là ngu ngốc bởi vì nó không được soi sáng bởi tri thức của Chúa. Sự sốt sắng thực sự cho Chúa có nghĩa là tri thức thực sự của Chúa. Tri thức thực sự đó là tình yêu và sự nhân từ của Chúa.

Saint Simon belonged to this group. It was only after he started following Jesus that he left the group. He was completely transformed by Jesus from an extremist to a peace loving disciple. Saint Simon preached in Syria, Iraq and Persia. He was sawed in half in Persia and was martyred. His prayers always intercede for us. 

Thánh Simon thuộc về nhóm này. Chỉ sau khi theo Chúa Giê Su, ông mới rời khỏi nhóm này. Và ông đã thay đổi hoàn toàn được Chúa biến đổi từ một kẻ cực đoan trở thành một môn đồ yêu chuộng hòa bình. Thánh Simon đã rao giảng ở Syria, Iraq và Ba Tư. Ông bị cưa nửa người và Ba Tư và bị tử vì đạo. Lời cầu nguyện của Thánh luôn cầu thay cho chúng ta.

The last of the disciples was Judas Iscariot. He was the one who betrayed Jesus. There are a few references about Judas in the Bible. Many people ask the question, didn’t Jesus know that Judas would betray Him? Of course yes, Jesus knew that Judas would betray Him as we read in Luke 22: 21 But see, the one who betrays me is with me, and his hand is on the table. So why did Jesus allow Judas to continue as His disciple? The simple answer is Jesus loves everyone including the sinners. We studied this in Matthew 5:43-45. Jesus not only taught to love the enemies, but He practiced what He taught. Jesus loved Judas equally as He loved all others. His love was not just hidden in the heart. Jesus showed His love to Jesus by correcting when Judas went wrong. This is evident in John 12: 1-8. Here we see that Judas was wrong in his thinking and what he said. And, Jesus immediately corrected him. 

Môn đồ cuối cùng của Chúa là Judas Iscariot. Đây là kẻ đã phản Chúa. Có một vài đoạn nói về Judas trong Kinh Thánh. Nhiều người hỏi câu hỏi, chẳng lẽ Chúa không biết Judas sẽ phản Ngài sao? Tất nhiên là Chúa có biết, Chúa biết trước là Judas sẽ phản Ngài trong Luke 22:21, Nầy bàn tay kẻ phản bội Ta đang để trên bàn với Ta. Vậy tại sao Chúa Giê Su cho phép Judas tiếp tục làm môn đồ của mình? Câu trả lời đơn giản là bởi vì Chúa Giê Su yêu thương tất cả mọi người kể cả những kẻ có tội. Chúng ta đọc điều này trong Matthew 5:43-45, Nhưng các con có nghe lời dạy rằng, Hãy thương yêu người lân cận, và hãy ghét kẻ thù nghịch. Nhưng ta bảo các con: hãy thương yêu kẻ thù nghịch và cầu nguyện cho kẻ bắt bớ các con để các con được trở nên con của Cha các con ở trên trời, vì Ngài khiến mặt trời mọc lên chiếu sáng kẻ gian ác lẫn người lương thiện, ban mưa cho người công chính lẫn người bất chính. Chúa Giê Su không những dạy để yêu kẻ thù, nhưng Ngài còn thực hành những gì Ngài đã dạy dỗ. Chúa Giê Su cũng yêu thương Judas bằng với các môn đồ khác. Tình yêu của Ngài không chỉ che giấu trong lòng. Chúa thể hiện tình yêu thương với Judas bằng cách chỉ ra những điều sai phạm của Judas. Điều này được đưa ra trong John 12:1-8. Ở đây chúng ta thấy rằng Judas đã sai trong suy nghĩ và những điều mình nói. Và Chúa Giê Su đã ngay lập tức sửa dạy cho Judas.

Jesus could see the demon of greed working in Judas. Jesus could immediately kick Judas out saying you are demonic so I do not want you. Jesus did not do that. Instead, He did not allow the demon to succeed by correcting Judas. Looking into that incident, one may think and ask, what was wrong in Judas’ thinking? Isn’t using the money for charity a good thing rather than just wasting it? The answer is given by Jesus Himself in Luke 12:13-17. Through the reply, Jesus clearly teaches how to manage our money. He clearly said what is owed to God must be given to God. What is owed to the government in the form of tax must be paid to the government. I taught earlier that we should not cheat the government on paying tax. God does not want the government’s money and God’s money should be given to God. We need to search and find out how much of God’s money is kept with us and how much we have cheated the government. God’s money is only one tenth of our income. That we set aside and pay as tithe. 

Chúa Giê Su có thể nhìn thấy con quỷ tham lam hoạt động trong Judas. Chúa Giê Su có thể ngay lập tức đuổi Judas đi nói rằng ngươi là ma quỷ, ta không muốn ngươi. Chúa Giê Su đã không làm như vậy. Thay vào đó, Chúa không cho phép quỷ thành công bằng cách sửa dạy Judas. Nhìn vào tình huống đó, một người có thể nghĩ rằng, Judas có gì sau khi nghĩ vậy đâu? Chẳng phải tiền để làm từ thiện là một điều tốt thay vì lãng phí nó hay sao? Câu trả lời được đưa ra ở trong Luke 12:13-17. Qua câu trả lời, Chúa Giê Su đã dạy rõ cách để quản lý tiền bạc của chúng ta. Ngài chỉ rõ rằng, những gì thuộc về Chúa cần phải dành cho Chúa. Cái gì thuộc về chính phủ thì cần phải trả cho chính phủ. Cha đã dạy trước đây rằng chúng ta không được lừa chính phủ về vấn đề tiền thuế. Chúa không muốn tiền của chính phủ và tiền của Chúa thì cần phải được trả cho Chúa. Chúng ta cần phải tìm xem có bao nhiêu tiền của Chúa mà chúng ta vẫn đang cầm và bao nhiêu tiền chúng ta đã lừa chính phủ. Tiền của Chúa chỉ là một phần mười thu nhập. Chúng ta bỏ riêng tiền đó ra và trả như là tiền tithe.

People often say, what is the point of giving tithe? Can’t we just use that money for charity or something else. No, as Jesus said, you can always do charity whenever you want. For charity there is no account because Jesus said in Matthew 6:3 But when you give alms, do not let your left hand know what your right hand is doing. So, charity is a secret thing and should be done as much as you can. Whereas tithe is strictly accountable and is meant for God, which means the church. We use the tithe money to build and maintain the church. Building the church does not only mean using brick and mortar to construct a building. Yes, of course we can use the tithe for constructing a house for the Lord.

Người ta thường nói, mục đích của việc trả tithe là gì? Chúng ta sao không dùng tiền mà làm từ thiện hay việc khác. Không, Chúa nói, bạn có thể làm từ thiện bất kỳ khi nào bạn muốn. Đối với từ thiện thì không nên đếm bởi vì Chúa Giê Su nói trong Matthew 6:3 Khi làm việc từ thiện đừng cho tay trái biết tay phải làm gì. Vì vậy, từ thiện là một điều bí mật và cần được làm càng nhiều càng tốt. Trong khi đó tiền tithe thì được đếm rõ ràng và được dành cho Chúa, nghĩa là cho nhà thờ. Chúng ta sử dụng tiền tithe để xây dựng và duy trì nhà thờ. Xây dựng nhà thờ không phải chỉ là mang gạch, đá để xây nên nhà thờ. Mặc dù chúng ta có thể sử dụng tiền tithe để xây nhà cho Chúa.

But more than that, building a church means sharing the Word of God with others and bringing them to be part of the church. In a spiritual sense, the church means all the members joined together with Jesus. So when Judas objected to wasting money and said it could be used for charity instead, it was the devil trying to object to building a church. Hence, Jesus corrected Judas. This is a great lesson to us. If you hide God’s money and refuse to pay tithe, it means, you are refusing the souls to be saved and join the body of Christ which is called the Church. Therefore, be extremely careful with God’s money. As I said, Jesus did not kick Judas out, but corrected him. This demonstrates God’s love to the sinners too. God waits patiently by telling the sinners regularly what is wrong. 

Nhưng hơn thế, xây dựng nhà thờ nghĩa là chia sẻ Lời của Chúa với người khác và mang họ trở thành một phần của Nhà thờ. Theo ý nghĩa tâm linh, nhà thờ nghĩa là tất cả các thành viên tham gia cùng với Chúa. Vì thế khi Judas phản đối việc lãng phí tiền và nói là để làm từ thiện, chính là quỷ đang cố gắng phản đối việc xây dựng nhà thờ. Do đó, Chúa Giê Su đã sửa dạy Judas. Đây là bài học lớn cho chúng ta. Nếu bạn giấu tiền của Chúa và từ chối trả tiền tithe, có nghĩa là bạn đang từ chối linh hồn mình được cứu và từ chối tham gia vào thân thể của Chúa cái mà còn được gọi là Nhà thờ. Do đó, hãy thật cẩn thận với tiền của Chúa. Như tôi nói, Chúa Giê Su đã không đuổi Judas đi nhưng sửa dạy Judas. Điều này thể hiện tình yêu của Chúa đối với kẻ có tội. Chúa chờ đợi kiên nhẫn bằng cách nói cho kẻ có tội điều sai điều đúng.

