Tuesday, November 10, 2020

Matthew 8:1-4 Chúa chữa cho người phong hủi (P4)

 

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong đấng Christ thân mến,

We are studying the healing of a leprosy patient by our Lord Jesus Christ. Let us read Matthew 8:1-4 again.

Chúng ta đang học Chúa Giê Su chữa lành của người phong hủi. Chúng ta hãy đọc Matthew 8:1-4 một lần nữa.

We started studying about the ritual of cleansing of the leprosy patient in the temple by the priests. Let us read Leviticus 14: 1-20 once again. As we see, there are a few things used for the ritualistic cleansing process. In the last class we studied about the spiritual significance of cedar wood and crimson yarn. Cedar wood reminds us how beautiful and fragrant human beings were created. Crimson yarn signifies the dark red sins which needs to be cleansed. When our dark red sins are cleansed, we will become again like cedar wood- tall, strong, beautiful and fragrant. 

Chúng ta đã bắt đầu học về nghi lễ thanh tẩy của bệnh nhân phong hủi ở đền thờ bởi các thầy tế lễ. Chúng ta hãy đọc Leviticus 14:1-20 một lần nữa. Như chúng ta thấy ở đây có một vài điều được sử dụng cho quá trình thanh tẩy. Trong buổi trước, chúng ta đã học về ý nghĩa tâm linh của cây gỗ bá hương và sợi chỉ đỏ. Gỗ bá hương nhắc chúng ta rằng con người đã được tạo ra đẹp đẽ và tỏa hương thơm như thế nào. Sợi chỉ đỏ biểu trưng cho những tội lỗi màu đỏ thẫm cần được thanh tẩy. Khi những tội lỗi đỏ thẫm được thanh tẩy, chúng ta sẽ một lần nữa trở nên giống như cây bá hương cao, mạnh mẽ, đẹp đẽ và đầy hương thơm.

3. The third thing that we see is hyssop. Hyssop was a plant that was used for cleansing. In those days, hyssop made anything completely clean. Psalm 51:7 Purge me with hyssop, and I shall be clean; wash me and I shall be whiter than snow. As we see in Leviticus 14: 7 we read that the hyssop was used to sprinkle the blood on the leprosy patient who was delivered. The very first time hyssop is mentioned in the Bible is in Exodus 12:22-23 Take a bunch of hyssop, dip it in the blood that is in the basin, and touch the lintel and the two doorposts with the blood in the basin. None of you shall go outside the door of your house until morning. For the Lord will pass through to strike down the Egyptians; when He sees the blood on the lintel and on the two doorsteps, the Lord will pass over that door and will not allow the destroyer to enter your house to strike you down. Here we see that hyssop was used to transfer the blood to the doorposts. In the same way, the blood was transferred to the leprosy patient by sprinkling on.  

3. Điều thứ ba chúng ta thấy ở đây là chùm bài hương. Bài hương là một loại cây được sử dụng để thanh tẩy. Ngày xưa, bài hương được làm để thanh tẩy mọi thứ dơ bẩn. Chúng ta đọc trong Thi Thiên 51:7 rằng “Xin hãy lấy chùm bài hương tẩy sạch tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch, cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên trắng hơn tuyết. Như chúng ta thấy ở trong Leviticus 14:7, chúng ta đọc được rằng bài hương được sử dụng để rảy máu lên người bị bệnh phong hủi được giải cứu. Lần đầu tiên bài hương được đề cập đến trong Kinh thánh là trong Exodus 12:22-23 Rồi lấy một bó bài hương nhúng vào máu trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai thanh dọc cửa ra vào. Từ đó cho đến sáng, không ai trong anh em được đi ra khỏi cửa nhà mình. Đức Giê Hô Va sẽ đi qua để hành hại người Ai Cập; khi thấy máu nơi khung cửa ra vào, Ngài sẽ đi lướt qua và không cho thiên sứ hủy diệt vào nhà anh em để hành hại. Ở đây chúng ta thấy rằng, bài hương được sử dụng để bôi máu lên cửa ra vào. Tương tự, máu cũng được bôi lên người phong hủi bằng cách rảy lên.  

