Friday, July 30, 2021

Matthew 10:1-4: Thánh James (nhỏ)

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have so far covered eight disciples of Jesus Christ. I hope you can remember their names. In the last class, we studied about the life of Saint Matthew. 

Từ trước tới nay, chúng ta đã học tám môn đồ của Chúa Giê Su. Cha hy vọng các bạn đã có thể nhớ được hết tên của họ. Ở buổi trước, chúng ta học về cuộc đời của Thánh Matthew.

Tonight, we are going to study about the life of Saint James, the lesser or Saint James the younger. This is the second James in the list of twelve disciples. The first one is Saint James the greater. Saint James the Great and Saint John were brothers. Since there were two James, one was called the elder or greater and the other one the lesser or younger. His father’s name was also Alphaeus. In the last class we saw that Saint Matthew’s father was also one Alpheus. But these are not the same person. 

Tối nay chúng ta sẽ học về cuộc đời của Thánh James nhỏ hoặc bé hơn. Đây là thánh James thứ hai trong danh sách mười hai sứ đồ. Người đầu tiên là Thánh James lớn. Thánh James lớn và Thánh John là hai an hem. Vì có hai anh em, vì có hai người cùng tên là James cho nên có người lớn và có người nhỏ. Tên của bố của ông cũng là Alphaeus. Cha của Thánh Matthew cũng là Alphaeus. Nhưng không phải là cùng một người.

There is a wrong teaching that Saint James the younger was the brother of Jesus. It is possible that they were cousins but Mother Mary was always a virgin. The confusion was because there are sections in the Bible where the mother of Saint James is given as Mary. For example, Mark 15:40 There were also women looking from a distance; among them were Mary Magdalene, and Mary the mother of James the younger and Joses, and Salome. But Mary the mother of Saint James is believed to be Mary the wife of Clopas given in John 19:25 ...Meanwhile, standing near the cross of Jesus were His mother, and His mother’s sister, Mary the wife of Clopas, and Mary Magdalene. It is more clear in Matthew 27:56 Among them were Mary Magdalene, and Mary the mother of James and Joseph, and the mother of the sons of Zebedee. We should know this clearly because there are teachings which try to establish that Mother Mary was not a virgin, and had a few children. 

Cũng có lời dạy sai rằng Thánh James nhỏ là anh của Chúa Giê Su. Có thể họ là anh em họ. Nhưng mẹ Mary là đức mẹ đồng trinh. Sự nhầm lẫn có thể là do ở trong một phần Kinh Thánh có nói rằng, mẹ của Thánh James là Mary. Ví dụ ở Mark 15:40 nói rằng Cũng có những người phụ nữ nhìn ở đằng xa, trong số này có Mary Ma đơ len, Mari mẹ của Gia cơ nhỏ và Giô sép, cùng Salome. Nhưng Mary mẹ của Thánh James được cho là Mary vợ của Clopas được đưa ra trong John 19:25 Đứng gần thập tự giá của Đức Chúa Giê Su có mẹ Ngài, chị của mẹ Ngài, với Mari vợ Cleopas và Mary Ma đơ len. Chúng ta biết điều này rõ ràng bởi vì những lời dạy cố gắng bịa đặt rằng Mẹ Mary có vài người con, chứ không phải là đức mẹ đồng trinh.

Saint James was the first Bishop of Jerusalem. More importantly, he was the first person to celebrate the Holy Qurbana. He wrote the letter of James that we read in the New Testament. The key theme of the letter of James is found in James 2:17 where he said faith without work is dead. He taught that the willingness to help others is what actual faith means. You cannot simply say that I believe and do nothing. He said, even the devils believe in God as we read in James 2:19 You believe that God is one; you do well. Even the demons believe- and shudder. So the question is: what is the difference between you and the demons? 

Thánh James là linh mục đầu tiên của Giê Ru Sa Lem. Quan trọng hơn, ông là người đầu tiên cử hành lễ Holy Qurbana. Ông viết cuốn Thư của James mà chúng ta đọc trong Tân Ước. Chủ đề chính của lá thư được đưa ra trong James 2:17 Đức tin cũng vậy, nếu đức tin không có hành động thì tự nó cũng chết. Ông dạy rằng sự sẵn lòng giúp người khác là ý nghĩa của đức tin thực sự. Bạn không thể nói rằng tôi tin và không làm gì cả. Thánh nói rằng, ngay cả quỷ cũng tin Chúa là Chúa như chúng ta đã đọc trong James 2:19 Bạn tin rằng chỉ có một Đức Chúa Trời, bạn tin đúng, ngay cả ma quỷ cũng tin như vậy và run sợ. Vậy câu hỏi ở đây là: sự khác biệt giữa bạn và quỷ là gì?

We need to demonstrate our faith in God. Saint James said, if you have faith, demonstrate it through your works. For example in chapter 1: 12 Saint James said, Blessed is anyone who endures temptation. Such a one has stood the test and will receive the crown of life that the Lord has promised to those who love Him. This is where the demonstration of faith comes. It is easy to say, I believe in Jesus. But are you able to demonstrate your faith, especially when you are in trouble? For example, it is easy to say, I know how to swim. Imagine that you fell in a river and are going to drown. Will you swim or will you just drown? If you know how to swim, you will definitely swim. If you do not swim, you will drown and possibly die. 

Chúng ta cần phải thể hiện được đức tin ở nơi Chúa. Thánh James nói, nếu con có đức tin hãy thể hiện nó qua hành động, Ví dụ trong 1:12, Thánh James nói, Phước cho những người chịu đựng sự thử thách; vì khi đã chịu nổi sự thử nghiệm, họ sẽ nhận mão triều thiên của sự sống mà Đức Chúa Trời đã hứa cho những người yêu mến Ngài. Đây chính là nơi thể hiện đức tin. Để mà nói rằng, tôi tin ở Chúa Giê Su thì rất là dễ. Nhưng bạn có thể thể hiện được đức tin của mình không, đặc biệt là khi bạn gặp rắc rối? Ví dụ, thật dễ để nói rằng, tôi biết bơi. Tưởng tượng, bạn ngã xuống sông và sắp chìm. Liệu bạn sẽ bơi hay bạn sẽ chìm thôi? Nếu bạn biết cách bơi, bạn chắc chắn sẽ bơi. Còn nếu không bơi, bạn sẽ chìm và có thể chết.

Now imagine that you fell in a river and started drowning. Will you just say, I do not have to swim because I have faith, so Jesus will rescue me? That is foolishness. Instead, you should say, in faith I am going to swim and my faith will save me. When you start drowning, you cannot complain saying, I have faith, why is God not helping me? 

Hãy tưởng tượng bạn ngã xuống sông và bắt đầu chìm. Liệu bạn có nói rằng, tôi không cần phải bơi bởi vì tôi có đức tin, Chúa Giê Su sẽ khắc cứu tôi? Đó là sự ngu dại. Thay vào đó, bạn cần phải nói như này, bằng đức tin tôi sẽ bơi hết sức và đức tin sẽ cứu tôi. Khi bắt đầu chìm, bạn đừng có phàn nàn, nói rằng, tôi có đức tin, tại sao Chúa không cứu tôi nhỉ?

If you do not know how to swim, you drown. In the same way, if you do not have faith, you won’t be able to defend or fight the devil. You know how to swim, so you swim. Likewise, if you have faith, you will have to fight the devil. If you have faith, you will talk in faith, and act in faith. Your thoughts will also be in faith. We studied about the faith of Abraham in the last class. Jesus taught the disciples about acting the faith out through the experience of Saint Peter. Let us read Matthew 14: 25-32. Here we see Jesus helping the disciples to practice faith. The lesson that Saint Peter and the other disciples learnt was, if you have faith just exercise it and practice it. Never doubt, nor panic. 

Nếu bạn không biết bơi, bạn sẽ chìm. Và cũng như thế, nếu bạn không có đức tin, bạn sẽ không thể bảo vệ và chiến đấu chống lại quỷ được. Bạn biết bơi, vậy thì bạn phải bơi. Tương tự, nếu bạn có đức tin, bạn sẽ phải chiến đấu chống lại quỷ. Nếu bạn có đức tin, bạn sẽ nói trong đức tin và hành động trong đức tin. Suy nghĩ của bạn cũng sẽ trong đức tin. Chúng ta đã học về đức tin của Abraham. Chúa Giê Su đã dạy các môn đồ về hành động qua trải nghiệm của Thánh Peter. Chúng ta hãy đọc Matthew 14:25-32. Ở đây, chúng ta thấy Chúa Giê Su giúp các môn đồ thể hiện đức tin. Bài học mà Thánh Peter và các môn đồ khác học được là nếu bạn có đức tin thì hãy cứ vận dụng và thực hành nó. Đừng nghi ngại mà cũng đừng sợ hãi.

Saint Peter was walking on the water. But, when the wind started blowing heavily, his faith was affected. Then he started drowning. When he started drowning, Saint Peter complained to Jesus, saying O Lord, I am drowning. Jesus then said, why did you doubt yourself? You should never doubt your faith. Instead, you should walk in your faith. Walking in faith means acting responsibly in faith. Do not just go and spend your money in buying lottery tickets or gambling and say, I have full faith in God, so I will win. You are never going to win because it is testing the Lord. Lottery and gambling are demonic things. Lord helps only those who work hard and earn money. Likewise, do not pick up fights with anyone on the street saying that I have faith, so I will win. You may get beaten up. Faith should be exercised and demonstrated in a responsible manner. Do not just say that the Bible teaches to exercise faith, so I can do whatever I want to do. That is demonic thinking. Never allow your faith to be handled by the demons. 