But, we see that despite Jesus correcting him, Judas never changed. Money was a weakness for Judas. We read  earlier in John 12:6 that the money bag was with Judas and he used to regularly steal from it. It is so sad to see that Judas was walking with Jesus, and at the same time stealing God’s money. Jesus and His 12 disciples comprised the first church. So, like our church in Vietnam, the church has only very few members. And, one member of that church was stealing money from the church. Imagine that the disciples were singing with Jesus and praying with Jesus. But, among them there was one stealing. Even today, we get to see people who pray for hours together, kneeling and weeping, reading the Bible and worshipping. But, at the same time, they steal God’s money. The stealing could be either directly or indirectly. Indirect stealing is by refusing to pay tithe and using it for meeting personal needs. Like Judas, such people would say, oh it is a waste of money, and there is no point in paying tithe.

Nhưng, chúng ta thấy rằng mặc dù Chúa sửa dạy, Judas cũng chẳng bao giờ thay đổi. Tiền là điểm yếu của Judas. Chúng ta đọc trước đó trong John 12:6 rằng túi tiền ở cùng với Judas và hắn thường trộm tiền từ đó. Thật buồn khi nhìn thấy Judas đi cùng với Chúa và cùng lúc đó lại trộm tiền của Chúa. Chúa Giê Su và 12 môn đồ đã hình thành nhà thờ đầu tiên. Vì vậy, cũng giống như nhà thờ ở Việt Nam, nhà thờ chỉ có một vài thành viên. Và một thành viên của nhà thờ đang ăn trộm tiền của nhà thờ. Tưởng tượng các môn đồ đang hát cùng với Chúa và cầu nguyện. Nhưng giữa họ lại có một người đang ăn trộm. Ngay cả ngày nay, chúng ta nhìn thấy có những người cầu nguyện nhiều giờ liền, quỳ gối, khóc lóc, đọc Kinh Thánh và cầu nguyện. Nhưng cùng lúc đó, họ ăn trộm tiền của Chúa. Việc ăn trộm có thể là trực tiếp hoặc gián tiếp. Ăn trộm gián tiếp là từ chối trả tiền tithe và sử dụng nó cho việc cá nhân. Giống như Judas, những người đó sẽ nói rằng, lãng phí tiền, chẳng có ích gì khi trả tiền tithe cả.

Do not forget, we will be asked to show our accounts by God, when we will have to explain everything including the money. Jesus was God, but still as the Son of God, He gave His accounts to God the Father. We read that in John 17:12 While I was with them, I protected them in your name that you have given me. I guarded them, and not one of them was lost except the one destined to be lost, so that the Scripture might be fulfilled. We see clearly here how Jesus is giving accounts to God the Father. In the same way, we should also be clear with our accounts, and say, Lord, last month you gave me this much of money. And I have paid one tenth of what you gave me. If we do that, then we are clear with our accounts. 

Đừng quên rằng, chúng ta sẽ được Chúa hỏi về các khoản và lúc đó chúng ta sẽ phải giải trình mọi thứ bao gồm cả tiền bạc. Chúa Giê Su là Chúa, nhưng cũng là con của Chúa, Ngài cũng giải trình các khoản trước Cha. Chúng ta đọc trong John 17:12 rằng Trong lúc còn ở với họ, Con đã gìn giữ họ trong Danh Cha, là Danh Cha đã ban cho con; Con đã bảo vệ họ, không để mất một ai, trừ đứa con của sự hư mất để Lời Kinh Thánh được ứng nghiệm. Chúng ta có thể thấy Chúa đã giải trình cho Chúa Cha như thế nào. Tương tự như vậy, chúng ta cũng phải giải trình rõ ràng với các khoản của chúng ta, và nói, Chúa ơi, tháng trước Ngài đã ban cho con bằng này tiền. Và con đã trả 1/10 những gì Ngài ban cho con. Nếu chúng ta làm thế, ấy là chúng ta trung thực với các khoản của mình.

Jesus said, I tried several times to correct Judas. But, he never changed. Instead, he was stubborn. He could not get rid of his greed. He could not be honest with money matters. He never tried to get rid of the demon of greed. And now, he is lost. What we learn here is, even if we do not pay tithe, God will not kick us out of His love. He will keep telling you to be careful. If we do not listen to Him, then we will one day fall fully in the devil’s trap. After that we will be unable to escape. This is what happened with Judas. Judas accepted a bribe to betray Jesus. After Jesus was caught and sentenced to be crucified to death, Judas felt guilt. He decided to repent and went back to return the money. Let us read Matthew 27:3-5.

Chúa Giê Su nói, ta đã vài lần sửa Judas rồi. Nhưng nó không thay đổi. Thay vào đó, nó rất ngang bướng. Nó không bỏ sự tham lam của mình. Nó không loại bỏ sự tham lam của mình. Nó không thể trung thực với vấn đề tiền bạc. Nó không muốn dứt bỏ con quỷ tham lam. Và giờ, nó đã bị lạc lối. Điều chúng ta thấy ở đây rằng là, ngay cả khi chúng ta không trả tiền tithe, Chúa sẽ không đá chúng ta ra khỏi tình yêu của Ngài. Ngài sẽ cứ bảo chúng ta rằng phải cẩn thận đấy. Nếu chúng ta không lắng nghe Ngài, một ngày chúng ta rơi hoàn toàn vào bẫy của quỷ. Sau đó chúng ta sẽ không thể thoát ra được. Đó là điều xảy ra với Judas. Judas đã chấp nhận một khoản hối lộ để phản bội Chúa. Sau khi Chúa Giê Su bị bắt và bị xử tội chết, Judas cảm thấy tội lỗi. Nó ăn năn và quay lại trả lại tiền. Chúng ta hãy đọc Matthew 27:3-5. Khi Judas, kẻ phản Ngài thấy Ngài bị kết án thì hối hận, đem ba mươi miếng bạc trả lại cho các thầy tế lễ cả và các trưởng lão, mà nói rằng: Tôi đã phạm tội vì nộp huyết vô tội! Nhưng họ đáp: Việc ấy thì có liên can gì đến chúng tôi? Đó là việc của anh. Giu đá ném bạc vào đền thờ, rồi trở ra đi thắt cổ.

As we see here, once we fall fully into the devil's trap of greed, there is no escape. Saint Paul said in 1 Timothy 6:10 For the love of money is a root of all kinds of evil, and in their eagerness to be rich some have wandered away from the faith and pierced themselves with many pains. This is what happened to Judas. His greed for money led him finally to suicide. You can use God’s money for anything- you can buy a car, a new house, gold or anything that you want. You can even set up a business with God’s money. But don't forget, the final outcome will be your complete disaster. Don’t think that God will destroy you. Never. It is the devil that will drag you away and destroy you. The spirit of suicide told Judas, go and kill yourself. And that was the end of greed. 

Chúng ta thấy ở đây rằng, một khi chúng ta rơi hoàn toàn vào bẫy của con quỷ tham lam, không lối thoát. Thánh Paul nói trong 1 Timothy 6:10 Vì lòng tham tiền bạc là cội rễ của mọi điều ác, một số người vì đeo đuổi nó mà lìa bỏ đức tin, tự chuốc lấy nhiều nỗi đau nhức nhối. Đây là điều xảy ra với Judas. Lòng tham tiền đã dẫn nó tới chỗ tự sát. Bạn có thể dùng tiền của Chúa cho bất kỳ việc gì – bạn có thể mua oto, mua nhà, vàng hay bất kỳ điều gì mình muốn. Bạn có thể mở công việc kinh doanh với tiền của Chúa. Đừng nghĩ Chúa sẽ hủy diệt bạn. Không đâu. Chính là quỷ sẽ lôi bạn đi và hủy diệt bạn. Ác linh tự sát bảo Judas, hãy đi và kết liễu đời mầy đi. Và đó là sự cuối cùng của sự tham lam.

I mentioned earlier that church is the body of Christ. Keeping that in mind let us read John 6:66-71. Here we see an interesting phenomenon. Many of the followers of Jesus started leaving as they found His teachings difficult. The teaching was about the body and blood of Jesus as we see in the earlier section of John 6. The people started leaving after Jesus started teaching about the Holy Qurbana which is receiving the body and blood of Jesus at the church.

Tôi đề cập trước đó rằng Nhà thờ là thân thể của Đấng Christ. Hãy nhớ điều đó và đọc John 6:66-71. Ở đây chúng ta thấy một hiện tượng thú vị. Nhiều người theo Chúa bắt đầu rời đi sau khi họ thấy lời dạy khó khăn. Lời dạy đó là về thân thể và máu của Chúa như chúng ta đọc trong John 6. Người ta bắt đầu bỏ đi sau khi Chúa dạy về Holy Qurbana đó là nhận máu và thân thể của Chúa ở nhà thờ.

The moment we think about Holy Qurbana, the devil becomes active. He will do everything possible to divert you and drag you away from Holy Qurbana. It happened with Judas as well. He was dragged away immediately after receiving the first Holy Qurbana. Let us read Luke 22: 19-21. But, immediately after receiving Holy Qurbana, Satan entered Judas as we read in John 13:27 After he received the piece of bread, Satan entered into him. Jesus said to him, do quickly what you are going to do. 

Ngay khi chúng ta nghĩ về Holy Qurbana, quỷ bắt đầu trở nên hoạt động tích cực. Nó sẽ làm mọi thứ có thể để lạc hướng bạn và kéo bạn ra khỏi lễ Holy Qurbana. Điều này cũng xảy ra với Judas nữa. Nó đã bị kéo xa ngay lập tức sau khi nhận lễ Holy Qurbana đầu tiên. Chúng ta hãy đọc Luke 22:19-21. Nhưng ngay sau khi nhận lễ Holy Qurbana, Satan sà vào lòng Judas như chúng ta đọc trong John 13:27 Sau khi Judas nhận lấy miếng bánh thì Satan vào lòng anh ta. Đức Chúa Giê Su bảo Judas: Việc con làm, hãy làm nhanh đi.