4. The fourth thing that we see is oil. Oil was used to anoint a person. Let us look at a few references: 

4. Điều thứ tư chúng ta thấy ở đây là dầu. Dầu được sử dụng để xức dầu cho một người. Chúng ta hãy nhìn vào một vài dẫn chứng sau:

a. Oil was used to anoint kings. 1 Samuel 10:1 Samuel took a vial of oil and poured it on his head, and kissed him; he said, The Lord has anointed you as ruler over His people Israel….; 

a. Dầu được sử dụng để xức cho nhà vua. 1 Samuel 10:1 Sa mu ên lấy một lọ dầu nhỏ, đổ trên đầu Sau lơ, hôn người và nói: Chẳng phải Đức Giê Hô Va đã xức dầu cho anh để làm người lãnh đạo cơ nghiệp của Ngài sao?

b. Oil was used to anoint the priests of God. Leviticus 8:30 Then Moses took some of the anointing oil and some of the blood that was on the altar and sprinkled them on Aron and his vestments…; 

b. Dầu được sử dụng để xức cho các thầy tế lễ của Chúa. Leviticus 8:30 Tiếp đến Môi se lấy dầu xức và máu trên bàn thờ rảy trên Aron và trên lễ phục người

c.  Oil was used for healing. James 5:14 Are any among you sick? They should call for the elders of the church and have them pray over them, anointing them with oil in the name of the Lord. Please note, the elders here means the priests.

c. Dầu được dùng để chữa lành. James 5:14 Có ai trong anh em đau ốm chăng? Người ấy hãy mời các trưởng lão Hội Thánh đến; Họ sẽ nhân danh Chúa cầu nguyện và xức dầu cho người bệnh. Chú ý rằng trưởng lão ở đây nghĩa là các Linh Mục, các Cha ở nhà thờ.  

Based on these references, we can infer that the spiritual significance of oil is to transform a person to perfection. If the person is sick, oil is used to cure him. We use two oils in baptism. At the first instance, the baptismal candidate is anointed with plain olive oil. Later, the candidate is anointed with the holy oil. I will talk about this more when we study later about holy sacraments. Besides, baptism oil is used in the church to anoint and pray for a sick person. Oil is used one last time on a person during the burial ceremony in the church. In all these cases, oil is used to protect and spiritually transform the person on whom it is applied. 

Dựa trên những dẫn chứng này, chúng ta có thể suy ra rằng, ý nghĩa tâm linh của dầu là để biến đổi một người tới chỗ toàn hảo. Nếu một người bị bệnh, dầu được sử dụng để chữa trị. Chúng ta cũng sử dụng hai loại dầu trong lễ rửa tội. Ở lần đầu tiên, người được rửa tội sẽ được xức bằng dầu ô liu. Sau đó, người đó được xức bằng dầu thánh. Tôi sẽ nói đến nhiều hơn khi chúng ta học về bí tích thánh thể. Ngoài ra, dầu rửa tội còn được sử dụng trong nhà thờ để xức dầu và cầu nguyện cho người bị bệnh. Dầu được sử dụng lần cuối cùng trên một người trong lễ chôn cất trong nhà thờ. Trong tất cả các trường hợp này, dầu được sử dụng để bảo vệ và chuyển hóa về tâm linh cho người được bôi lên.

5. The fifth thing that we see is water. Water represents baptism. In the New Testament we read about two types of baptism. The first baptism was administered by John the Baptist. As we studied in Matthew 3:6 the people were baptised by John the Baptist in river Jordan when they confessed their sins (also see Mark 1:4). The second baptism is the baptism in Jesus Christ. It is mentioned in John 3: 5 where Jesus told Nicodemus very truly I tell you, no one can enter the kingdom of God without being born of water and spirit. In the ritual of the cleansing of the leprosy patient water represents the cleansing of the sins. Water is used as a ritualistic washing of the sins of the leprosy patients. 

5. Thứ thứ năm được nhắc đến ở đây là nước. Nước tượng trưng cho sự rửa tội. Trong Tân Ước, chúng ta được đọc về hai loại rửa tội. Rửa tội đầu tiên là bởi John The Baptist. Như chúng ta đọc trong Matthew 3:6, mọi người được John The Baptist rửa tội bằng nước ở sông Jordan khi họ thú nhận tội lỗi của họ (Hãy đọc trong Mark 1:4). Lần rửa tội thứ hai là sự rửa tội trong Chúa Giê Su, như được nhắc đến trong John 3:5 khi Chúa nói với giáo sư Nicodem là Thật Ta Bảo thật ngươi, Nếu một người không nhờ nước và Thánh Linh mà sinh ra thì không thể vào Vương quốc của Đức Chúa Trời. Trong nghi lễ thanh tẩy người phong hủi, nước tương trưng cho sự thanh tẩy tội lỗi. Nước được sử dụng như sự rửa sạch về nghi lễ cho tội của người phong hủi.