Thánh Peter đang đi trên mặt nước. Nhưng khi gió bắt đầu thổi mạnh, đức tin của ông bị lung lay. Sau đó ông bắt đầu chìm. Khi ông bắt đầu chìm, Thánh Peter phàn nàn với Chúa Giê Su, Chúa ơi, con đang chìm rồi. Chúa nói, tại sao con lại nghi ngờ? Bạn không nên bao giờ nghi ngờ đức tin của bạn. Thay vào đó bạn cần phải bước đi trong đức tin. Bước đi trong đức tin nghĩa là hành động một cách có trách nhiệm trong đức tin. Đừng có đi mà tiêu tiền mua sổ xố và lô đề rồi nói rằng, tôi có đức tin ở Chúa nên tôi sẽ thắng. Bạn sẽ không thắng bởi vì đó là thử thách Chúa. Lô đề, cờ bạc là những điều ma quỷ. Chúa chỉ giúp những người làm việc chăm chỉ và kiếm tiền chân chính. Tương tự, đừng kiếm chuyện mà cãi cọ với mọi người trên đường và nói rằng, tôi có đức tin tôi sẽ thắng. Bạn sẽ bị đánh bầm người đấy. Đức tin cần phải được vận dụng và thể hiện đúng cách và đúng chỗ. Đừng nói rằng, Kinh Thánh dạy phải thực hiện đức tin nên tôi có thể làm bất cứ điều gì mình muốn. Đó là suy nghĩ của quỷ. Đừng cho phép đức tin của bạn bị lợi dụng bởi quỷ.

The second thing in relation to faith is given in James 3: 13-18. Here again, we are taught about how to demonstrate faith. It means the more educated and knowledgeable you are, the more humble you should be. When you gain wisdom through your knowledge, you develop the ability to understand the other person. It means, you become empathetic. Your ability to understand others will eliminate envy and selfishness. We have an example of what happens if we envy others. Let us read Genesis 30: 1-6. Here we see the disaster of envy. Rachel envied her sister because Leah had children and she did not. Secondly, she thought that it is because Jacob is not giving her children. Always remember, it is not just human effort, but children are the blessing of God. Psalm 127:3 Children are indeed a heritage from the Lord, the fruit of the womb a reward. Therefore, instead of envying others, if anyone does not have children, they should ask the Lord. That is what Hannah did as we read in 1 Samuel 1: 11 O Lord of hosts, if only you will look on the misery of your servant, and remember me, and not forget your servant, but will give to your servant a male child, then I will set him before you as a nazarite until the day of his death. He shall drink neither wine nor intoxicants, and no razor shall touch his head. 

Điều thứ hai về mối quan hệ với đức tin được đưa ra trong James 3:13-18. Một lần nữa, chúng ta được dạy về việc làm thế nào để thể hiện đức tin. Có nghĩa rằng, bạn càng được dạy dỗ và có tri thức, thì bạn càng cần phải khiêm tốn hơn. Khi bạn có được sự khôn ngoan qua tri thức của bạn, bạn phát triển khả năng hiểu người khác. Có nghĩa là bạn sẽ trở nên dễ cảm thông hơn. Khả năng thấu hiểu sẽ loại bỏ sự ghen ghét và tính ích kỷ. Chúng ta có một ví dụ về điều xảy ra nếu chúng ta ghen ghét với người khác. Chúng ta hãy đọc Genesis 30:1-6. Ở đây chúng ta thấy sự thảm họa của sự ghen tỵ. Rachel ghen với chị mình bởi vì Leah có con còn cô ta thì không có. Thứ hai, cô nghĩ rằng đấy là vì Jacob không cho cô có con. Luôn nhớ rằng, không phải nỗ lực của con người nhưng con cái là phước lành của Chúa. Thi Thiên 127:3 Kìa, con cái là cơ nghiệp Đức Giê Hô Va ban cho; Bông trái của tử cung là phần thưởng. Do đó, thay vì ghen tỵ với người khác, nếu ai đó không có con, họ nên cầu nguyện Chúa. Đó là điều Hannah đã làm trong 1 Samuel 1:11 Lạy Đức Giê Hô Va vạn quân, nếu Ngài đoái xem nỗi sầu khổ của tớ gái Ngài, nhớ lại con và không quên ban cho tớ gái Ngài một con trai, thì con sẽ hiến dâng nó cho Đức Giê Hô Va trọn đời và dao cạo sẽ không chạm đến đầu nó.

This prayer is not only for children but for all things that we need. It could be for any personal needs. Do not envy someone who is rich or more beautiful than you are. If you are in need of something, and if that need is genuine, just pray to the Lord in the same way as Hannah prayed. 

Lời cầu nguyện này không phải chỉ cho những đứa trẻ mà con cho mọi điều chúng ta cần. Có thể là cho bất kỳ nhu cầu cá nhân nào. Đừng ghen tỵ với những người giàu có hay xinh đẹp hơn bạn. Nếu bạn cần điều gì và nếu nhu cầu đó là chân thật, chỉ cần cầu nguyện Chúa theo cách mà Hannah đã cầu.

Out of envy, Rachel made a demonic decision. When you are too selfish, you become so crazy that you try to achieve your aim by hook or crook. Rachel said, ok, if the Lord has not blessed my womb, let me try my maid. She forced her husband to commit adultery. Finally, a son was born through that relationship, and he was named Dan. In Genesis 30:6 we read that Rachel said that the Lord has given her a son. Not at all. She was wrong. We see later that the whole tribe of Dan was cursed. When Jacob was old and was going to die, he called his sons and blessed them each. Those blessings were all prophecies. In his prophecy about Dan, Jacob said as we read in Genesis 49:17 Dan shall be a snake by the roadside, a viper along the path, that bites the horse’s heels. 

Vì ghen tỵ, Rachel đã đưa ra một quyết định điên rồ. Khi bạn quá nhỏ nhoi, bạn trở nên quá điên rồ đến nỗi bạn quyết tâm làm đạt được mục tiêu bằng mọi giá. Rachel nói, được, nếu Đức Giê Hô Va không ban phước cho bụng dạ ta thì ta sẽ dùng tớ gái ta. Vậy bà đã bắt chồng bà ngoại tình. Cuối cùng con trai được sinh ra tên là Dan.  Trong Genesis 30:6, chúng ta đọc rằng, Rachel nói rằng Chúa cho bà một con trai. Nhưng không phải vậy. Bà đã nhầm. Chúng ta thấy rằng sau đó cả bộ độc Đan đã bị nguyền rủa. Khi Giacop già và chuẩn bị chết, ông gọi các con trai và ban phước cho mỗi người. Trong lời tiên tri về Dan, Giacop nói trong Genesis 49:17 Đan sẽ là một con rắn bên đường, Một con rắn độc trên lối đi, cắn gót chân ngựa, khiến người cưỡi ngựa phải té nhào.

Later, the tribe of Dan turned to idolatry as we read in Judges 18:30-31 Then the Danites set up the idol for themselves. Jonathan, son of Gershom, son of Moses, and his sons were priests to the tribe of the Danites until the time the land went into captivity. So they maintained as their own Micah’s idol that he had made, as long as the house of God was at Shiloh. As we see here, the entire tribe of Dan became demonic and got disconnected from the other tribes. 

Sau đó, bộ tộc Đan trở nên thờ cúng thần tượng như chúng ta đọc trong Quan Xét 18:30-31 Bộ tộc Đan dựng tượng chạm để thờ, rồi Giô Na Than, con trai Ghẹt Sôm, cháu Môi se, và hậu tự ông đều làm thấy tễ lễ trong bộ tộc Đan cho đến ngày họ bị lưu đày ra khỏi xứ. Họ giữ tượng chạm Mi-ca đã làm trong suốt thời gian đến Đức Chúa Trời ở lại Shiloh. Dân tộc Đan đã trở nên xấu xa và bị tách biệt khỏi các bộ tộc khác.

The worst curse on Dan is seen in the book of Revelations. In chapter 7 we read that a total of 144 thousand people from Israel are marked with a seal for the kingdom of God. These 144 thousand people comprise 12 thousand each from the 12 tribes of Israel. Dan was supposed to be one tribe as he was also the son of Jacob. But we see in Revelations 7 that his name is missing. Instead, Manasseh, the son of Joseph, is counted in place of Dan. It means the tribe of Dan is not going to be accepted during the second coming of our Lord Jesus Christ. 

Sự nguyền rủa tội tệ nhất xảy ra với bộ tộc Đan là trong Khải Huyền. Ở Chương 7, chúng ta đọc rằng, trong tổng số 144 ngàn người Isarel được đánh dấu bởi ấn bởi vương quốc của Chúa. Có 144 ngàn người từ 12 bộ tộc, mỗi bộ tộc 12 ngàn người được đóng ấn. Dan lẽ ra sẽ là một các bộ tộc đó vì ông cũng là con của Gia Cốp. Nhưng chúng ta thấy không có tên ông ở đây. Thay vào đó Manase là con của Giô sép được đưa vào thay cho bộ tộc Đan. Có nghĩa bộ tộc Đan sẽ không được chấp nhận khi Chúa đến lần thứ hai.

So, where did it start? It started from the envy and selfishness of one woman, Rachel, the wife of Jacob. The message is simple but powerful. As Saint James said in 3:14-16 But if you have bitter envy and selfish ambition in your hearts, do not be boastful and false to the truth. Such wisdom does not come down from above, but is earthly, unspiritual, and devilish. For where there is envy and selfish ambition, there will also be disorder and wickedness of every kind. 

Vậy mọi việc bắt đầu từ đâu? Bắt đầu từ sự ghen tỵ và ích kỷ của một người đàn bà. Rachel, vợ của Gia cốp. Thông điệp ở đây rất đơn giản nhưng mạnh mẽ. Như Thánh James nói trong 3:14-16 Nếu anh em ghen ghét một cách đắng cay và tranh cạnh trong lòng, thì chớ khoe khoang hay dùng lời dối trá chống lại chân lý. Sự khôn ngoan đó không đến từ thiên thượng, nhưng thuộc về thế gian, xác thịt và ma quỷ. Vì ở đâu có sự ghen ghét và tranh cạnh thì ở đó có sự xáo trộn và đủ mọi việc ác.