Looking closely into this. We see that Judas received the Holy Qurbana but was not able to enjoy it. The reason is, Judas did not confess fully nor repent before receiving the Holy Qurbana. In fact Satan was already there inside Judas even before receiving the Holy Qurbana as we read in Luke 22: 3 Then Satan entered Judas called Iscariot, who was of the twelve. This happened before the first Holy Qurbana. What it means is Judas did not completely shut the door to Satan. So the devil kept coming in and going out. And as read in John 13”27, it was too late for even Jesus to help me. Jesus was convinced that Judas was lost forever. Hence, He said, do quickly what you are going to do. Judas had the last chance to repent when Jesus said this to him. But instead, we read that he immediately left the place. So, it was Judas’ choice to go with Satan. Jesus never kicked him out. 

Nhìn kỹ vào tình huống này. Chúng ta thấy rằng Judas đã nhận Holy Qurbana nhưng đã không trân trọng hay vui vẻ. Lý do là vì Judas đã không xưng tội hoàn toàn và cũng không sám hối trước khi nhận Holy Qurbana. Thực tế, Satan đã ở đó trong Judas ngay cả trước khi nhận Holy Qurbana như chúng ta đọc trong Luke 22:3 Lúc ấy, quỷ Satan nhập vào Judas gọi là Iscariot, là một trong số 12 môn đồ. Điều này xảy ra trước lễ Holy Qurbana đầu tiên. Có nghĩa là Judas đã không đóng hoàn toàn cửa trước Satan. Vì vậy quỷ cứ đi ra đi vào. Và như chúng ta đọc trong John 13:27, đã quá muộn để Chúa Giê Su có thể giúp nó. Chúa đã tin chắc rằng Judas bị hư mất vĩnh viễn. Do đó, Ngài nói, việc con làm hãy làm nhanh đi. Judas đã có cơ hội cuối cùng để xưng tội khi Chúa Giê Su nói điều này với nó. Nhưng thay vào đó, chúng ta đọc rằng nó đã mau chóng rời khỏi chỗ mình. Vì thế, đó là sự lựa chọn của Judas để đi với quỷ. Chúa chẳng bao giờ đuổi nó đi cả.

Dear friends, Jesus waits patiently for you. Whenever you are lost, and whatever sins you commit, He constantly reminds you to come back. But, the decision is yours. Jesus will never forcefully bring anyone to Him. He does everything out of pure love. In His love, Jesus keeps calling us. In His love, Jesus keeps trying to correct us. But, if someone is determined to destroy the self, and keeps rejecting the Lord, it is what they choose. God cannot be blamed for that. 

Các bạn thân mến, Chúa Giê Su kiên nhẫn chờ bạn. Mỗi khi bạn lạc lối, và với bất kỳ tội lỗi nào bạn mắc phải, Ngài luôn nhắc bạn quay trở lại. Nhưng, quyết định là ở bạn. Chúa Giê Su sẽ không bao giờ ép buộc ai đến với Ngài cả. Ngài làm mọi thứ đều do tình yêu chân thực. Nhưng nếu ai đó kiên quyết tự hủy hoại chính mình và từ chối Chúa, thì đó điều họ chọn. Chúa không thể bị đổ lỗi về điều đó.

Judas hanged himself and did. His death was horrific. Let us read Acts 1: 17-18. Judas tried to return the money that he accepted as a bribe to betray Jesus. But the chief priests refused. So, he used that money to buy some land. But the fate was, he had to hang himself on a tree in his own land. The tradition says that after this incident, he was caught with a disease of obesity. His body started swelling and swelling. He was completely shattered with his disease and eventually decided to commit suicide. So it was a very fat Judas that tried to hang himself. And that is what we read in Acts 1:18 that even after hanging he could not die but fell on the weight of his body as the rope which he used to hang could not hold his weight. The rope broke, and he fell down. When he fell down, his body was burst in the middle and all the bowels gushed out. 

Judas đã treo cổ tự vẫn. Cái chết của nó thật thương tâm. Chúng ta hãy đọc Acts 1:17-18, Vì nó vốn ở trong số chúng ta và đã dự phần trong chức vụ nầy. Nó lấy tiền thưởng của tội ác mình mà mua một đám ruộng rồi ngã nhào xuống đó, nứt bụng và đổ ruột ra. Judas đã cố đem trả tiền mà nó nhận như là sự hối lộ để phản bội Chúa. Nhưng các thầy tế lễ cả đã từ chối. Vì vậy, nó dùng tiền để mua ruộng. Nhưng trớ trêu thay, nó đã phải treo mình tự tử trên chính đám ruộng mà mình mua. Chuyện kể rằng sau sự kiện này, nó bị bệnh béo phì. Thân thể bắt đầu nứt ra và phình lên. Nó hoàn toàn bị kiệt quệ bởi căn bệnh này và cuối cùng quyết định tự vẫn. Chính là một tên Judas quá béo đã tìm cách tự sát. Và điều chúng ta đọc trong Acts 1:18 đó là ngay cả khi treo mình lên, nó không chết và ngã xuống và nứt bụng ra bởi vì sợ dây thừng để treo lên không giữ được sức nặng của nó. Dây đứt và nó ngã xuống. Khi nó ngã xuống, thân xác nó ngã nhào xuống và bể bụng ra.

The biggest question that we should ask ourselves is, what do we get by cheating God? What do we get by stealing God’s money? What do we get by betraying Holy Qurbana? Certainly, we do not want the fate of Judas. We want the fate of the other disciples who are enjoying their life in heaven with Jesus.

Câu hỏi lớn nhất mà chúng ta hỏi bản thân mình là, chúng ta được gì khi lừa dối Chúa? Chúng ta nhận được điều gì khi ăn cắp tiền của Chúa? Chúng ta được gì khi phản bội Holy Qurbana. Chắc chắn chúng ta không muốn số phận của Judas. Chúng ta muốn số phận của các môn đồ khác những người đang được sống trên thiên đàng cùng với Chúa Giê Su.

May God’s blessing be with all of us.

Amen.

 

Friday, July 30, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh Thaddeus

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen.

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.  

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4

Tonight, we are going to study about the life of Saint Thaddeus. He is also known by the names Jude and Lebbaeus. His name is mentioned in Luke 6:16 and Acts 1:13 as Judas, son of James. Like James the younger, Saint Jude was also known as the brother of Jesus (Matthew 13:55; Mark 6:3) but not the real brother. He was also a cousin of Jesus. 

Tối nay chúng ta sẽ học về cuộc đời của Thánh Thaddeus. Ông được biết đến với tên gọi là Jude và Lebbaeus. Tên của ông được nhắc tới trong Luke 6:16 và Acts 1:13 như là Judas, con của James. Giống như thánh James nhỏ, Thánh Jude cũng được nhắc đến như là an hem của Chúa Giê Su (Matthew 13:55; Mark 6:3) nhưng không phải anh em ruột. Mà là anh em họ của Chúa Giê Su.

Saint Jude wrote one letter which is included in the New Testament. The letter of Jude has only one chapter. But, this one chapter is very powerful. The purpose of writing this letter was to educate against false teachings of that time, as we read in vs. 4 For certain intruders have stolen in among you, people who long ago were designated for this condemnation as ungodly, who pervert the grace of our God into licentiousness and deny our only Master and Lord, Jesus Christ. 

Thánh Jude đã viết một bức thư trong Tân Ước. Lá thư chỉ có một chương duy nhất. Nhưng chương này lại rất mạnh mẽ. Mục đích của việc viết lá thư là để giáo dục chống lại những sự dạy dỗ sai trái của thời đó như chúng ta đọc trong câu 4, Vì có mấy kẻ len lỏi vào giữa anh em, là những kẻ trước kia đã bị định cho sự phán xét, là những kẻ bất kính, những kẻ đã biến ân điển của Đức Chúa Trời chúng ta ra sự suy đồi đạo đức, chối bỏ Đấng Chủ Tể duy nhất và Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê Su Christ.

After the ascension of Jesus, many false teachings and false teachers sprung up. They mostly taught that Jesus Christ is not God. Moreover, they also taught against the purity of the church and encouraged sexual immorality. Saint Jude strongly opposed this and taught the faithful of the dangers of mingling with or following these false teachers. He compared these false teachers to the sins committed by the people in the Old Testament. 

Sau khi Chúa thăng thiên, nhiều lời dạy sai trái và các giáo sư giả đã trỗi dậy. Họ hầu hết đều dạy rằng Chúa Giê Su không phải là Chúa. Hơn nữa, họ cũng dạy chống lại sự thuần khiết của nhà thờ và khuyến khích tình dục bất khiết. Thánh Jude đã phản đối mạnh mẽ điều này và dạy dỗ những người trung tín về sự nguy hiểm của việc pha trộn với hoặc đi theo các giáo sư giả mạo này. Ông so sánh những giáo sư giả này với tội lỗi của những người thời Cựu ước phạm tội.