Apart from these things, we see birds and lamb being slaughtered and their blood used in the cleansing process. The birds used for purification were the turtle doves and pigeons as we read in Leviticus 5:7 But if you cannot afford a sheep, you shall bring to the Lord, as your penalty for the sin that you have committed, two turtle doves or two pigeons, one for a sin offering and other for a burnt offering. 

Ngoài ra, chúng ta còn thấy chim và con chiên bị làm thịt và máu của chúng được sử dụng trong quá trình thanh tẩy. Chim được sử dụng thanh tẩy này chính là loài chim bồ câu mà chúng ta đọc được trong Leviticus 5:7 Nếu người ấy không đủ khả năng dâng một con chiên cái hay một con dê cái thì để đền tội mình đã phạm, người ấy phải dâng lên Đức Giê Hô Va một cặp chim gáy hay là một cặp bồ câu con: một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.

6. The dove or pigeon represents the Holy Spirit. We studied this in Matthew 3: 16 And when Jesus had been baptised, just as He came up from the water, suddenly the heavens were open to Him and He saw the Spirit of God descending like a dove and alighting on Him. Two birds are brought to the temple for purification. So one represents the spirit of the person to be cleansed and the other one represents the Spirit of God. 

6. Con chim gáy hay chim bồ câu tượng trưng cho Thánh Linh. Chúng ta học trong Matthew 3:16 rằng Khi được báp tiêm xong, vừa lúc Đức Chúa Giê Su lên khỏi nước thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài. Hai con chim được đêm đến đền thờ để thanh tẩy. Một con đại diện cho tâm linh của người được thanh tẩy và một con tượng trưng cho Thánh Linh của Chúa.

7. The leprosy patient also needs to bring two male lambs and one female lamb. Now if the leprosy patient was poor, then only one male lamb was enough. The most important thing that we see here is the male lamb is offered for the sins of the person as we read in Leviticus 14: 19 The priest shall offer the sin offering, to make atonement for the one to be cleansed from his uncleanness. I said in the beginning that leprosy was due to the sin of the person. This verse is the evidence that leprosy is due to the unclean spirit that enters inside the body when a person commits sins.

7. Người phong hủi cũng cần phải đem đến hai con chiên đực và một con chiên cái. Nếu người phong hủi quá nghèo thì chỉ cần đem một con chiên đực là đủ. Điều chúng ta thấy ở đây là con chiên đực được dâng lên cho tội lỗi của người đó như chúng ta đọc được trong Leviticus 14:19 Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ chuộc tội để chuộc tội cho người ấy được thanh tẩy khỏi mọi ô uế. Sự phong hủi là do tội lỗi của một người. Và đây là bằng chứng cho thấy rằng bệnh phong hủi là do ác linh ô uế đã vào bên trong thân thể khi một người mắc tội lỗi.  

8. One last thing that is also mentioned is the flour mixed with oil that the leprosy patient needed to bring. The dough was used to make bread. The bread represents that God is the resource of our life. It also represents a thanksgiving for God’s blessings on us. When a leprosy patient brings dough, it means that God is being thanked for deliverance from the disease as well as for complete healing. So it is also called a thanksgiving offering. 

8. Điều cuối cùng được nhắc đến ở đây là bột được trộn với dầu mà người phong hủi cần phải mang theo. Bột được sử dụng để làm bánh mì. Bánh mì tượng trưng rằng Chúa Trời là nguồn của sự sống. Nó cũng tượng trưng cho một sự tạ ơn cho những phước lành của Chúa trên chúng ta. Khi người bệnh nhân mang bột nghĩa là Chúa đang được cảm ơn bởi Ngài đã giải cứu người đó khỏi bệnh tật cũng như để có được sự chữa lành hoàn toàn. Vì thế nó cũng được là lễ tạ ơn.

Until now, we were looking at all the items that were used to conduct a cleansing ritual to spiritually cleanse a leprosy patient before officially declaring the person cleans. The priests conducted a cleansing ritual in the Holy Place of the temple after which the leprosy patient was declared clean. But, this process of cleansing has been stopped after the death and resurrection of Jesus Christ. 