Saint James teaches us to get rid of envy and selfishness and demonstrate our faith by practicing a few things as we read in 3:17. We need to demonstrate our faith by being gentle, peaceable, willing to yield, which means not to be stubborn, merciful to others, impartial and without any hypocrisy. That is what true faith is. As we read in the letter of Saint James chapters 4 and 5, when we have true faith, our style and content of prayer will change. We will not be selfish in our prayers. We will not judge anyone in our prayers. Neither will we boast. Instead, we will be humble and thankful. Moreover, we will be praying less for our needs but more for other people and their needs. That is what prayer of faith is as we read in the final section of the letter. 

Thánh James đã dạy chúng ta phải loại bỏ hết tất cả sự ghen tỵ và đố kỵ và thể hiện đức tin bằng cách thực hiện một vài điều như chúng ta đọc trong 3:17, Nhưng sự khôn ngoan từ thiên thượng thì trước hết là thanh sạch, rồi hiếu hòa, dịu dàng, nhường nhịn, đầy lòng thương xót và bông trái tốt lành, không chút thành kiến hay giả dối. Chúng ta cần phải thể hiện đức tin bằng cách trở nên dịu dàng, hiền hòa, sẵn sàng sinh bông trái nghĩa là không ngang bướng, nhân từ với người khác, không tư lợi và không giả dối. Đó là ý nghĩa của đức tin thực sự. Như chúng ta đọc trong thư của Thánh James chương 4 và 5, khi chúng ta có đức tin, phong cách và nội dung cầu nguyện của chúng ta sẽ thay đổi. Chúng ta sẽ không ích kỷ trong lời cầu nguyện nữa. Chúng ta sẽ không đánh giá bất kỳ ai trong lời cầu nguyện của mình. Chúng ta cũng sẽ không kiêu ngạo. Thay vào đó, chúng ta khiêm nhường và biết ơn. Hơn nữa, chúng ta sẽ cầu nguyện ít hơn cho những nhu cầu của mình nhưng nhiều hơn cho những người khác và nhu cầu của họ. Đó là cầu nguyện của đức tin như chúng ta đọc được trong phần cuối của lá thư này.

Saint James preached the gospel in Jerusalem. As said in the beginning, he was the first bishop of Jerusalem. In 62 AD a group of furious Scribes and Pharisees forced Saint James to renounce Christianity. When he refused, Saint James was taken to the top of the temple and was thrown down. He did not die in the fall. The mob standing down first stoned him. But Saint James prayed for them.  Then he was beaten up with sticks by the Jews and thus he died as a martyr. 

Thánh James đã rao giảng Tin Lành ở Giê Ru Sa Lam. Như được nói ở phần đầu, ông là linh mục đầu tiên của Giê Ru Sa Lem. Vào năm 62 trước Công Nguyên, một nhóm những người Pha-ri-si và thầy tế lễ đã bắt Thánh James phải chối bỏ Thiên Chúa Giáo. Khi ông từ chối, Thánh James bị đưa lên nóc đền thờ và bị ném xuống. Mặc dù ngã xuống ông vẫn không chết. Đám đông bên dưới dùng đá ném ông. Nhưng Thánh James cầu nguyện cho họ. Sau đó ông bị người Do Thái đánh bằng gậy và tử vì đạo.

May the intercession of Saint James be with us. 

Cầu xin lời cầu thay của Thánh James ở cùng chúng ta. Amen.

God bless you. Amen.

 

Matthew 10:1-4: Thánh Matthew

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thật sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4

We have so far covered seven disciples of Jesus Christ. I hope you can remember their names. In the last class, we studied Saint Thomas. 

Từ trước tới nay, chúng ta đã học về 7 môn đồ của Chúa Giê Su. Tôi hy vọng các bạn có thể nhớ được tên của họ. Trong buổi trước chúng ta học Thánh Thomas

Tonight, we are going to study about Saint Matthew. I hope you are familiar with this name because he wrote the first gospel and the first book of the New Testament. We are studying the gospel according to Saint Matthew. The other name of Saint Matthew was Levi. He was the son of Alphai or Alphaeus. The meaning of the name Matthew is Gift of God. 

Tối nay chúng ta sẽ học về Thánh Matthew. Tôi hy vọng bạn quen với cái tên này bởi vì Thánh là người đã viết Tin Lành đầu tiên và cuốn sách đầu tiên của Tân Ước. Chúng ta đang học về Tin Lành theo Thánh Mathew. Tên gọi khác của Thánh Matthew là Levi. Ông là con của Alphai hoặc Alphaeus. Ý nghĩa của tên Matthew có nghĩa Món quà của Chúa.

The first reference of Saint Matthew is given in Matthew 9: 9 As Jesus was walking along, He saw a man called Matthew sitting at the tax booth; and He said to him, Follow me, and he got up and followed Him. In Mark 2:14 it is written As He was walking along, He saw Levi son of Alphaeus sitting at the tax booth, and He said to him, Follow me. And he got up and followed Him. Likewise, in Luke 5:27-28 it is written: After this He went out and saw a tax collector named Levi, sitting at the tax booth; and He said to him, Follow me. And he got up, left everything, and followed Him. 

Điều đầu tiên được đưa ra về Thánh Matthew được đưa ra trong Matthew 9:9 Ra khỏi đó, Đức Chúa Giê Su thấy một người tên là Mát-Thi-Ơ đang ngồi tại trạm thu thuế. Ngài bảo: “Hãy theo ta”. Người đứng dậy và đi theo Ngài. Trong Mark 2:14 Thế rồi, đang khi đi, Ngài thấy Levi con An-phe ngồi tại trạm thu thuế, thì bảo “Hãy theo Ta”. Người đứng dậy theo Ngài. Và trong Luke 5:27-28, “Sau đó, Đức Chúa Giê Su đi ra, thấy một người thu thuế tên Lê-Vi đang ngồi tại trạm thu thuế, Ngài bảo: Hãy theo Ta. Ông đứng dậy, bỏ tất cả, đi theo Ngài.

As we learn from these verses, Saint Matthew was a tax collector. Israel in those days was ruled by the Roman government. The Romans were foreigners and hence the people of Israel hated them. Even today, we hate paying tax to our own governments. So you can imagine how much more it would be to pay tax to a foreign government. Saint Matthew was a Jew but was collecting tax for the pagans. Hence, his own people hated Saint Matthew. They called him a traitor. 

Chúng ta đọc những câu này và hiểu rằng, Thánh Matthew là một người thu thuế. Isarel ngày đó bị cai trị bởi chính quyền Roman. Người Roma là những người ngoại quốc và do đó người Isarel ghét họ. Ngay cả ngày nay, chúng ta thấy nhiều người không thích nộp thuế. Vì thế bạn có thể tưởng tượng sẽ còn kinh khủng như thế nào khi phải nộp thuế cho chính quyền ngoại bang. Thánh Matthew là người Do Thái nhưng lại đi làm thuê cho người ngoại giáo để thu thuế của dân. Do đó, người dân Do Thái ghét Thánh Matthew. Họ gọi ông là kẻ phản bội.

The people hated him so much that he was a lonely man. The Jewish people would not even eat with him or have any kind of association with him. This is indicated in Mark 2: 15 And as He sat at dinner in Levi’s house, many tax collectors and sinners were also sitting with Jesus and His disciples- for there were many who followed Him. When the Scribes of the Pharisees saw that He was eating with sinners and tax collectors, they said to His disciples, Why does He eat with tax collectors and sinners? 

Người ta ghét ông nhiều đến nỗi ông trở thành một kẻ cô độc. Người Do Thái không muốn ăn với ông hay có quan hệ gì với ông cả. Đó là điều được đưa ra trong Mark 2:15 Sau đó Đức Chúa Giê Su ngồi ăn tại nhà Le-vi, có nhiều người thu thuế và những kẻ bị coi là tội nhân cùng ngồi ăn với Ngài và môn đệ, vì nhiều người đã theo Ngài. Các giáo sư Kinh Luật thuộc phái Pha-ri-si thấy Ngài ăn chung với những người thu thuế và những kẻ tội lỗi nên nói với các môn đệ Ngài: Tại sao ông ấy ăn uống chung với bọn thu thuế và kẻ tội lỗi?

Back to Jesus’ calling of Saint Matthew, we have an important lesson to learn. Saint Matthew was a rich man. He was earning very good money from his job. He had good connections with high government officials. Only thing is that his own people hated him. But, he couldn't care less. When Jesus called Him, Saint Matthew immediately left his job and followed Him. The lesson is, Jesus can call us anytime, anywhere and under any circumstances. The Lord does not have to wait for the right time to call someone. When God calls, it is the right time. When God calls us, we cannot say, Lord please wait, I have a few things to finish. Saint Matthew did not say, Lord, let me hand over the tax collected and then I will follow you. Neither did he say, Lord, I have a job; I need to give one month notice before resigning. He did not negotiate with the Lord asking, ok Lord, I am earning x amount of money from this job; how much can I earn if I follow you. 