The first sin that he quotes is from the book of Exodus. Jude vs. 5: Now I desire to remind you, though you are fully informed, that the Lord, who once for all saved a people out of the land of Egypt, afterwards destroyed those who did not believe. The book of Exodus details how God’s people were rescued and brought out from Egypt, under the leadership of Moses. The book of Exodus details many incidents that occured on their way from Egypt to the promised land. These people annoyed the Lord several times during their lengthy journey to Canaan, the promised land. But, God forgave them all the time and asked Moses to continue leading the journey. However, there was one grave sin committed by the people, which God could not forgive. It happened while Moses was at Mount Sinai praying, and remained there for a long time. Let us read Exodus 32:1-6. This was a great sin as we read in Exodus 32:30 On the next day Moses said to the people, you have sinned a great sin. But now I will go up to the Lord; perhaps I can make atonement for your sin. But idol worship is something that God never tolerates. And we read in vs. 35 of the same chapter that God sent a plague on the people, because they made the calf. This is what Jude quoted in vs. 5 to remind the consequence of false teachings. 

Tội đầu tiên được đưa ra trong sách Exodus. Jude câu 5: Mặc dù anh em đã biết tất cả những điều nầy, tôi vẫn muốn nhắc anh em rằng, Chúa đã giải cứu dân Ngài ra khỏi đất Ai Cập, nhưng sau đó lại hủy diệt những người không tin. Sách Exodus mô tả chi tiết con dân Chúa được cứu và được đưa ra khỏi Ai Cập như thế nào, dưới sự lãnh đạo của Môi Se, Sách Exodus miêu tả chi tiết nhiều tình huống xảy ra trên đường họ đi từ Ai Cập đến miền đất hứa. Những người này đã làm Chúa nổi giận vài lần trên đường đi dài tới Canaan, miền đất hứa. Nhưng Chúa vẫn tha thứ cho họ và bảo Môi Se tiếp tục dẫn dắt họ. Tuy nhiên người ta đã phạm phải một tội vô cùng nghiêm trọng. mà Chúa không thể tha thứ được nữa. Chúng ta hãy đọc Exodus 32:1-6. Đây là một tội lớn mà chúng ta đọc được trong Exodus 32:30 Ngày hôm sau, Môi se nói với dân chúng: Anh em đã phạm một tội trọng, nhưng bây giờ ta sẽ lên gặp Đức Giê Hô Va, có lẽ ta sẽ chuộc được tội cho anh em”. Nhưng tội thờ hình tượng là một điều Chúa không bao giờ tha thứ được. Và chúng ta đọc trong câu 35 rằng Chúa đã mang bệnh dịch tới con người bởi vì họ đã làm tượng con bò. Đây là điều Thánh Jude đã nhắc đến trong câu 5 ở lá thư của Ngài để nhắc nhở về hậu quả của sự dạy dỗ sai trái. 

This example given by Saint Jude has a message for us. We saw that the people became impatient and lost hope when Moses was not returning from Mount Sinai. Moses went up to Mount Sinai to receive guidance from God. So the people should have waited patiently to receive God’s guidance for their journey. Impatience is a demonic thing because it leads to people making hasty decisions. As we are living in the era of technology, our level of patience has decreased a lot. Earlier people communicated by writing letters. Then came emails. Now people are even too lazy to write emails. They prefer instant messaging. Students do not like reading, they prefer only tips. Students prefer to just pass the examination rather than acquiring knowledge. All these shows impatience. People fail to follow God because they do not want to wait. They want instant answers from God. If their prayers are answered instantly, and whatever they ask is instantly given, they are happy. Otherwise they will stop following the Lord. But the Bible teaches differently. Psalm 37: 7 Be still before the Lord, and wait patiently for Him; do not fret over those who prosper in their way, over those who carry out evil devices. The people of God grew impatient thinking that God is never going to answer or help them. The devil made use of that opportunity and dragged the people to turn away from God and commit sin.

Ví dụ được đưa ra bởi Thánh Jude là một thông điệp cho chúng ta. Chúng ta thấy rằng mọi người đã trở nên mất bình tĩnh và mất hy vọng khi Môi se chưa về từ Núi Sinai. Môi Se đã đi lên núi Sinai để nhận được sự chỉ dẫn của Chúa. Vì vậy mọi người lẽ ra đã nên chờ đợi kiên nhẫn để nhận được sự hướng dẫn của Chúa cho hành trình của họ. Sự mất kiên nhẫn thuộc về quỷ bởi vì nó khiến con người đưa ra những quyết định vội vàng. Vì chúng ta đang sống trong kỷ nguyên công nghệ, mức độ kiên nhẫn của chúng ta giảm đi rất nhiều. Trước đây người ta giao tiếp qua thư. Sau đó là emails. Bây giờ người ta thậm chí lười cả viết thư. Người ta thích tin nhắn hơn. Sinh viên không thích đọc sách, họ thích mẹo làm bài thôi. Sinh viên thích qua được kỳ thi hơn là thu được kiến thức. Tất cả những điều này đều thể hiện sự mất kiên nhẫn. Người ta không thể theo Chúa được bởi vì họ không muốn chờ đợi. Họ muốn Chúa trả lời luôn. Nếu lời cầu nguyện của họ được trả lời ngay lập tức hoặc nếu những điều họ cầu được đáp lại luôn, thì họ sẽ vui. Còn không thì họ sẽ không theo Chúa nữa. Nhưng Kinh Thánh dạy hoàn toàn khác. Thi Thiên 37:7, Hãy yên tịnh trước mặt Đức Giê Hô Va và chờ đợi Ngài. Chớ phiền lòng vì kẻ thành công trong đường lối mình,  hoặc vì kẻ thực hiện những mưu đồ độc ác. Con cái Chúa trở nên mất kiên nhẫn nghĩ rằng Chúa sẽ không bao giờ hồi đáp hay trả lời họ. Quỷ lợi dụng cơ hội đó và kéo con người xa khỏi Chúa và phạm tội.

The second example that he cites is in vs. 6 And the angels who did not keep their own position, but left their proper dwelling, He has kept in eternal chains in deepest darkness for the judgement of the great day. This incident is given in two places. The first is Genesis 6:1-2 When people began to multiply on the face of the ground, and daughters were born to them, the sons of God saw that they were fair; and they took wives for themselves of all that they chose. 

Ví dụ thứ hai mà ông đưa ra ở trong câu 6, Còn các thiên sứ không giữ vị trí, từ bỏ chỗ riêng của mình, thì Ngài dùng xiềng để giữ họ trong chỗ tối tăm cho đến kỳ phán xét trong ngày trọn đại. Tình huống này được đưa ra ở Sáng Thế Ký 6:1-2, Loài người bắt đầu gia tăng trên mặt đất và sinh ra nhiều con cái. Các con trai của Đức Chúa Trời thấy con gái loài người xinh đẹp thì cưới những người nào họ chọn để làm vợ”.

The sons of God mentioned here are the angels. The angels committed sin and hence were thrown out of heaven. This is given in the second reference in Revelation 12:7-9 And war broke out in heaven; Micahael and his angels fought against the dragon. The dragon and his angels fought back, but they were defeated, and there was no longer any place for them in heaven. The great dragon was thrown down, that ancient serpent, who is called the devil and Satan, the deceiver of the whole world- he was thrown down to the earth, and his angels were thrown down with him. The chaining of these fallen angels is given in 2 Peter 2:4 For if God did not spare the angels when they sinned, but cast them into hell and committed them to chains of deepest darkness to be kept until the judgement. 

Con trai Đức Chúa Trời đề cập đến ở đây là các thiên sứ. Các thiên sứ phạm tội và sau đó bị ném ra khỏi thiên đàng. Đây là điều được đưa ra trong Khải Huyền 12:7-9, Lúc ấy có một trận chiến xảy ra ở trên trời: Micaen và các thiên sứ của mình giao chiến với con rồng, con rồng với các sứ giả của nó cũng đánh trả. Nhưng chúng không thắng được, và không còn tìm thấy chỗ của chúng ở trên trời nữa. Con rồng lớn bị ném xuống, tức là con rắn xưa, được gọi là ma quỷ hay Satan, kẻ lừa dối cả nhân loại. Nó đã bị ném xuống đất; các sứ giả của nó cũng bị ném xuống với nó.

Sự sa ngã của các thiên sứ được nhắc đến trong 2 Peter 2:4, Vì nếu Đức Chúa Trời chẳng dung thứ các thiên sứ khi họ phạm tội, nhưng ném vào hỏa ngục và giam giữ trong nơi tối tăm để chờ ngày phán xét

In the first case it was impatience. In the second case, we see distraction. The angels were appointed for specific purposes. But, when they saw a few beautiful women, the purpose and focus were ignored. In the previous example, the purpose and focus was the children of God reaching a safe and secure place, where they would live with God. But, their focus was distracted. Philippians 3:13 Beloved, I do not consider that I have made it my own; but this one thing I do: forgetting what lies behind and straining toward the goal for the prize of heavenly call of God in Christ Jesus. 

Trong trường hợp đầu tiên là sự mất kiên nhẫn. Trong tình huống thứ hai chúng ta thấy sự xao lãng. Các thiên sứ được chỉ định vì các mục đích cụ thể nào đó. Nhưng khi họ nhìn thấy vài người phụ nữ đẹp, mục tiêu và mục đích của họ bị phớt lờ. Trong các ví dụ trước, mục đích của con cái Chúa là đạt được một nơi an toàn, nơi họ có thể sống cùng với Chúa. Nhưng mục tiêu của họ đã bị xao lãng. Philipians 3:13, Nhưng tôi làm một điều, tôi cứ quên đi những gì ở đằng sau vươn tới những gì ở đằng trước, tôi nhắm mục đích mà theo đuổi để đạt giải về sự kêu gọi trên cao của Đức Chúa Trời trong Đấng Giê Su Christ.