Cho đến giờ, chúng ta đang học tất cả những thứ được sử dụng để tiến hành nghi lễ thanh tẩy để thanh tẩy về tâm linh một người phong hủi trước khi công bố chính thức rằng người đó được sạch. Thầy tế lễ tiến hành nghi lễ thanh tẩy trong đền thờ sau đó người bệnh được công bố là sạch sẽ. Nhưng quá trình này đã hoàn toàn chấm dứt sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê Su.

The question arises why it has been stopped. The answer is given in Hebrews 9:12 He (Jesus Christ) entered once for all into the Holy Place, not with the blood of goats and calves, but with His own blood, thus obtaining eternal redemption. Eternal redemption in this verse redemption forever until the end of the world for all the human beings. Unfortunately, even today, people follow the rituals and believe that no redemption from sin is possible without rituals. Thus we see people offering flowers, gifts and doing so many things in temples and pagodas. They think that after committing sins they just need to perform some rituals and can be set free. That is wrong because God has permanently stopped accepting rituals. It is clearly stated in Hebrews 10:26-27 For if we wilfully persist in sin after having received the knowledge of truth, there no longer remains a sacrifice for sins, but a fearful prospect of judgement, and a fury of fire that will consume the adversaries.

Câu hỏi được đưa ra ở đây là tại sao nó lại chấm dứt. Câu trả lời được đưa ra trong Hebrew 9:12 Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không bằng máu dê đực và bò con, nhưng dùng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta. Sự cứu chuộc đời đời nghĩa là sự cứu chuộc cho tới tận cùng của thế giới cho tất cả nhân loại. Không may, cho đến tận ngày nay, người ta vẫn làm theo đủ loại cúng bái và tin rằng nếu không cúng bái như vậy thì không thể cứu chuộc được tội lỗi. Do đó, chúng ta thấy người ta mang hoa, quả và đủ thứ tới các đền thờ rồi chùa. Họ nghĩ rằng, sau khi mắc tội lỗi, chỉ cần cúng tế và thực hiện nghi lễ này kia là có thể được cứu. Điều này là sai lầm hoàn toàn bởi Chúa đã không còn chấp nhận nghi lễ như vậy nữa. Điều này được đưa ra trong Hebrews 10:26-27 Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi mà còn phạm tội thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa, nhưng chỉ kinh khiếp đợi chờ sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi.

What we see today is- people committing all types of sins and then going to the pagoda and performing certain rituals. After the rituals they come back and repeat the same things. This verse clearly states that the best ritual has already been performed for the remission of sins. That sacrifice was performed by God Himself once for all. So, human beings cannot even think of a ritual better than the ritual performed by God. And, we read in I John 1:7 but if we walk in the light as He Himself is in the light, we have fellowship with one another, and the blood of Jesus His Son cleanses us from all sin. Those who sin and perform rituals and again sin are actually walking the dark. But, those who confess their sins and make a decision not to commit the same sin again ever in life walk in the light of God. Such people receive the blood of Jesus which was ritualistically shed on the cross. 

Điều chúng ta nhìn thấy ngày nay là người ta mắc phải đủ các kiểu tội lỗi và sau đó đi đến Chùa và thực hiện các nghi lễ cúng bái. Sau cũng bái xong thì họ quay về và lại lặp lại tội lỗi đó. Câu trên chúng ta đọc nói rằng nghi lễ tốt nhất đã được thực hiện để chuộc tội rồi. Sự tế chuộc đó do chính Chúa thực hiện một lần và đủ cả. Vì vậy, con người không thể nghĩ ra được một tế lễ hay nghi lễ nào tốt hơn nghi lễ được Chúa thực hiện. Và chúng ta đọc trong 1 John 1:7 Nhưng nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng, thì chúng ta được tương giao với nhau và huyết của Đức Chúa Giê Su, con Ngài tẩy sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Những ai mắc tội và thực hiện nghi lễ sau đó lại tiếp tục phạm tội thực ra đang bước đi trong bóng tối. Nhưng những ai thú nhận mọi tội lỗi của mình và quyết định sẽ không phạm tội đó một lần nữa thì được bước đi trong ánh sáng của Chúa. Những người đó nhận được máu của Chúa Giê Su được rỏ xuống trên Cây Thánh Giá.