Quay trở lại việc Chúa gọi Thánh Matthew, chúng ta có một bài học quan trọng ở đây. Thánh Matthew là một người giàu có. Ông kiếm được nhiều tiền từ công việc của mình. Ông có mối quan hệ tốt với các cấp chính quyền. Điều duy nhất là mọi người ghét ông ta. Nhưng, ông cũng chẳng đếm xỉa đến điều này. Khi Chúa Giê Su gọi ông, Thánh Matthew ngay lập tức bỏ công việc mà theo Ngài. Bài học ở đây là Chúa Giê Su có thể gọi chúng ta bất kỳ lúc nào, bất kỳ nơi đâu và dưới bất kỳ hoàn cảnh nào. Chúa không phải chờ đến đúng lúc mới gọi ai đó. Khi Chúa gọi, thì đó là đúng lúc. Khi Chúa gọi chúng ta, chúng ta không thể nói rằng, Chúa ơi, đợi con chút, con còn vài điều cần hoàn thành. Thánh Matthew không nói rằng, Chúa ơi, đợi con đi nộp thuế xong đã rồi con sẽ theo Ngài. Ông cũng không nói rằng, Chúa ơi, con có công việc, con cần phải xin nghỉ trước một tháng. Ông cũng không thương lượng với Chúa như là, Chúa ơi con đang kiếm được x tiền, liệu khi theo Ngài thì con sẽ kiếm được bao nhiêu.

We have people reading one paragraph from the Bible and expecting one year of blessings. Some others pray for ten minutes and expect ten times more of the money they have. Saint Matthew did not have any such expectations. He did not ask any questions. He neither asked time to think before making the decision. He immediately followed Jesus. In the same way, we should always be ready to hear the call of God and respond to what He asks us to do. Matthew 24:42-44 Keep awake therefore, for you do not know on what day your Lord is coming. But understand this, if the owner of the house had known in what part of the night the thief was coming, he would have stayed awake and would not have let his house be broken into. Therefore, you also must be ready, for the Son of Man is coming at an unexpected hour. 

Chúng ta có những người đọc một đoạn trong Kinh Thánh và mong sẽ nhận được một năm phước lành. Những người khác cầu nguyện 10 phút và mong sẽ nhận được gấp mười lần số tiền họ có. Thánh Matthew không có những mong muốn đó. Ông không hỏi câu hỏi gì cả. Ông cũng không cần thêm thời gian để nghĩ trước khi ra quyết định. Ông ngay lập tức theo Chúa Giê Su. Tương tự như vậy, chúng ta hãy sẵn sàng để lắng nghe tiếng gọi của Chúa và đáp lại những gì Ngài muốn chúng ta làm. Matthew 24:42-44 Vậy hãy tỉnh thức, vì các con không biết ngày nào Chúa mình sẽ đến. Hãy biết rằng nếu chủ nhà đã biết canh nào kẻ trộm đến, họ sẽ thức canh và không để cho nhà mình bị trộm khoét vách. Vì thế, các con phải sẵn sàng vì Con Người sẽ đến vào giờ các con không ngờ.

We should always be ready to hear the voice and call of the Lord. If the Lord asks us to do something, just do it. Do not ask questions or raise doubts. Do not argue and do not be worried. God asked Abraham to leave his country and relatives and go to a foreign country as we read in Genesis 12: 1 Now the Lord said to Abram, Go from your country and your kindred and your father’s house to the land that I will show you. Abraham just obeyed God’s call and left his country and everything behind. Hebrews 11:8 By faith Abraham obeyed when he was called to set out for a place that he was to receive as an inheritance; and he set out, not knowing where he was going. 

Chúng ta cũng nên sẵn sàng để nghe được tiếng nói và tiếng gọi của Chúa. Nếu Chúa bảo chúng ta làm gì, hãy cứ làm điều đó. Đừng hỏi những câu hỏi hay đặt ra những nghi ngờ. Đừng tranh biên và cũng đừng lo lắng. Chúa từng bảo Abraham rời đất nước và họ hàng mình để đi đến một đất nước khác như chúng ta đọc trong Sáng Thế Ký 12:1 Chúa bảo Ap-ram “Con hãy rời bỏ quê hương, dân con và nhà cha con để đi đến xứ Ta sẽ chỉ cho.” Áp-ram đã vâng lời gọi của Chúa, rời quê hương và mọi thứ ở phía sau. Hebrews 11:8 Bởi đức tin, Áp-ram vâng lời Chúa gọi đi đến nơi mình sẽ nhận làm cơ nghiệp, ông ra đi dù chẳng biết mình đi đâu.

As this verse says, Abraham did not even know where he was going. He just obeyed the Lord and set forth. Saint Matthew was working in the booth collecting tax when Jesus was passing by. Jesus just called Him and said follow me. He obeyed and followed Jesus. He did not ask Jesus, where are we going? In the same way our obedience to the Lord should always be unconditional and undoubtful. This is what we saw in Saint Thomas as well. He said, let us go with Him, even if we have to die. 

Câu này nói rằng, Ap-ram đã không biết mình đi đâu. Ông chỉ vâng lời Chúa và lên đường. Thánh Matthew đang làm việc trong trạm thu thuế thì Chúa Giê Su đ ingang qua. Chúa Giê Su gọi ông và nói Hãy Theo Ta. Ông vâng lời và theo Chúa Giê Su. Ông đã không hỏi Chúa Giê Su là chúng ta đang đi đâu? Tương tự, sự vâng lời của chúng ta đối với Chúa cần phải là vô điều kiện và không nghi ngờ. Đây cũng là điều chúng ta nhìn thấy ở Thánh Thomas nữa. Ông nói, chúng ta hãy đi theo Ngài, ngay cả nếu chúng ta có phải chết.

Obedience is an important factor in our relationship with God. 1 Samuel 15:22 And Samuel said, Has the Lord as great delight in burnt offerings and sacrifices, as in obedience to the voice of the Lord? Surely, to obey is better than sacrifice, and to heed than the fat of the rams. This verse clearly shows how important obedience is to the Lord. There is nothing more than obedience that can please God. Obedience to God is different to obeying the police or the authorities. Those obediences are out of fear. But obedience to God happens out of love. John 14:23 Jesus answered him, Those who love me will keep my word, and my Father will love them, and we will come to them and make our home with them. 

Sự vâng lời là một yếu tố quan trọng khác trong mối quan hệ của chúng ta đối với Chúa. 1 Samuel 15:22 Samuel nói: Đức Giê Hô Va có vui thích về tế lễ thiêu và các sinh tế, bằng sự vâng theo tiếng phán của Ngài chăng? Kìa, sự vâng lời tốt hơn sinh tế, sự nghe theo tốt hơn mỡ chiên đực. Câu này chỉ rõ rằng sự vâng lời sẽ làm hài lòng Chúa. Sự vâng lời Chúa thì khác với vâng lời chính quyền hay cảnh sát. Đó là sự vâng lời vì sợ. Nhưng chúng ta vâng lời Chúa vì chúng ta yêu Ngài. John 14:23 Đức Chúa Giê Su đáp: Nếu ai yêu mến Ta thì sẽ vâng giữ lời Ta, Cha Ta sẽ yêu thương người, Chúng Ta sẽ đến cùng người và ở với người.

We see in this verse what happens when we love the Lord. The very first thing that will happen from our love is obedience. We will obey the word of God. Secondly, when we obey the word, God the Father will love us. Thirdly, when God the Father loves us, God the Son and God the Spirit will also love us, and we will be living with the Holy Trinity. In other words, our obedience will bring the love of the Father, grace of the Son and the fellowship and indwelling of the Holy Spirit together in our lives. Those who have watched the Holy Qurbana must have noticed the priest blessing the congregation with these words. 

Chúng ta thấy trong câu này điều gì sẽ xảy ra khi chúng ta yêu Chúa. Điều đầu tiên sẽ xảy ra từ trong tình yêu của chúng ta là sự vâng lời. Chúng ta sẽ vâng lời Chúa. Thứ hai, khi chúng ta vâng lời Ngài, Chúa Cha sẽ yêu chúng ta. Thứ ba, khi Chúa Cha yêu chúng ta, Chúa con và Chúa Thánh Thần cũng sẽ yêu chúng ta và chúng ta sẽ sống cùng với Chúa Ba Ngôi. Nói cách khác, sự vâng lời của chúng ta sẽ mang tình yêu của Chúa Cha, ân điển của Chúa Con và sự đồng hành và ngự xuống của Chúa Thánh Thần cùng nhau trong đời sống chúng ta. Những ai đã từng xem lễ Holy Qurbana ở nhà thờ có thể nhận ra mục sư ban phước cho người dự lễ với những lời này.

Saint Matthew just obeyed the call of Jesus to follow Him. I said do not worry or express concern or make excuses when God calls. Just accept the call. Sometimes people go in the opposite direction to God’s call. For example, let us say that God asked someone to go to the right. But, the person goes to the left and gets lost. After getting lost, they call upon and ask the Lord to help. Jesus said in Luke 6:46 Why do you call me Lord, Lord, and do not do what I tell you? Always remember, if you call upon the Lord, you should also do what He asks you to do. There is no point in crying after not disobeying and ignoring the Lord, and then landing in trouble. If you decide to ignore the Lord, you are responsible for your troubles. God cannot be blamed for your troubles. 

Thánh Matthew đã tuân theo lời gọi của Chúa Giê Su để theo Ngài. Tôi nói đừng lo lắng hay viện cớ gì khi Chúa gọi chúng ta. Hãy chấp nhận lời gọi của Ngài. Đôi khi mọi người thường hay đi ngược lại với lời gọi của Chúa. Ví dụ, Chúa bảo một người hãy đi về bên phải. Nhưng, người đó lại đi về bên trái và bị lạc đường. Sau khi lạc đường, họ kêu cầu và xin Chúa giúp. Chúa nói trong Luke 6:46 Sao các con gọi Ta “Chúa, Chúa” mà không làm theo lời Ta phán?” Luôn nhớ rằng, nếu bạn kêu cầu Chúa thì bạn cần phải làm những gì Ngài bảo bạn làm. Khóc lóc chẳng có ích gì sau khi bạn cãi lời và phớt lờ Lời Ngài rồi sau đó bạn rơi vào rắc rối. Nếu bạn quyết định phớt lờ Lời Chúa, bạn phải tự chịu trách nhiệm cho những rắc rối của bạn. Bạn không thể đổ lỗi cho Chúa vì những rắc rối của bạn được.