We are all brought to this world by God for specific purposes. But, often the devil drags us away from God’s purposes. As a result, we often lead a sinful life and are far from God for a long time until He sends somebody to help us. That is the turning point of our life. God sent Moses to save His people and get them out of slavery, from a demonic country. Our journey of life started the moment we were formed in our mother’s womb. But, the devil dragged us away for several years, perhaps until the age of 20, 30, 40 or even more. We do not have to lament and grieve about the lost years. The most important thing is, once we are reconnected to God, we should forget everything about the past, wipe out all the memories and fix our focus firmly on the goal. Isaiah 43: 18-19 Do not remember the former things, or consider the things of old. I am about to do a new thing; how it springs forth, do you not perceive it? We should be able to perceive and see how our new life in Jesus is taking us forward. 

Tất cả chúng ta đều được Chúa mang tới thế giới này cho các mục tiêu cụ thể. Nhưng thường thì quỷ kéo chúng ta ra xa khỏi các mục đích của Chúa. Kết quả là, chúng ta thường sống một cuộc sống tội lỗi và xa cách Chúa cho đến khi Chúa gửi một ai đó tới để giúp chúng ta. Đó là bước ngoặt của cuộc đời. Chúa đã gửi Môi Se tới để cứu con người và cho họ ra khỏi vòng nô lệ, khỏi một quốc gia ma quỷ. Hành trình trong cuộc sống của chúng ta bắt đầu từ lúc chúng ta được hình thành trong bụng mẹ. Nhưng quỷ đã kéo chúng ta đi xa vài năm, thậm chí đến năm 20, 30 hoặc 40 tuổi hoặc thậm chí lâu hơn nữa. Chúng ta không cần phải than khóc hay buồn phiền về những năm tháng đã mất đó. Điều quan trọng nhất, khi chúng ta kết nối trở lại với Chúa, chúng ta nên quên hết quá khứ đi, xóa sạch mọi ký ức và chú tâm mạnh mẽ vào mục tiêu của chúng ta. Isaiah 43:18-19, Đừng nhớ lại những việc đã qua, cũng đừng nghĩ đến chuyện thuở trước. Nầy Ta sắp làm một việc mới! Bây giờ nó đang hiện ra mà các con không biết sao? Chúng ta nên biết và hiểu đời sống mới trong Chúa sẽ dẫn chúng ta về phía trước.

Every week we study the Bible, little by little. Are you tired of the classes? Do you feel that it is the same thing every week, and hence boring? If yes, it means the devil has started working to drag you away from Jesus. He will start slowly but will keep working until you are completely lost. Initially, you may not realise. You will only realise when you completely fall in his trap. So be careful. Do not even allow a tiny mistake to happen in your life. You may think that it is ok, it is not a big sin. But, that tiny mistake is more than enough for the devil to enter inside. Therefore, be careful. In the Sunday morning prayer one of the lines of a song is If you are affected by a tiny bit of laziness, you will be dragged away in the wrong path and get your spirit destroyed completely. Hence Saint Peter said in his first letter 5:8 Discipline yourselves and keep alert. Like a roaring lion your adversary the devil prowls around, looking for someone to devour. 

Hằng tuần, chúng ta học Kinh Thánh, một chút một chút một. Bạn có cảm thấy chán không? Bạn có cảm thấy rằng, tuần nào cũng học hoài một thứ như vậy, và chán không? Nếu có, nghĩa là quỷ đã bắt đầu làm việc để kéo bạn ra xa khỏi Chúa. Nó sẽ bắt đầu từ từ nhưng nó sẽ cứ làm như thế cho đến khi bạn xa cách hoàn toàn. Ban đầu, bạn sẽ không nhận ra. Bạn sẽ chỉ nhận ra khi bạn rơi hoàn toàn vào bẫy của nó thôi. Vì vậy, hãy cẩn thận. Đừng cho phép một sai lầm nhỏ nào xuất hiện trong cuộc đời bạn. Bạn có thể nghĩ rằng, ok, đó không phải là một tội lớn. Nhưng sai lầm nhỏ đó là quá đủ để quỷ đặt chân vào trong. Do đó, hãy thật cẩn thận. Trong bài cầu nguyện sáng chủ nhật, có một dòng trong bài hát như thế này, nếu bạn bị cuốn dụ bởi một chút lười nhác, bạn sẽ bị kéo đi hoàn toàn trong con đường sai trái và tâm linh sẽ bị phá hủy hoàn toàn. Do đó, Thánh Peter nói trong thư 1 Peter 5:8 Hãy tiết độ và tỉnh thức, kẻ thù anh em là ma quỷ, như sư tử gầm thét, đang rình rập chung quanh anh em, tìm người để cắn nuốt.

Even the angels were dragged away by Satan as we see in this example. So we can imagine how much more vulnerable we are. This is the reason we have regular confessions in the Orthodox church. We just make sure through our confessions and receiving the body and blood of Jesus, that we rectify any distractions and keep ourselves on track. I know you do not have the opportunity for this now. But, until then, you should confess and repent everyday in your prayers. It will keep you safe from the devil and his traps.

Ngay cả các thiên sứ cũng bị quỷ cuốn đi như chúng ta nhìn thấy trong ví dụ. Vì vậy chúng ta có thể tưởng tượng rằng chúng ta yếu đuối như thế nào. Đây là lý do chúng ta có sự xưng tội thường xuyên trong nhà thờ Chính thống giáo. Chúng ta đảm bảo rằng qua sự xưng tội và giữ máu và thân thể Chúa, chúng ta có thể sửa chữa bất kỳ sự xao lãng nào và giúp chúng ta đi đúng đường. Tôi biết bạn chưa có cơ hội đó lúc này. Nhưng cho đến ngày đó, hãy ăn năn và sám hối hàng ngày trong phần cầu nguyện của bạn. Điều đó sẽ giữ bạn khỏi quỷ và các cám dỗ cạm bẫy của nó.

The third example is given in Jude vs. 7 Likewise, Sodom and Gomorrah and the surrounding cities, which, in the same manner as they, indulged in sexual immorality and pursued unnatural lust, serve as an example by undergoing a punishment of eternal fire. The Sodom Gomorrah incident is given in Genesis, 18:20 Then the Lord said, how great is the outcry against Sodom and Gomorrah and how very grave their sin. In Genesis chapter 19 the grave sins of sexual immorality and unnatural lust of the people of Sodom and Gomorrah are given in detail. 

Ví dụ thứ ba được đưa ra trong Jude câu 7, Như Sô đôm, Gô Mô Rơ, và các thành phụ cận cũng hành động giống như họ, buông mình vào những việc gian dâm, và chạy theo tình dục không tự nhiên, thì đã bị hình phạt bằng lửa đời đời để làm gương. Thành Sô đôm cũng được đưa ra trong Sáng Thế Ký 18:20, Đức Giê Hô Va phán, tiếng than trách về Sô đôm và Gô Mô Rơ thật quá lớn, tội lỗi các thành đó thật nghiêm trọng. Và trong Sáng thế ký chương 19, tội nghiêm trọng của sự gian dâm và quan hệ thiếu tự nhiên của người Sô đôm và Gô Mô Rơ được đưa ra một cách chi tiết.

The first example referred to impatience; the second example referred to distraction. The third example could be discerned as the end result of impatience and distraction. When you are impatient, you lose focus and get distracted. It means you start thinking negatively and step into evil things. When Jesus came to their house, Mary sat at the feet of Jesus talking and listening to Him. But her sister was distracted with many other things as we read in Luke 10:40 But Martha was distracted with her many tasks...In the same way, as we have Jesus with us, we should never be impatient nor be distracted. Instead as Psalm 119: 15 says I will meditate on your precepts, and fix my eyes on your ways. Fixing our eyes means nothing can distract us. Most of the distractions come from our impatience. When the mind starts thinking negatively, the body starts moving in sinful directions. 

Ví dụ đầu tiên được đưa ra liên quan đến sự thiếu kiên nhẫn, ví dụ thứ hai đề cập đến sự xao lãng. Ví dụ thứ ba có thể được hiểu như là kết cục của sự thiếu kiên nhẫn và sự xao lãng. Khi bạn thiếu kiên nhẫn, bạn mất tập trung và bị xao lãng. Bạn sẽ bắt đầu nghĩ tiêu cực và bước vào những điều ma quỷ. Khi Chúa Giê Su đến nhà họ, Mary ngồi ở dưới chân Chúa nghe Ngài nói và lắng nghe. Nhưng chị gái của bà thì bị xao lãng bởi nhiều điều khác như chúng ta đọc trong Luke 10:40 Còn Ma Thê mải bận rộn với việc phục vụ…tương tự, khi chúng ta có Chúa, chúng ta không bao giờ nên mất kiên nhẫn hoặc bị xao lãng. Thay vào đó Thi Thiên 119:15 nói rằng, Con sẽ suy ngẫm kỷ cương Chúa, chú tâm vào đường lối Ngài. Chú tâm nghĩa là không có gì có thể làm chúng ta xao lãng được. Hầu hết sự xao lãng của chúng ta đều từ sự mất kiên nhẫn. Khi tâm trí bắt đầu nghĩ tiêu cực, cơ thể sẽ hành động theo đường lối phạm tội.