Until Jesus shed His blood on the cross, people had to follow the old ritual. This is the reason why Jesus asked the leprosy patient to go and perform the ritual Jesus was still on earth at that time, and was not crucified. The Old Testament ritual was a shadow of the New Testament ritual. The New Testament ritual is the submission of Jesus’ body and blood on the cross. This is stated in Hebrews 8:5-6 They offer worship in a sanctuary that is a sketch and shadow of the heavenly one; for Moses, when he was about to erect the tent, was warned “see that you make everything according to the pattern that was shown you on the mountain. But Jesus has now obtained a more excellent ministry, and to that degree He is the mediator of a better covenant, which has been enacted through better promises. As I said before, Jesus has replaced the old ritual with a new one by giving His own body and blood for us. Therefore, we do not need to look back to the old rituals. We completely depend on the new ritual which is the body and blood of Jesus Christ. 

Cho tới khi Chúa Giê Su rỏ máu trên Thánh Giá, người ta làm theo những nghi lễ cũ. Lý do tại sao Chúa yêu cầu người phong hủi đi và thực hiện nghi lễ là bởi khi đó, Chúa vẫn còn ở thế gian. Ngài chưa bị khổ hình. Cựu Ước chỉ là bóng của Tân Ước. Nghi lễ trong Tân Ước chính là sự giao nộp và phó thác thân xác và máu của Chúa Giê Su trên Cây Thánh Giá. Điều này được nhắc đến trong Hebrews 8:5-6 Sự phục vụ của họ là mô phỏng và là cái bóng của những thực thể trên trời; vì khi Môi se sắp dựng đền tạm thì được Đức Chúa Trời phán dặn: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo kiểu mẫu đã chỉ cho con trên núi. Nhưng bây giờ đấng Christ đã nhận lãnh một chức vụ cao trọng hơn, vì Ngài là Đấng Trung Gian của giao ước tốt hơn, bởi giao ước ấy được lập lên trên lời hứa tốt hơn. Chúa đã thay thế nghi lễ cũ bằng nghi lễ mới bằng chính thể xác và máu của Ngài cho chúng ta. Do đó, chúng ta không còn cần quay trở lại nghi lễ cũ nữa. Chúng ta có thể phụ thuộc hoàn toàn vào nghi lễ mới đó chính là máu và thân xác của Chúa Giê Su.

In order to fully understand the new ritual, it is good to understand the old ritual. I explained the spiritual meanings of each item and the birds and animals used in the old ritual. In the old ritual blood of the bird and the lamb is used to cleanse the sinner. In the new ritual, the blood of the bird and lamb is replaced by the blood of Jesus. We earlier referred to John 1: 29 The next day he saw Jesus coming toward him and declared, Here is the Lamb of God who takes away the sin of the world! So now we do not need a lamb because Jesus is the lamb and this new lamb was slaughtered on the cross whose blood we use now for the remission of sins. 

Để hiểu hoàn toàn nghi lễ mới, cần phải hiểu được nghi lễ cũ. Vì vậy bài học hôm nay chúng ta được học về những ý nghĩa tâm linh của các thứ vật và chim hay các con vật được sử dụng trong nghi lễ cũ. Trong nghi lễ cũ, máu của chim và con chiên đã được thay bằng máu của Chúa Giê Su. Chúng ta đọc trong John 1:29 rằng Ngày hôm sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê Su đến với mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Vì thế giờ đây, chúng ta không cần một con chiên bởi vì Chúa Giê Su chính là con chiên và con chiên mới này đã bị giết trên cây Thánh Giá để máu của Ngài được dùng để rửa tội và cứu chuộc cho tội lỗi của chúng ta.

So what is the meaning of the blood of the bird? I said earlier that the bird which is the dove represents the Holy Spirit. But the question remains, was the Holy Spirit slaughtered. No, the Holy Spirit was not slaughtered. Then why was the bird slaughtered? We can understand the blood of the lamb but how is the blood of the bird related? Let us again refer to the incident that happened at the baptism of Jesus Christ. Matthew 3:16 And when Jesus had been baptised, just as He came up from the water, suddenly the heavens were opened to Him and He saw the Spirit of God descending like a dove and alighting on HIm. 

Vậy ý nghĩa của máu của Chim là gì? Chim là Thánh Linh. Vậy liệu có phải là Thánh Linh bị làm thịt không? Không phải vậy. Thánh Linh không bị làm thịt. Vậy tại sao chim lại bị làm thịt. Chúng ta có thể hiểu máu của chiên vậy còn máu của chim thì liên quan như thế nào? Chúng ta hãy đọc lại tình huống trong Matthew 3:16 Khi được báp tiêm xong, vừa lúc Đức Chúa Giê Su lên khỏi nước, thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài.