One of the most important things that we should be aware of is something that happens to us the moment we decide to follow the Lord. The very first thing that happens to us is our complete dismantling. God will not build you up on top of your existing way of life. When God calls you, you may be a person with various different characters. Some might be arrogant, some gossipers, some others short tempered, some smart as per worldly standards, and some rich. Whatever you are and whoever you are- God will completely dismantle you. It is like demolishing a house in full, and then laying a new foundation to build a new house. When God called Saint Paul, he was riding on a horse. As we read in Acts 9:3-5 Now he was going along and approaching Damascus, suddenly a light from heaven flashed around him. He fell to the ground and heard a voice saying Saul, Saul, why do you persecute me? He asked, who are you, Lord? The reply came, I am Jesus, whom you are persecuting. 

Một trong những điều quan trọng nhất mà chúng ta nhận thức được là điều gì sẽ xảy ra với chúng ta khi chúng ta quyết định theo Chúa. Điều đầu tiên xảy ra với chúng ta đó là sự vụn vỡ hoàn toàn của chúng ta. Chúa sẽ không xây dựng bạn bên trên những điều bạn đang có. Khi Chúa đang gọi bạn, bạn có thể là một người nào đó với những đặc điểm khác nhau. Một số thì háo thắng, người thì hay hóng hớt buôn chuyện, một số thì nóng tính, người khác thì lại hay khôn vặt, người khác thì giàu có. Dù bạn là ai hay bạn là người như thế nào – Chúa sẽ đánh đổ con người cũ đó hoàn toàn. Giống như phá đổ một cái nhà cũ hoàn toàn, và sau đó sau nền móng mới để xây một cái nhà mới. Khi Chúa gọi Thánh Paul, ông đang đi ngựa. Và chúng ta đọc trong Acts 9:3-5 Nhưng khi Sau-lơ đang đi đến gần thành Đa-mách, thình lình có ánh sáng từ trời chiếu lòa xung quanh ông. Ông té xuống đất và nghe có tiếng phán với mình: Hỡi Sau-lơ, hỡi Sau-lơ, sao người bắt bớ Ta? Ông thưa: Lạy Chúa, Chúa là ai? Chúa phán: “Ta chính là Giê Su mà người đang bắt bớ.”

Saint Paul was a rich and highly educated man. He was working for the high officials in the same way as Saint Matthew was working as a tax collector for the Roman government. But, all his worldly power, knowledge, intelligence and richness was taken away from him. Then the Lord started building him up as a new creation. Hence, Saint Paul said in 2 Corinthians 5:17 So if anyone is in Christ, there is a new creation; everything old has passed away, see everything has become new. One thing that we should ask ourselves is have I actually become a new creation? Do I still have my old mindset, habits, beliefs and way of life. If yes, we are not renewed. This is why baptism is important. Baptism is for the renewal of our body, mind and spirit. Romans 6:4 Therefore we have been buried with Him by baptism into death, so that, just as Christ was raised from the dead by the glory of the Father, so we too might walk in newness of life. 

Thánh Paul là một người giàu có và được giáo dục tốt. Ông làm việc cho quan chức tương tự như Thánh Matthew đang làm việc như là một người thu thuế cho chính phủ Roma. Nhưng tất cả những sức mạnh của trần thế, kiến thức, sự khôn ngoan và giàu đó bị lấy đi khỏi ông. Sau đó Chúa bắt đầu xây dựng lại ông như một con người mới. Do đó Thánh Paul nói trong 2 Corinthians 5:17 Vậy nếu ai ở trong ở trong Đấng Christ, người ấy là tạo vật, nầy những gì cũ đã qua đi, nầy mọi đều trở nên mới.” Một điều chúng ta nên hỏi bản thân mình rằng, mình đã trở nên mới chưa? Hay tôi vẫn còn những thói quen, những tư tưởng và cách sống cũ. Nếu vẫn còn, chúng ta chưa được đổi mới. Vì vậy, lễ rửa tội là vô cùng quan trọng. Sự rửa tội là để đổi mới thể xác, tâm trí và tâm linh. Romans 6:4 Vậy, bởi báp tiêm, anh em đã được chôn vào trong sự chết của Ngài, để rồi như Đấng Christ nhờ vinh quang của Cha được sống lại từ cõi chết thế nào thì chúng ta cũng được sống trong đời mới thể ấy.

Note the word used. It says ‘new’. New means brand new. We know that there are refurbished mobile phones, computers and laptops. But, we prefer brand new because we have the assurance that it is guaranteed. In the same way, in order to follow Jesus, you should be willing to submit to the Lord so that He may demolish you completely and start building from the scratch. This is what Jesus said in Matthew 18:3 Truly I tell you, unless you change and become like children, you will never enter the kingdom of heaven. Also Saint Peter said in 1 Peter 2:2 Like newborn infants, long for pure, spiritual milk, so that by it you may grow into salvation. Becoming like children means, we need to start our life again from the birth. 

Hãy chú ý lời được ghi ra. Nó ghi là “mới”. Mới nghĩa là mới hoàn toàn. Chúng ta biết rằng có những chiếc Iphone, điện thoại hay máy tính được thay linh kiện. Nhưng chúng ta vẫn thích đồ mới hơn bởi vì chúng ta có thể yên tâm rằng nó được bảo hành. Tương tự, để theo Chúa Giê Su, bạn cần phải sẵn sàng phó thác cho Chúa để Chúa có thể phá hủy con người cũ của bạn hoàn toàn và bắt đầu xây dựng lại bạn từ đầu. Đây là điều Chúa nói trong Matthew 18:3 “Thật, ta bảo thật các con, nếu như các con không biến đổi và trở nên như những đứa trẻ, thì các con sẽ không bao giờ vào được vương quốc thiên đàng đâu.” Và Thánh Peter nói trong 1 Peter 2:2 Anh em hãy khao khát sữa thiêng liêng thuần khiết như trẻ sơ sinh, để nhờ đó, anh em được lớn lên trong sự cứu rỗi. Trở nên như đứa trẻ nghĩa là chúng ta cần phải bắt đầu đời sống như một đứa trẻ khi mới sinh.

Standing in front of Jesus, you cannot say, Jesus, I am an adult, I know everything. I am not a kid. Instead, you should say as King David  prays in Psalm 86:11 Teach me your way O Lord, that I may walk in your truth; give me an undivided heart to revere your name. This is a humble prayer that we should keep repeating. This prayer will help us to wipe out our false pride and ego. 

Đứng trước mặt Chúa, bạn không thể nói rằng, Chúa ơi, nhưng con là một người trưởng thành, con biết tất cả mọi thứ, con không phải trẻ con. Nhưng bạn hãy nói như Vua David trong Thi Thiên 86:11 Lạy Đức Giê Hô Va, xin dạy con đường lối của Chúa, Thì con sẽ đi theo chân lý của Ngài. Đây là lời cầu nguyện khiêm hạ mà chúng ta nên lặp đi lặp lại. Lời cầu nguyện này sẽ giúp xóa đi những sự tự cao và bản ngã của chúng ta.

Saint Matthew submitted himself to the Lord. The moment he started following Jesus, he lost his job. His source of income stopped. Living with Jesus, he often had to starve as there were times when they did not have any food. Previously, he used to travel by horse cart only, in the same way as we use cars today. But after starting to follow Jesus, he had to walk miles and miles with Jesus. He was completely dismantled by Jesus. Then, the Lord started teaching him and building him up. He was so convinced about his new life that Saint Matthew never thought of going back to his old way of life. 

Thánh Matthew phó thác bản thân mình cho Chúa. Khi ông bắt đầu theo Chúa Giê Su, ông bị mất việc. Nguồn thu nhập bị cắt đứt. Sống với Chúa, ông có khi còn bị đói khát bởi có những lúc họ không còn chút đồ ăn nào. Trước đó, ông từng đi bằng xe ngựa, giống như chúng ta đi oto ngày nay vậy. Nhưng sau khi bắt đầu theo Chúa, ông phải đi bộ hằng trăm dặm cùng với Chúa. Ông đã hoàn toàn bị phá đổ con người cũ của mình. Sau đó, Chúa bắt đầu dạy dỗ và xây dựng ông lên. Ông đã bị thuyết phục về đời sống mới đến mức Thánh Matthew không bao giờ nghĩ về việc quay trở lại cuộc đời cũ nữa.

Saint Matthew wrote this gospel for us. He made every effort to make the people believe that Jesus Christ is the Messiah. The eternal kingship of Jesus was his favourite topic. He sold all his property and gave away the money to the poor. He preached to the Jews in Jerusalem and Palestine. Later he travelled to Syria, Media, Persia, Parthia preaching the gospel, and finally reached Ethiopia. In Ethiopia, one day, when he was celebrating the Holy Qurbana, a soldier came from the back and killed him at the altar. 

Thánh Matthew đã viết Tin Lành cho chúng ta. Ông nỗ lực để khiến mọi người tin rằng Chúa Giê Su là Đấng Messiah. Vương quốc đời đời của Chúa chính là chủ đề yêu thích của ông. Ông đã bán hết tài sản và đem cho người nghèo. Ông đã rao giảng cho người Do Thái ở Jerusalem và Palestine. Sau đó ông đi tới Syria, Media, Persia, Parthia rao giảng Tin Lành và cuối cùng đến Etiopia. Ở Etiopia, một hôm, ông đang làm lễ Holy Qurbana thì một tên lính đến đâm ông từ sau lưng và giết ông ở trên đền thờ.

From a rich but lonely man, God first made him poor as per worldly standards, and later gifted him with the richness of eternal glory. Jesus said in Matthew 5: 3 Blessed are the poor in spirit, for theirs is the kingdom of heaven. Saint Matthew along with the other disciples are seated around the throne of God in heaven. 