This is what happened to the people of Sodom and Gomorrah. These people were distracted from normal family life and natural sex. They started practicing homosexuality. As I said, drifting away from God results in the mind starting to think about all types of evil things. Then in the next step, you want to experience it. Eventually you get fully indulged in it. This is detailed in Romans 1:25-27 Because they exchanged the truth about God for a lie and worshipped and served the creature rather than the Creator, who is blessed forever Amen.  For this reason God gave them up to degrading passions. Their women exchanged natural intercourse for unnatural, and in the same way also the men, giving up natural intercourse with women, were consumed with passion for one another. Men committed shameless acts with men and received in their own persons the due penalty for their error. 

Đây là điều xảy ra với con người Sô Đôm, và Gomoro. Những người này đã bị xao lãng khỏi đời sống gia đình và tình dục tự nhiên. Họ bắt đầu quan hệ đồng tính. Như tôi đã nói, tách ra khỏi Chúa dẫn đến tâm trí bắt đầu suy nghĩ về tất cả các kiểu ma quỷ. Sau đó, ở bước tiếp theo, bạn muốn thử nó. Cuối cùng bạn đắm chìm trong nó. Romans 1:25-27, vì họ đã đổi chân lý của Đức Chúa Trời để lấy sự dối trá, họ thờ phượng và phục vụ tạo vật thay vì Đấng Tạo Hóa, là Đấng đáng được ca ngợi đời đời. Amen. Vì lú do này mà Đức Chúa Trời đã phó họ cho tình dục đáng xấu hổ. Cả đến đàn bà cũng đổi cách quan hệ tự nhiên ra cách phản tự nhiên. Đàn ông cũng vậy, bỏ cách quan hệ tự nhiên với phụ nữ mà un đúc tình dục lẫn nhau, đàn ông làm việc đồi bại với đàn ông vì chính họ phải chịu sự sửa phạt tương xứng với lầm lạc của mình.

As explained in these verses, first they lost patience and started worshipping a creature which was a golden calf as we read in Exodus 32:1-6. As a result of this, God gave them up. It means they lost the protection of God. When we lose the protection of God, it is easy for the devil to capture us. The people of Sodom and Gomorrah fell into the devil’s trap and got distracted with unnatural passions. This is how destruction happens in our lives. Hence, Saint Paul said in 2 Corinthians 4:16-17 So we do not lose heart. Even though our outer nature is wasting away, our inner nature is being renewed day by day. For this slight momentary affliction is preparing us for an eternal weight of glory beyond all measure. 

 

Như được giải thích trong những câu này, trước hết họ mất kiên nhẫn, sau đó họ bắt đầu thờ phượng một sinh vật đó là con bò vàng như chúng ta đọc trong Exodus 32:1-6. Kết quả là Chúa bỏ mặc họ. Có nghĩa rằng họ bị mất sự bảo vệ của Chúa. Khi chúng ta mất sự bảo vệ của Chúa, quỷ dễ dàng chộp lấy chúng ta. Con người Sô đôm và Go mô rơ rơi vào bẫy của quỷ và bị xao lãng với những ham muốn thiếu tự nhiên. Đó là cách sự hủy hoại xảy ra trong đời sống chúng ta. Do đó Thánh Paul nói trong:

2 Corinthians 4:16-17, Vậy nên, chúng tôi không nản lòng, dù con người bên ngoài bị suy mòn dần nhưng con người bên trong ngày càng đổi mới hơn. Vì sự hoạn nạn nhẹ và tạm của chúng ta sẽ đem lại cho chúng ta vinh quang cao trọng và vĩnh cửu.

As the verses clearly tell, do not lose heart. It means do not lose patience because all our troubles are momentary and temporary. It will pass away. Once the cloud moves away, we will see the shining sun. In the same way, once the temporary afflictions of our lives move away, we will see the glory of the Lord. Those who become impatient and get distracted will find themselves in the dark. They will not be able to see the light of God. 

Như những câu này chỉ rõ, đừng mất niềm tin. Cũng có nghĩa rằng đừng mất kiên nhẫn bởi vì những khó khăn chỉ là tạm thời và chóng qua. Nó sẽ qua đi. Khi đám mây qua đi, chúng ta sẽ nhìn thấy ánh mặt trời. Tương tự khi những hoạn nạn tạm thời qua đi, chúng ta sẽ nhìn thấy vinh quang của Chúa. Những ai mất kiên nhẫn và bị xao lãng sẽ ở trong bóng tối. Họ sẽ không thể nào mà nhìn thấy được ánh sáng của Chúa.

Saint Jude cited these examples to teach the children of God the dangers of impatience, distraction and evils. He led a life worthy of the Lord. There is an interesting legend about Saint Jude. During the time of Jesus, King Abgar of Persia fell ill with leprosy. He wrote a letter to Jesus requesting to come to Persia and heal him. In reply, Jesus promised to send a messenger. Later, Saint Jude went to Persia and healed him. The King, his family, servants, and many people in the kingdom accepted Jesus. He preached the gospel in Persia.

Thánh Jude đã trích những câu ví dụ này để dạy con cái Chúa sự nguy hiểm của sự mất kiên nhẫn, sự xao lãng và quỷ. Ông đã sống một cuộc đời xứng đáng cho Chúa. Có một giai thoại thú vị về Thánh Jude. Trong thời Chúa Giê Su, Vua Abgar của Ba Tư bị ốm với bệnh phong hủi. Ông viết thư vời Chúa Giê Su đến Ba tư để chữa cho ông. Đáp lại, Chúa Giê Su hứa sẽ gửi một người sứ giả. Sau đó, Thánh Jude đã đi tới Ba Thư và chữa lành cho Vua. Sau đó nhà vua, gia đình, người hầu và nhiều người trong vương quốc đã chấp nhận Chúa Giê Su. Ông đã rao giảng ở Ba Tư.

Later, in Persia, Saint Jude was clubbed to death and his head was shattered with an axe. 

Sau đó, ở Ba Tư, Thánh Jude đã bị đâm dùi cui đến chết và đầu ông bị đập vỡ với một cái rìu.

May his prayers be an intercession to us.

Cầu xin Thánh sẽ cầu thay cho chúng ta.

God bless you. Amen.

 

Matthew 10:1-4: Thánh James (nhỏ)

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have so far covered eight disciples of Jesus Christ. I hope you can remember their names. In the last class, we studied about the life of Saint Matthew. 

Từ trước tới nay, chúng ta đã học tám môn đồ của Chúa Giê Su. Cha hy vọng các bạn đã có thể nhớ được hết tên của họ. Ở buổi trước, chúng ta học về cuộc đời của Thánh Matthew.

Tonight, we are going to study about the life of Saint James, the lesser or Saint James the younger. This is the second James in the list of twelve disciples. The first one is Saint James the greater. Saint James the Great and Saint John were brothers. Since there were two James, one was called the elder or greater and the other one the lesser or younger. His father’s name was also Alphaeus. In the last class we saw that Saint Matthew’s father was also one Alpheus. But these are not the same person. 

Tối nay chúng ta sẽ học về cuộc đời của Thánh James nhỏ hoặc bé hơn. Đây là thánh James thứ hai trong danh sách mười hai sứ đồ. Người đầu tiên là Thánh James lớn. Thánh James lớn và Thánh John là hai an hem. Vì có hai anh em, vì có hai người cùng tên là James cho nên có người lớn và có người nhỏ. Tên của bố của ông cũng là Alphaeus. Cha của Thánh Matthew cũng là Alphaeus. Nhưng không phải là cùng một người.

There is a wrong teaching that Saint James the younger was the brother of Jesus. It is possible that they were cousins but Mother Mary was always a virgin. The confusion was because there are sections in the Bible where the mother of Saint James is given as Mary. For example, Mark 15:40 There were also women looking from a distance; among them were Mary Magdalene, and Mary the mother of James the younger and Joses, and Salome. But Mary the mother of Saint James is believed to be Mary the wife of Clopas given in John 19:25 ...Meanwhile, standing near the cross of Jesus were His mother, and His mother’s sister, Mary the wife of Clopas, and Mary Magdalene. It is more clear in Matthew 27:56 Among them were Mary Magdalene, and Mary the mother of James and Joseph, and the mother of the sons of Zebedee. We should know this clearly because there are teachings which try to establish that Mother Mary was not a virgin, and had a few children. 

Cũng có lời dạy sai rằng Thánh James nhỏ là anh của Chúa Giê Su. Có thể họ là anh em họ. Nhưng mẹ Mary là đức mẹ đồng trinh. Sự nhầm lẫn có thể là do ở trong một phần Kinh Thánh có nói rằng, mẹ của Thánh James là Mary. Ví dụ ở Mark 15:40 nói rằng Cũng có những người phụ nữ nhìn ở đằng xa, trong số này có Mary Ma đơ len, Mari mẹ của Gia cơ nhỏ và Giô sép, cùng Salome. Nhưng Mary mẹ của Thánh James được cho là Mary vợ của Clopas được đưa ra trong John 19:25 Đứng gần thập tự giá của Đức Chúa Giê Su có mẹ Ngài, chị của mẹ Ngài, với Mari vợ Cleopas và Mary Ma đơ len. Chúng ta biết điều này rõ ràng bởi vì những lời dạy cố gắng bịa đặt rằng Mẹ Mary có vài người con, chứ không phải là đức mẹ đồng trinh.

Saint James was the first Bishop of Jerusalem. More importantly, he was the first person to celebrate the Holy Qurbana. He wrote the letter of James that we read in the New Testament. The key theme of the letter of James is found in James 2:17 where he said faith without work is dead. He taught that the willingness to help others is what actual faith means. You cannot simply say that I believe and do nothing. He said, even the devils believe in God as we read in James 2:19 You believe that God is one; you do well. Even the demons believe- and shudder. So the question is: what is the difference between you and the demons? 

Thánh James là linh mục đầu tiên của Giê Ru Sa Lem. Quan trọng hơn, ông là người đầu tiên cử hành lễ Holy Qurbana. Ông viết cuốn Thư của James mà chúng ta đọc trong Tân Ước. Chủ đề chính của lá thư được đưa ra trong James 2:17 Đức tin cũng vậy, nếu đức tin không có hành động thì tự nó cũng chết. Ông dạy rằng sự sẵn lòng giúp người khác là ý nghĩa của đức tin thực sự. Bạn không thể nói rằng tôi tin và không làm gì cả. Thánh nói rằng, ngay cả quỷ cũng tin Chúa là Chúa như chúng ta đã đọc trong James 2:19 Bạn tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, bạn tin đúng, ngay cả ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ. Vậy câu hỏi ở đây là: sự khác biệt giữa bạn và quỷ là gì?

We need to demonstrate our faith in God. Saint James said, if you have faith, demonstrate it through your works. For example in chapter 1: 12 Saint James said, Blessed is anyone who endures temptation. Such a one has stood the test and will receive the crown of life that the Lord has promised to those who love Him. This is where the demonstration of faith comes. It is easy to say, I believe in Jesus. But are you able to demonstrate your faith, especially when you are in trouble? For example, it is easy to say, I know how to swim. Imagine that you fell in a river and are going to drown. Will you swim or will you just drown? If you know how to swim, you will definitely swim. If you do not swim, you will drown and possibly die. 

Chúng ta cần phải thể hiện được đức tin ở nơi Chúa. Thánh James nói, nếu con có đức tin hãy thể hiện nó qua hành động, Ví dụ trong 1:12, Thánh James nói, Phước cho những người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài. Đây chính là nơi thể hiện đức tin. Để mà nói rằng, tôi tin ở Chúa Giê Su thì rất là dễ. Nhưng bạn có thể thể hiện được đức tin của mình không, đặc biệt là khi bạn gặp rắc rối? Ví dụ, thật dễ để nói rằng, tôi biết bơi. Tưởng tượng, bạn ngã xuống sông và sắp chìm. Liệu bạn sẽ bơi hay bạn sẽ chìm thôi? Nếu bạn biết cách bơi, bạn chắc chắn sẽ bơi. Còn nếu không bơi, bạn sẽ chìm và có thể chết.

Now imagine that you fell in a river and started drowning. Will you just say, I do not have to swim because I have faith, so Jesus will rescue me? That is foolishness. Instead, you should say, in faith I am going to swim and my faith will save me. When you start drowning, you cannot complain saying, I have faith, why is God not helping me? 

Hãy tưởng tượng bạn ngã xuống sông và bắt đầu chìm. Liệu bạn có nói rằng, tôi không cần phải bơi bởi vì tôi có đức tin, Chúa Giê Su sẽ khắc cứu tôi? Đó là sự ngu dại. Thay vào đó, bạn cần phải nói như này, bằng đức tin tôi sẽ bơi hết sức và đức tin sẽ cứu tôi. Khi bắt đầu chìm, bạn đừng có phàn nàn, nói rằng, tôi có đức tin, tại sao Chúa không cứu tôi nhỉ?

If you do not know how to swim, you drown. In the same way, if you do not have faith, you won’t be able to defend or fight the devil. You know how to swim, so you swim. Likewise, if you have faith, you will have to fight the devil. If you have faith, you will talk in faith, and act in faith. Your thoughts will also be in faith. We studied about the faith of Abraham in the last class. Jesus taught the disciples about acting the faith out through the experience of Saint Peter. Let us read Matthew 14: 25-32. Here we see Jesus helping the disciples to practice faith. The lesson that Saint Peter and the other disciples learnt was, if you have faith just exercise it and practice it. Never doubt, nor panic. 

Nếu bạn không biết bơi, bạn sẽ chìm. Và cũng như thế, nếu bạn không có đức tin, bạn sẽ không thể bảo vệ và chiến đấu chống lại quỷ được. Bạn biết bơi, vậy thì bạn phải bơi. Tương tự, nếu bạn có đức tin, bạn sẽ phải chiến đấu chống lại quỷ. Nếu bạn có đức tin, bạn sẽ nói trong đức tin và hành động trong đức tin. Suy nghĩ của bạn cũng sẽ trong đức tin. Chúng ta đã học về đức tin của Abraham. Chúa Giê Su đã dạy các môn đồ về hành động qua trải nghiệm của Thánh Peter. Chúng ta hãy đọc Matthew 14:25-32. Ở đây, chúng ta thấy Chúa Giê Su giúp các môn đồ thể hiện đức tin. Bài học mà Thánh Peter và các môn đồ khác học được là nếu bạn có đức tin thì hãy cứ vận dụng và thực hành nó. Đừng nghi ngại mà cũng đừng sợ hãi.

Saint Peter was walking on the water. But, when the wind started blowing heavily, his faith was affected. Then he started drowning. When he started drowning, Saint Peter complained to Jesus, saying O Lord, I am drowning. Jesus then said, why did you doubt yourself? You should never doubt your faith. Instead, you should walk in your faith. Walking in faith means acting responsibly in faith. Do not just go and spend your money in buying lottery tickets or gambling and say, I have full faith in God, so I will win. You are never going to win because it is testing the Lord. Lottery and gambling are demonic things. Lord helps only those who work hard and earn money. Likewise, do not pick up fights with anyone on the street saying that I have faith, so I will win. You may get beaten up. Faith should be exercised and demonstrated in a responsible manner. Do not just say that the Bible teaches to exercise faith, so I can do whatever I want to do. That is demonic thinking. Never allow your faith to be handled by the demons. 

Thánh Peter đang đi trên mặt nước. Nhưng khi gió bắt đầu thổi mạnh, đức tin của ông bị lung lay. Sau đó ông bắt đầu chìm. Khi ông bắt đầu chìm, Thánh Peter phàn nàn với Chúa Giê Su, Chúa ơi, con đang chìm rồi. Chúa nói, tại sao con lại nghi ngờ? Bạn không nên bao giờ nghi ngờ đức tin của bạn. Thay vào đó bạn cần phải bước đi trong đức tin. Bước đi trong đức tin nghĩa là hành động một cách có trách nhiệm trong đức tin. Đừng có đi mà tiêu tiền mua sổ xố và lô đề rồi nói rằng, tôi có đức tin ở Chúa nên tôi sẽ thắng. Bạn sẽ không thắng bởi vì đó là thử thách Chúa. Lô đề, cờ bạc là những điều ma quỷ. Chúa chỉ giúp những người làm việc chăm chỉ và kiếm tiền chân chính. Tương tự, đừng kiếm chuyện mà cãi cọ với mọi người trên đường và nói rằng, tôi có đức tin tôi sẽ thắng. Bạn sẽ bị đánh bầm người đấy. Đức tin cần phải được vận dụng và thể hiện đúng cách và đúng chỗ. Đừng nói rằng, Kinh Thánh dạy phải thực hiện đức tin nên tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Đó là suy nghĩ của quỷ. Đừng cho phép đức tin của bạn bị lợi dụng bởi quỷ.

The second thing in relation to faith is given in James 3: 13-18. Here again, we are taught about how to demonstrate faith. It means the more educated and knowledgeable you are, the more humble you should be. When you gain wisdom through your knowledge, you develop the ability to understand the other person. It means, you become empathetic. Your ability to understand others will eliminate envy and selfishness. We have an example of what happens if we envy others. Let us read Genesis 30: 1-6. Here we see the disaster of envy. Rachel envied her sister because Leah had children and she did not. Secondly, she thought that it is because Jacob is not giving her children. Always remember, it is not just human effort, but children are the blessing of God. Psalm 127:3 Children are indeed a heritage from the Lord, the fruit of the womb a reward. Therefore, instead of envying others, if anyone does not have children, they should ask the Lord. That is what Hannah did as we read in 1 Samuel 1: 11 O Lord of hosts, if only you will look on the misery of your servant, and remember me, and not forget your servant, but will give to your servant a male child, then I will set him before you as a nazarite until the day of his death. He shall drink neither wine nor intoxicants, and no razor shall touch his head. 

Điều thứ hai về mối quan hệ với đức tin được đưa ra trong James 3:13-18. Một lần nữa, chúng ta được dạy về việc làm thế nào để thể hiện đức tin. Có nghĩa rằng, bạn càng được dạy dỗ và có tri thức, thì bạn càng cần phải khiêm tốn hơn. Khi bạn có được sự khôn ngoan qua tri thức của bạn, bạn phát triển khả năng hiểu người khác. Có nghĩa là bạn sẽ trở nên dễ cảm thông hơn. Khả năng thấu hiểu sẽ loại bỏ sự ghen ghét và tính ích kỷ. Chúng ta có một ví dụ về điều xảy ra nếu chúng ta ghen ghét với người khác. Chúng ta hãy đọc Genesis 30:1-6. Ở đây chúng ta thấy sự thảm họa của sự ghen tỵ. Rachel ghen với chị mình bởi vì Leah có con còn cô ta thì không có. Thứ hai, cô nghĩ rằng đấy là vì Jacob không cho cô có con. Luôn nhớ rằng, không phải nỗ lực của con người nhưng con cái là phước lành của Chúa. Thi Thiên 127:3 Kìa, con cái là cơ nghiệp Đức Giê Hô Va ban cho; Bông trái của tử cung là phần thưởng. Do đó, thay vì ghen tỵ với người khác, nếu ai đó không có con, họ nên cầu nguyện Chúa. Đó là điều Hannah đã làm trong 1 Samuel 1:11 Lạy Đức Giê Hô Va vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên ban cho tớ gái Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê Hô Va trọn đời và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó.