Từ một người giàu có nhưng cô độc, Chúa khiến ông trở nên nghèo khó theo tiêu chuẩn của thế gian nhưng sau đó ban cho ông sự giàu có của vinh quang đời đời. Chúa Giê Su nói trong Matthew 5:3 Phước những người nghèo khó tâm linh, vì vương quốc Thiên Đàng là của họ. Thánh Matthew cùng các môn đồ khác bây giờ đang ngồi trên ngai quanh Ngai của Chúa ở trên thiên đàng.

May the saint’s prayers be with us always. 

Cầu xin lời cầu nguyện của các Thánh sẽ ở cùng chúng ta luôn luôn.

God bless you. Amen.

 

Sunday, July 4, 2021

Matthew 10:1-4 Thánh Thomas

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying about the disciples of Jesus. Let us read Matthew 10:1-4. 

Chúng ta đang học về các môn đồ của Chúa Giê Su. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1-4.

We have so far covered six disciples who are Saint Peter and his brother Saint Andrew, Saint James and his brother Saint John, Saint Philip, and Saint Bartholomew who is also known as Saint Nathaniel.  

Từ trước tới nay, chúng ta đã học về sáu môn đồ của Chúa đó là Thánh Peter và Thánh Andrew, Thánh James và em là Thánh John, Thánh Philip và Thánh Bartholomew, người cũng được gọi là Thánh Nathaniel.

Tonight, we are going to study about Saint Thomas. He was also known by the name Didymus. The meaning of Didymus means twin. We do not have many details about Saint Thomas in the Bible. But, tradition says that he was into catering business and was hired to cater the wedding at Cana. This was where Jesus turned water into wine. He was attracted to the Lord at that miracle and later decided to follow Him. 

Tối nay chúng ta sẽ học về Thánh Thomas. Ông cũng còn được biết đến với cái tên là Didymus. Ý nghĩa của Didymis nghĩa là song sinh. Chúng ta không có nhiều chi tiết về Thánh Thomas trong Kinh Thánh. Nhưng người xưa kể rằng ông làm trong lĩnh vực tổ chức tiệc và được thuê để tổ chức tiệc cưới ở Cana. Đây là nơi Chúa Giê Su đã biến nước thành rượu. Ông đã bị thu hút đến Chúa bởi phép lạ này và sau đó đã quyết định sẽ theo Ngài.

We have three key references about Saint Thomas in the Bible. All the three references are in the gospel according to Saint John. An important thing that we see in the disciples is each of them were unique. Likewise, Saint Thomas was also a unique person. Let us look at the three references to learn about the uniqueness of the saint. 

Có ba điểm chính được Kinh Thánh đề cập đến trong Kinh Thánh. Cả ba lần này đều ở trong Tin Lành theo Thánh John. Một điều quan trọng chúng ta nhìn thấy ở các môn đồ là mỗi người trong số họ đều độc đáo. Tương tự, Thánh Thomas cũng là một người độc đáo. Chúng ta hãy cùng nhìn vào ba điều được đề cập đến về ông để hiểu về sự độc đáo của Thánh.

The first reference is in John 11: 14-16 Then Jesus told them plainly, Lazarus is dead. For your sake I am glad that I was not there, so that you may believe. But let us go to him. Thomas, who was called Didymus (Twin) said to his fellow disciples, Let us also go, that we may die with Him. This chapter talks about Jesus raising Lazarus from the dead. Jesus was across the river Jordan when the message arrived that His friend Lazarus is sick. Jesus did not go immediately to visit Lazarus but stayed back for two more days. Jesus only decided to go after the death of Lazarus. The disciples said to Jesus, the Jews were just trying to stone you, and do you want to go to the same place again? 

Điều đầu tiên được đề cập đến trong John 11:14-16 “Vì thế Đức Chúa Giê Su nói rõ ràng với họ, Laxaro đã chết rồi. Nhưng vì các con, Ta mừng bởi không có ta tại đó để các con tin. Bây giờ chúng ta hãy đi đến với anh ấy. Do đó, Thô Ma còn gọi là Đi Đim nói với các môn đồ khác rằng: Chúng ta hãy đi đến đó cùng chết với Ngài. Chương này nói về việc Chúa Giê Su gọi Lazaro sống lại từ cõi chết. Chúa Giê Su đã băng qua sông Jordan khi mà tin đến rằng người bạn Lazaro bị ốm. Chúa Giê Su đã không đi ngay để thăm Lazaro mà ở lại thêm hai ngày. Chúa Giê Su chỉ quyết định đi sau cái chết của Lazaro. Các môn đồ nói với Chúa Giê Su, những người Do Thái đang muốn tìm cách giết Ngài, và Ngài lại muốn quay lại chỗ đó chăng?

The disciples were all afraid of going back to Judea because it was not safe. But, Jesus decided to go. This is when Saint Thomas said to the other disciples, Let us also go, that we may die with Him. Saint Thomas was the first of all the disciples who expressed his readiness to die with Jesus. That was a bold statement. Reading through the situation given in the Bible, we can imagine that the disciples were all standing confused and afraid when Jesus decided to go to Judea. They must have been in a state of dilemma. They were scared to go, and they did not want to let their Master go alone either. This is when Saint Thomas made that bold statement. 

Các môn đồ đều sợ quay trở lại miền Judea bởi vì nó không an toàn. Nhưng Chúa Giê Su vẫn quyết định đi. Đó là khi Thánh Thomas nói với các môn đồ khác, chúng ta cũng hãy đi đến đó cùng chết với Ngài. Thánh Thomas là người đầu tiên trong các môn đồ thể hiện sự sẵn sàng chết với Chúa. Đó là một quả quyết. Đọc qua tình huống được đưa ra trong Kinh Thánh, chúng ta có thể tưởng tượng rằng các môn đồ đều bối rối và sợ hãi khi Chúa quyết định đi đến Judea. Họ hẳn đã ở trong sự tiến thoái lưỡng nan. Họ sợ phải đi nhưng họ cũng không muốn để Chúa của họ đi một mình. Đó là khi Thánh Thomas đưa ra lời quả quyết đó.

This is the first thing that we learn from Saint Thomas. In our personal relationship with Jesus, we come across situations where we are unable to understand what God is doing. We ask for something, we pray for something, but God does something different to what we ask. For example, we pray in faith to heal someone who is dying of cancer. But, the person dies and we become upset thinking that the Lord did not answer our prayers. And our relationship with God might get negatively affected. This is where we need a good friend or colleague like Saint Thomas who would say to us, hey don’t worry, let us be with Jesus, no matter what happens. 

Đây là điều đầu tiên mà chúng ta học từ Thánh Thomas. Trong mối quan hệ giữa chúng ta và Chúa Giê Su, chúng ta gặp phải các tình huống khi mà chúng ta không hiểu được Chúa đang làm gì. Chúng ta cầu xin một điều, chúng ta cầu nguyện cho một điều nhưng Chúa lại ban cho chúng ta một điều khác với những điều chúng ta cầu xin. Ví dụ, chúng ta cầu trong đức tin cho một người đang chết vì ung thư. Nhưng, người đó vẫn chết và chúng ta buồn rầu nghĩ rằng Chúa không đáp lời cầu nguyện của chúng ta. Và mối quan hệ của chúng ta với Chúa có thể bị ảnh hưởng nặng nề. Đó là lúc chúng ta cần một người bạn tốt một người đồng nghiệp như Thánh Thomas người nói với chúng ta rằng, này anh đừng lo lắng, chúng ta hãy đi cùng với Ngài, cho dù có chuyện gì xảy ra đi chăng nữa.

Remember, in the last class, we studied about Saint Nathaniel. For a long time, he was sitting under the fig tree searching for Jesus. He must have prayed several times, O’ Messiah, why don’t you come? Can’t you see the people sick and suffering? That’s when his friend, Saint Philip arrived with the good news that the Messiah had come. Also remember what Jesus told Saint Nathaniel- I have seen you under the fig tree. In the same way, God always sees us and hears us. But, He always has the best decision. We may struggle to understand immediately, in the same way as the disciples did not understand Jesus’ decision to go to a troubled region again. Jeremiah 29:11 For surely I know the plans I have for you, says the Lord, plans for your welfare and not for harm, to give you a future with hope. 

Hãy nhớ, trong buổi trước, chúng ta đã học về Thánh Nathaniel. Trong một thời gian dài, ông ngồi dưới gốc cây vả tìm kiếm Chúa Giê Su. Ông hẳn đã cầu nguyện vài lần, Đấng Messiah, sao Ngài không tới? Ngài không thấy mọi người ốm đau và khổ sở sao? Đó là khi người bạn của ông là Thánh Philip đã đến với Tin Lành rằng đấng Messiah đã tới rồi. Cũng hãy nhớ rằng Chúa Giê Su đã nói với Thánh Nathaniel – trước khi Philip đến gọi con, ta đã nhìn thấy con ở dưới gốc cây vả. Tương tự, Chúa cũng nhìn thấy chúng ta và nghe chúng ta. Nhưng Ngài luôn có một quyết định tốt nhất. Chúng ta có thể gặp khó khăn để hiểu ngay lập tức, tương tự như các môn đồ đã không hiểu vì sao Chúa lại quyết định đi đến vùng đất có nhiều rắc rối một lần nữa. Jeremiah 29:11 Đức Giê Hô Va phán: Vì chính Ta biết chương trình mà Ta hoạch định cho các con; đó là chương trình bình an chứ không phải tai họa, để ban cho các con một tương lai và một hy vọng.”

We learned that Saint Peter was a fisherman. Jesus said leave your job and follow me. I will make you fishers of men. Saint Peter could say, Jesus, I like fishing, and I want a good job in fishing. I do not want to catch men. I am not good at that. Saint Peter did not say any such things. He just followed Jesus. It was the same with other disciples too. Tradition says Saint Thomas was good at catering jobs. But he also left his profession and joined the Lord. In the same way, sometimes we may not understand what God is doing. But, if we just follow His ways, we will later understand how great God’s plan was. 