This prayer is not only for children but for all things that we need. It could be for any personal needs. Do not envy someone who is rich or more beautiful than you are. If you are in need of something, and if that need is genuine, just pray to the Lord in the same way as Hannah prayed. 

Lời cầu nguyện này không phải chỉ cho những đứa trẻ mà con cho mọi điều chúng ta cần. Có thể là cho bất kỳ nhu cầu cá nhân nào. Đừng ghen tỵ với những người giàu có hay xinh đẹp hơn bạn. Nếu bạn cần điều gì và nếu nhu cầu đó là chân thật, chỉ cần cầu nguyện Chúa theo cách mà Hannah đã cầu.

Out of envy, Rachel made a demonic decision. When you are too selfish, you become so crazy that you try to achieve your aim by hook or crook. Rachel said, ok, if the Lord has not blessed my womb, let me try my maid. She forced her husband to commit adultery. Finally, a son was born through that relationship, and he was named Dan. In Genesis 30:6 we read that Rachel said that the Lord has given her a son. Not at all. She was wrong. We see later that the whole tribe of Dan was cursed. When Jacob was old and was going to die, he called his sons and blessed them each. Those blessings were all prophecies. In his prophecy about Dan, Jacob said as we read in Genesis 49:17 Dan shall be a snake by the roadside, a viper along the path, that bites the horse’s heels. 

Vì ghen tỵ, Rachel đã đưa ra một quyết định điên rồ. Khi bạn quá nhỏ nhoi, bạn trở nên quá điên rồ đến nỗi bạn quyết tâm làm đạt được mục tiêu bằng mọi giá. Rachel nói, được, nếu Đức Giê Hô Va không ban phước cho bụng dạ ta thì ta sẽ dùng tớ gái ta. Vậy bà đã bắt chồng bà ngoại tình. Cuối cùng con trai được sinh ra tên là Dan.  Trong Genesis 30:6, chúng ta đọc rằng, Rachel nói rằng Chúa cho bà một con trai. Nhưng không phải vậy. Bà đã nhầm. Chúng ta thấy rằng sau đó cả bộ độc Đan đã bị nguyền rủa. Khi Giacop già và chuẩn bị chết, ông gọi các con trai và ban phước cho mỗi người. Trong lời tiên tri về Dan, Giacop nói trong Genesis 49:17 Đan sẽ là một con rắn bên đường, Một con rắn độc trên lối đi, cắn gót chân ngựa, khiến người cưỡi ngựa phải té nhào.

Later, the tribe of Dan turned to idolatry as we read in Judges 18:30-31 Then the Danites set up the idol for themselves. Jonathan, son of Gershom, son of Moses, and his sons were priests to the tribe of the Danites until the time the land went into captivity. So they maintained as their own Micah’s idol that he had made, as long as the house of God was at Shiloh. As we see here, the entire tribe of Dan became demonic and got disconnected from the other tribes. 

Sau đó, bộ tộc Đan trở nên thờ cúng thần tượng như chúng ta đọc trong Quan Xét 18:30-31 Bộ tộc Đan dựng tượng chạm để thờ, rồi Giô Na Than, con trai Ghẹt Sôm, cháu Môi se, và hậu tự ông đều làm thấy tễ lễ trong bộ tộc Đan cho đến ngày họ bị lưu đày ra khỏi xứ. Họ giữ tượng chạm Mi-ca đã làm trong suốt thời gian đến Đức Chúa Trời ở lại Shiloh. Dân tộc Đan đã trở nên xấu xa và bị tách biệt khỏi các bộ tộc khác.

The worst curse on Dan is seen in the book of Revelations. In chapter 7 we read that a total of 144 thousand people from Israel are marked with a seal for the kingdom of God. These 144 thousand people comprise 12 thousand each from the 12 tribes of Israel. Dan was supposed to be one tribe as he was also the son of Jacob. But we see in Revelations 7 that his name is missing. Instead, Manasseh, the son of Joseph, is counted in place of Dan. It means the tribe of Dan is not going to be accepted during the second coming of our Lord Jesus Christ. 

Sự nguyền rủa tội tệ nhất xảy ra với bộ tộc Đan là trong Khải Huyền. Ở Chương 7, chúng ta đọc rằng, trong tổng số 144 ngàn người Isarel được đánh dấu bởi ấn bởi vương quốc của Chúa. Có 144 ngàn người từ 12 bộ tộc, mỗi bộ tộc 12 ngàn người được đóng ấn. Dan lẽ ra sẽ là một các bộ tộc đó vì ông cũng là con của Gia Cốp. Nhưng chúng ta thấy không có tên ông ở đây. Thay vào đó Manase là con của Giô sép được đưa vào thay cho bộ tộc Đan. Có nghĩa bộ tộc Đan sẽ không được chấp nhận khi Chúa đến lần thứ hai.

So, where did it start? It started from the envy and selfishness of one woman, Rachel, the wife of Jacob. The message is simple but powerful. As Saint James said in 3:14-16 But if you have bitter envy and selfish ambition in your hearts, do not be boastful and false to the truth. Such wisdom does not come down from above, but is earthly, unspiritual, and devilish. For where there is envy and selfish ambition, there will also be disorder and wickedness of every kind. 

Vậy mọi việc bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ sự ghen tỵ và ích kỷ của một người đàn bà. Rachel, vợ của Gia cốp. Thông điệp ở đây rất đơn giản nhưng mạnh mẽ. Như Thánh James nói trong 3:14-16 Nếu anh em ghen ghét một cách đắng cay và tranh cạnh trong lòng, thì chớ khoe khoang hay dùng lời dối trá chống lại chân lý. Sự khôn ngoan đó không đến từ thiên thượng, nhưng thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ. Vì ở đâu có sự ghen ghét và tranh cạnh thì ở đó có sự xáo trộn và đủ mọi việc ác.

Saint James teaches us to get rid of envy and selfishness and demonstrate our faith by practicing a few things as we read in 3:17. We need to demonstrate our faith by being gentle, peaceable, willing to yield, which means not to be stubborn, merciful to others, impartial and without any hypocrisy. That is what true faith is. As we read in the letter of Saint James chapters 4 and 5, when we have true faith, our style and content of prayer will change. We will not be selfish in our prayers. We will not judge anyone in our prayers. Neither will we boast. Instead, we will be humble and thankful. Moreover, we will be praying less for our needs but more for other people and their needs. That is what prayer of faith is as we read in the final section of the letter. 

Thánh James đã dạy chúng ta phải loại bỏ hết tất cả sự ghen tỵ và đố kỵ và thể hiện đức tin bằng cách thực hiện một vài điều như chúng ta đọc trong 3:17, Nhưng sự khôn ngoan từ thiên thượng thì trước hết là thanh sạch, rồi hiếu hòa, dịu dàng, nhường nhịn, đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành, không chút thành kiến hay giả dối. Chúng ta cần phải thể hiện đức tin bằng cách trở nên dịu dàng, hiền hòa, sẵn sàng sinh bông trái nghĩa là không ngang bướng, nhân từ với người khác, không tư lợi và không giả dối. Đó là ý nghĩa của đức tin thực sự. Như chúng ta đọc trong thư của Thánh James chương 4 và 5, khi chúng ta có đức tin, phong cách và nội dung cầu nguyện của chúng ta sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ không ích kỷ trong lời cầu nguyện nữa. Chúng ta sẽ không đánh giá bất kỳ ai trong lời cầu nguyện của mình. Chúng ta cũng sẽ không kiêu ngạo. Thay vào đó, chúng ta khiêm nhường và biết ơn. Hơn nữa, chúng ta sẽ cầu nguyện ít hơn cho những nhu cầu của mình nhưng nhiều hơn cho những người khác và nhu cầu của họ. Đó là cầu nguyện của đức tin như chúng ta đọc được trong phần cuối của lá thư này.

Saint James preached the gospel in Jerusalem. As said in the beginning, he was the first bishop of Jerusalem. In 62 AD a group of furious Scribes and Pharisees forced Saint James to renounce Christianity. When he refused, Saint James was taken to the top of the temple and was thrown down. He did not die in the fall. The mob standing down first stoned him. But Saint James prayed for them.  Then he was beaten up with sticks by the Jews and thus he died as a martyr. 

Thánh James đã rao giảng Tin Lành ở Giê Ru Sa Lam. Như được nói ở phần đầu, ông là linh mục đầu tiên của Giê Ru Sa Lem. Vào năm 62 trước Công Nguyên, một nhóm những người Pha-ri-si và thầy tế lễ đã bắt Thánh James phải chối bỏ Thiên Chúa Giáo. Khi ông từ chối, Thánh James bị đưa lên nóc đền thờ và bị ném xuống. Mặc dù ngã xuống ông vẫn không chết. Đám đông bên dưới dùng đá ném ông. Nhưng Thánh James cầu nguyện cho họ. Sau đó ông bị người Do Thái đánh bằng gậy và tử vì đạo.

May the intercession of Saint James be with us. 

Cầu xin lời cầu thay của Thánh James ở cùng chúng ta. Amen.

God bless you. Amen.