Chúng ta học được rằng, Thánh Peter là một ngư dân. Chúa Giê Su đã nói là hãy bỏ công việc của con và theo ta. Ta sẽ làm con trở thành tay đánh lưới Người. Thánh Peter hẳn đã nói rằng, Chúa Giê Su, con thích đánh cá, và con muốn có một công việc câu cá tốt. Con không muốn đánh bắt Người. Con không giỏi việc đó. Thánh Peter đã không nói bất kỳ lời nào như thế. Ông chỉ theo Chúa mà thôi. Điều này cũng đúng với các môn đồ khác nữa. Người xưa kể lại rằng Thánh Thomas giỏi nghề phục vụ ăn uống. Nhưng ông cũng rời công việc mình và tham gia cùng Chúa. Tương tự, đôi khi chúng ta không hiểu điều Chúa đang làm. Nhưng nếu chúng ta cứ đi theo Ngài, chúng ta sau đó sẽ hiểu ra kế hoạch to lớn của Chúa như thế nào.

Now, we may not have a friend like Saint Thomas to make us understand that let us follow the Lord, and even if we have to suffer, let us be with Him. On the contrary, our friends will make fun of us saying, hey what happened, you follow Jesus, but your prayers are not answered? It will be good if we have a friend like Saint Thomas. But, what we can do is to be like Saint Thomas for others who are in dilemmas or difficulties. 1 Thessalonians 5:11 Therefore, encourage one another and build up each other. As this verse tells us, we should guide people and help people who are in distress or disappointed with their life. Our encouragement may help to initiate big changes in their lives. Saint Thomas said, let us go with Jesus. Everyone followed and they witnessed the greatest miracle in their lives. It was raising Lazarus from death. 

Bây giờ, chúng ta có thể không có một người bạn như Thánh Thomas để khiến chúng ta hiểu rằng, chúng ta hãy cứ theo Chúa, ngay cả nếu chúng ta có phải chịu khổ cực, chúng ta hãy cùng cứ đi theo Ngài. Trái lại, các bạn của chúng ta thường cười nhạo chúng ta, này cậu, chuyện gì xảy ra vậy, cậu theo Chúa Giê Su nhưng lời cầu nguyện của cậu không được nhận à? Sẽ tốt biết bao nếu chúng ta có một người bạn như Thánh Thomas. Nhưng những gì chúng ta có thể làm là hãy trở thành Thánh Thomas đối với người khác, những người đang ở trong tình thế tiến thoái lưỡng nan và khó khăn. 1 Thessalonians 5:11 Vậy anh em hãy khích lệ nhau và xây dựng nhau. Câu này nói với chúng ta rằng, chúng ta nên dẫn dắt người khác và giúp mọi người đang trong sự khổ cực hoặc đang thất vọng với cuộc đời họ. Sự khích lệ của chúng ta có thể giúp khởi đầu sự thay đổi trong cuộc đời họ. Thánh Thomas nói rằng, chúng ta hãy cùng đi với Ngài. Mọi người đều theo và họ đã nhìn thấy phép lạ lớn nhất trong cuộc đời họ. Đó là Chúa gọi Lazaro sống lại từ cõi chết.

The second verse about Saint Thomas is John 14:5 Lord, we do not know where you are going, how can we know the way? Jesus started telling the disciples about His departure from this world. The disciples did not understand but still did not ask the Lord. Only Saint Thomas asked a question. When you attend a class, the teacher teaches many things. But, do you ask questions when you do not understand? In our class, no one has ever asked me a question. In Matthew 7:7 Jesus said Ask, and it will be given to you. 

Câu thứ hai về Thánh Thomas là ở John 14:5 “Thưa Chúa, chúng con không biết Chúa đi đâu, làm sao biết đường được? Chúa bắt đầu nói với các môn đồ về việc Ngài sẽ rời xa thế gian. Các môn đồ đã không hiểu nhưng họ cũng không hỏi Chúa. Chỉ Thánh Thomas hỏi câu hỏi. Khi bạn tham gia lớp học, các giáo viên dạy bạn nhiều điều. Nhưng bạn có hỏi các câu hỏi khi bạn không hiểu không? Ở lớp chúng ta, không ai hỏi tôi một câu nào cả. Trong Matthew 7:7 chúng ta đọc rằng Chúa Giê Su nói hãy hỏi thì sẽ được.

You should develop the habit of asking. It is not only asking questions to your teacher. In your prayers, you should ask questions to the Lord. When you read the Bible and you do not understand something, ask the Lord to help you understand. We ask questions through our meditation. Let us read 1 Corinthians 2:10-15. Here, we see a clear difference between understanding the Word of God using our worldly mind and with the help of the Holy Spirit. When Jesus said I am going, the disciples just understood as just going to a nearby place. But, Jesus was talking about His death and resurrection. No disciple understood that, but still they did not ask. 

Các bạn nên hình thành thói quen hỏi. Không chỉ là hỏi câu hỏi với các giáo viên. Trong khi cầu nguyện, bạn cũng nên hỏi các câu hỏi đến với Chúa. Chúng ta hãy đọc 1 Corinthians 2:10-15. Ở đây, chúng ta thấy rõ sự khác biệt giữa việc hiểu Lời của Chúa sử dụng trí óc thông thường và việc hiểu thông qua sự dẫn dắt của Thánh Linh. Khi Chúa Giê Sunois ta sẽ đi, các môn đồ chỉ hiểu là đi tới một nơi gần đó. Nhưng Chúa thực ra đang nói về sự chết và sự phục sinh của Ngài. Không một sứ đồ nào hiểu điều đó nhưng họ cũng không hỏi.

It was then that Saint Thomas honestly admitted, Lord, we neither know where you are going, nor know the way. James 1:5 If any of you is lacking in wisdom, ask God, who gives to all generously and ungrudgingly, and it will be given you. So, never be shy or afraid of asking questions, whether it is to your teacher, or to the Lord. Saint Thomas did not shy away from asking a question to the Lord. 

Chỉ sau đó Thánh Thomas mới thành thực mà thừa nhận rằng, Chúa ơi, chúng con không hiểu Ngài đi đâu và cũng không biết đường. James 1:5 Nếu người nào trong anh em thiếu sự khôn ngoan, hãy cầu xin Đức Chúa Trời thì Ngài sẽ ban cho, vì Đức Chúa Trời là Đấng ban cho mọi người cách rộng rãi, không lời phiền trách. Vì vậy đừng ngần ngại hay xấu hổ khi hỏi, cho dù là với giáo viên hay với Chúa. Thánh Thomas đã không xấu hổ ngần ngại mà hỏi câu hỏi đến với Chúa.

It was the question of Saint Thomas that led to one of the greatest revelations by Jesus as we read in John 14:6 I am the way, and the truth, and the life. Until then, people were scared of God. They never dared to come anywhere near to God. Even in the temple of God, people stood at a safe distance, otherwise they would die. What was before Christ and what has changed after Christ is explained in Hebrew 12: 18-24. The clear distinction between the time before and after Chrsit is given here. Through Jesus, we have been revealed how to access God in full confidence. We came to know that through Jesus we can fearlessly access God only after Saint Thomas asked a question. This is the greatest contribution of Saint Thomas to us. So the lesson is, when we ask, we will get great revelations from the Lord. Therefore, never hesitate to ask questions.

Và chính câu hỏi này của Thánh Thomas đã dẫn đến một trong những chia sẻ lớn nhất từ Chúa như chúng ta đọc trong John 14:6 Đức Chúa Giê Su đáp: Ta là đường đi, chân lý và sự sống. Chẳng bởi Ta thì không ai được đến với Cha. Cho đến lúc đó, mọi người vẫn vô cùng sợ Chúa. Họ không dám lại gần Chúa. Ngay cả trong đền thờ, người ta đứng ở đằng xa, nếu không họ sẽ chết. Đó là điều xảy ra trước Chúa Giê Su và điều đã thay đổi sau khi Ngài đến, điều này được đưa ra trong Hebrew 12:18-24. Sự phân biệt rõ ràng giữa lúc trước và sau khi Chúa đến được đưa ra ở đây. Qua Chúa Giê Su, chúng ta được tiết lộ cách để chúng ta có thể đến gần Chúa với trọn vẹn sự tự tin. Chúng ta biết rằng, qua Chúa Giê Su, cúng ta có thể tự tin mà đến gần Đức Chúa Trời sau khi Thánh Thomas hỏi câu hỏi đó. Đó là đóng góp lớn nhất của Thánh Thomas cho chungst a. Vì vậy, bài học ở đây là khi chúng ta hỏi chúng ta sẽ nhận được sự tiết lộ lớn từ Chúa. Do đó, đừng bao giờ ngại hỏi.

The third verse about Saint Thomas is given in John 20:25 Unless I see the mark of the nails in His hands, and put my finger in the mark of the nails and my hand in His side, I will not believe. After resurrection, Jesus appeared to the other disciples. But, Saint Thomas was not there when Jesus appeared. Jesus appeared again when Saint Thomas was there as we read in John 20: 26-29. Based on this, many Western churches started calling the disciple as ‘doubting Thomas’. The Orthdox church never calls him ‘doubting Thomas’. In fact, Saint Thomas was fulfilling what God wanted the world to know. 

Câu thứ ba nói về Thánh Thomas được đưa ra trong John 20:25 Các môn đồ khác nói, chúng tôi đã thấy Chúa. Nhưng Thô Ma đáp: Nếu tôi không thấy dấu đinh trong bàn tay Ngài, nếu tôi không đặt ngón tay tôi vào chỗ dấu đinh và không đặt bàn tay tôi vào sườn Ngài thì tôi sẽ không tin. Sau khi Chúa phục sinh, Chúa hiện ra giữa các môn đồ khác. Nhưng Thánh Thomas không có ở đó khi Chúa Giê Su xuất hiện. Chúa Giê Su đã hiện ra một lần nữa với các môn đồ và cả Thánh Thomas như chúng ta đọc trong John 20:26-29. Dựa trên điều này, nhiều nhà thờ phương Tây bắt đầu gọi môn đồ này là “Thomas đa nghi”, Nhưng nhà thờ Chính thống giáo không bao giờ gọi ông như vậy. Thực tế, Thánh Thomas đã thực hiện điều Chúa muốn thế giới biết đến.

Let me explain. Imagine that you tell someone, hey I have seen Jesus. The other person will say, rubbish, it must have been a trance or just a dream. Then how will you make that person believe? The only way you can make the person believe you is by saying, no it was not a dream, I saw Him in real. Not only did I see, but I touched Him. Then if you explain how you felt at touching Jesus, the other person can believe. 

Tưởng tượng nếu ai đó bảo bạn rằng, này tôi đã nhìn thấy Chúa. Người kia sẽ sẽ nói, vớ vẩn, hẳn chỉ là ảo giác hoặc là mơ thôi. Làm thế nào bạn có thể khiến người đó tin được? Cách duy nhất bạn có thể làm người kia tin bạn là bằng cách nói rằng, không đó không phải là mơ, tôi đã nhìn thấy Ngài bằng xương bằng thịt. Không chỉ nhìn, tôi còn sờ thấy Ngài nữa. Nếu bạn giải thích bạn cảm thấy như thế nào khi chạm vào Chúa, người kia hẳn sẽ tin.

Saint Thomas’ statement was for the future generation of people like us. We have not seen Jesus, but we believe the witnesses of the disciples of Jesus who walked with Him. Hence Saint John started his letter as we read in 1 John 1:1 We declare to you what was from the beginning, what we have heard, what we have seen with our eyes, what we have looked at and touched with our hands concerning the word of life. Here we see Saint John saying, it is not only what we heard with our ears, and what we saw with our eyes. It is also made sure by touching with the hands to be absolutely sure. 

Lời nhận định của Thánh Thomas là để dành cho các thế hệ mai sau của loài người như chúng ta. Chúng ta chưa nhìn thấy Chúa, nhưng chúng ta tin vào chứng nhân của các môn đồ của Chúa Giê Su người đã cùng đi với Ngài. Do đó, Thánh John đã bắt đầu lá thư của mình như chúng ta đọc trong 1 John 1:1 Nói về Lời sự sống, là điều đã có từ ban đầu, điều chúng tôi đã nghe, điều mắt chúng tôi đã thấy, điều chúng tôi đã chiêm ngưỡng và tay chúng tôi đã chạm đến. Ở đây Thánh John nói rằng, chúng tôi không chỉ nghe thấy bằng tai, nhìn thấy bằng mắt. Chúng tôi còn chạm đến bằng tay để điều đó trở nên hoàn toàn chính xác.

If Saint Thomas did not say that, after Jesus’ ascension, people would have started saying that these guys are just bluffing. It is not sure that Jesus has risen from the dead. But, after this, Jesus appeared and asked Saint Thomas to touch Him and make sure it is the Lord. Saint Thomas did that and responded with the statement “My Lord and my God”. But, we may still have a doubt, why did Jesus say “blessed are those who have not seen and yet have come to believe”. In fact it was a prophecy about the future generation including us. 

Nếu Thánh Thomas không nói rằng, sau khi Chúa về trời, mọi người hẳn sẽ nói rằng, mấy người này chỉ nói xạo. Không có gì chắc chắn rằng Chúa Giê Su đã sống lại từ cõi chết. Nhưng sau điều này, Chúa Giê Su đã hiện ra và hỏi Thomas và bảo ông chạm vào Ngài để chắc chắn đây là Chúa. Thánh Thomas đã làm và đáp lại rằng: “Lạy Chúa, Ngài là Đức Chúa Trời của con!” Nhưng chúng ta có thể vẫn còn nghi ngại, tại sao Chúa nói “phước cho những ai không thấy mà tin. Thực tế đó chính là lời tiên tri về tương lai của thế hệ sau trong đó có chúng ta.

After the ascension of Jesus, the disciples travelled around the world preaching and sharing Jesus. Millions of people around the world have come to know about the true God. None of them have ever seen Jesus, but including us, everyone believes and follows the Lord. This is what Jesus prophesied. It means we are all blessed because we believe without seeing. Hence Saint Peter said in 1 Peter 1:8 Although you have not seen Him, you live Him; and even though you do not see Him now, you believe in Him and rejoice with an indescribable and glorious joy. This means, even without seeing Jesus with our eyes, we are enjoying the abundance of His blessings every moment of our life. That is the power of our faith which the Holy Spirit gives us. 

Sau khi Chúa về trời, các môn đồ đi khắp thế gian rao giảng và chia sẻ về Chúa. Hàng triệu người trên khắp thế giới đã biết đến vị Chúa thực sự. Không ai trong số họ đã từng nhìn thấy Chúa Giê Su nhưng gồm cả chúng ta, mọi người đều tin và theo Chúa. Đây là điều Chúa đã tiên tri. Chúng ta được ban phước bởi vì chúng ta không thấy mà vẫn tin. Do đó Thánh Peter nói trong 1 Peter 1:8 Dù chưa thấy Ngài nhưng anh em vẫn yêu mến Ngài, và hân hoan trong niềm vui rạng ngời, khôn tả. Bởi vì an hem nhận được thành quả của đức tin đó là sự cứu rỗi linh hồn mình. Điều này nghĩa là, ngay cả khi không nhìn thấy Chúa bằng mắt thật, chúng ta vẫn nhận được ân điển dư dật của Ngài trong mọi giờ phút của cuộc sống mình. Đó là sức mạnh của đức tin mà Đức Thánh Linh ban cho chúng ta.

Again, we are not believing in any myths or stories. Saint Peter said in 2 Peter 1:16 For we did not follow cleverly devised myths when we made known to you the power and coming of our Lord Jesus Christ, but we have been eyewitnesses of His majesty. When Saint Thomas touched the wounds of Jesus, the power of resurrection was felt through his hands. It was those wounds that defeated Satan. It was those wounds that healed the sick. It was those wounds that saved us from the destruction by sin. When we partaken in each Holy Qurbana, we experience those wounds and we receive deliverance from our sins, sickness and sufferings. Through Saint Thomas, we have full confidence to believe in the resurrection of Jesus.

Nhưng, chúng ta không tin bất kỳ truyện thần kỳ nào. Thánh Peter nói trong 2 Peter 1:16 Khi trình bày cho anh em biết quyền năng và sự quang lâm của Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê Su Christ, chúng tôi không dựa vào những huyền thoại khéo bịa đặt nhưng chúng tôi tận mắt chứng kiến vẻ uy nghi của Ngài. Khi Thánh Thomas chạm đến những vết thương của Chúa Giê Su, sức mạnh của sự phục sinh đã được cảm nhận qua bàn tay ông. Đó là những vết thương đánh bại quỷ Satan. Đó là những vết thương chữa lành sự đau yếu. Chính là những vết thương cứu chúng ta khỏi sự phá hủy của tội lỗi. Khi chúng ta tham gia vào lễ Holy Qurbana ở nhà thờ, chúng ta trải nghiệm những vết thương này và chúng ta nhận được sự giải cứu cho tội lỗi chúng ta, cho sự đau ốm và khổ đau của chúng ta. Qua Thánh Thomas, chúng ta có được đức tin trọn vẹn vào sự phục sinh của Chúa Giê Su. 

Saint Thomas preached in Persia and went to India to preach the Lord. He established seven churches in India which are still there in my home State. I had been to a few of those churches. He was martyred by being speared from the back, in India. He was buried in India. Later, his body was taken to Edessa in Persia. Later, his remains were brought back to India. 

Thánh Thomas đã rao giảng ở Ba Tư và đi tới Ấn độ để rao giảng về Chúa. Ông đã lập nên bảy nhà thờ ở Ấn độ và giờ vẫn còn ở đó ở quê nhà của tôi. Tôi đã đến thăm một vài trong số các nhà thờ này. Thánh Thomas đã tử vì đạo bằng cách bị đâm lao từ sau lưng ở Ấn độ. Ông được chôn ở Ấn độ. Sau đó, thi thể ông được đưa đến Edessa ở Ba Tư. Sau đó xác ông lại được đưa trở lại Ấn độ.

When Mother Mary died, Saint Thomas was in India. He immediately travelled to Jerusalem by sky with the help of the Holy Spirit. On the way to Jerusalem, Saint Thomas saw the chariot of Mother Mary being carried by the angels. Mother Mary gave her belt to Saint Thomas which is still preserved at the Orthodox Church in India. 

Khi Mẹ Mary qua đời, Thánh Thomas đang ở Ấn độ. Ông mau chóng quay trở về Jerusalem ông đã bay trên trời với sự giúp đỡ của Thánh Linh. Trên đường về Giê Ru Sa Lem, Thánh Thomas nhìn thấy xe ngựa chở Mẹ Mary được các thiên sứ chở đi. Mẹ Mary đã đưa thắt lưng cho Thánh Thomas cái mà bây giờ vẫn được giữ ở nhà thờ Chính Thống Giáo ở Ấn độ.

We remember the martyrdom of Saint Thomas on July 3 of every year. 

Chúng ta tưởng nhớ ngày mất của Thánh Thomas vào ngày 3/7 hàng năm.

May the prayers of Saint Thomas be an intercession to us. 

Cầu xin Thánh Thomas cầu thay cho tất cả chúng ta.

God bless you. Amen.