What happened here was, the Holy Spirit came and settled in the body and blood of Jesus. Now, in the body and blood of Jesus, the Holy Spirit was present. Hence, only the blood of Jesus is mentioned in the New Testament. We also need to know that when God created man, the Holy Spirit entered the human body. Let us read Genesis 2: 7 then the Lord God formed man from the dust of the ground, and breathed in his nostrils the breath of life; and the man became a living being. The breath of life is the Holy Spirit. This is the reason why it is commanded in Leviticus 17:10 If anyone of the house of Israel or of the aliens who reside among them eats any blood, I will set my face against that person who eats blood, and will cut that person off from the people. The reason for this strict order is given in the next verse (11) For the life of the flesh is in the blood; and I have given it to you for making atonement for your lives on the altar; for, as life, it is the blood that makes atonement. 

Như vậy, Thánh Linh đã tới và đậu trên thân xác và máu của Chúa Giê Su. Giờ đây, trong thân xác và máu của Chúa, Thánh Linh đã hiện diện. Do đó, chỉ có máu của Chúa được đề cập trong Tân Ước mà thôi. Chúng ta cũng cần nhớ rằng, khi Chúa tạo ra con người, Thánh Linh đã vào trong thân thể người. Chúng ta hãy đọc Genesis 2:7 Bấy giờ, Giê Hô Va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một vật thể sống. Sinh khí ở đây là Thánh Linh. Đây là lý do Chúa nói trong Leviticus 17:10 Người nào thuộc nhà Isarel hoặc các ngoại kiều ở giữa họ mà ăn huyết thì ta sẽ chống lại kẻ đó và truất nó khỏi dân tộc mình. Lý do do điều luật đó là vì: Vì sinh mạng của xác thịt ở trong huyết, và Ta đã ban huyết cho các con rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội linh hồn các con. Vì chính huyết là sinh mạng nên mới chuộc tội được.

The ‘life’ mentioned in this verse is the Holy Spirit. So, the Holy Spirit is present in the flesh and blood. When Jesus gave His body and blood as a sacrifice, the flesh and blood of Jesus already contained the Holy Spirit. In the old ritual the blood of the bird represented the Holy Spirit. In the new ritual, the blood of Jesus already had the Holy Spirit. 

Sinh mạng chính là Thánh Linh. Vì thế, Thánh Linh có trong huyết và xác thịt. Khi Chúa đưa thân xác và máu Ngài như là vật tế chuộc, xác và máu Chúa đã có Thánh Linh ồi. Trong nghi lễ cũ, máu của chim tượng trưng cho Thánh Linh còn trong nghi lễ mới, máu của Chúa Giê Su có Thánh Linh.

Sunday, November 1, 2020

Matthew 8:1-4: Sự chữa lành của người phong hủi, hãy đi và trình diện thầy tế lễ

 

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Thần, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying the healing of a leprosy patient by our Lord Jesus Christ. Let us read Matthew 8:1-4 again. 

Chúng ta đang học về sự chữa lành của Chúa đối với một bệnh nhân phong hủi. Chúng ta hãy cùng đọc Matthew 8:1-4 một lần nữa.

In the first part of this class, we studied how the unclean spirit enters the human body. In the last class, I listed three steps to healing. The first step towards healing is to submit to the Lord with complete confidence in Him. When we submit ourselves with confidence, we establish a father-child relationship with Jesus. In a father-child relationship, the demons will have no place to stay and hence will have no choice but to leave the body of the sick person. This leads to the second step, when a sick person is delivered by Jesus Christ. 

Những buổi trước chúng ta đã được học làm thế nào một ác linh ô uế xâm nhập vào trong cơ thể người. Trong buổi trước, tôi đã liệt kê ba bước để chúng ta có được sự chữa lành. Bước đầu tiên đó là phó thác cho Chúa với tất cả đức tin. Khi chúng ta phó thác cho Chúa bằng đức tin, chúng ta xác lập mối quan hệ cha con với Chúa Giê Su. Trong mối quan hệ cha con này, quỷ sẽ không thể ở lại và do đó nó không còn cách nào khác là phải rời thân xác của người bệnh. Điều này dẫn tới bước thứ hai khi mà một người bệnh được giải cứu bởi Chúa Giê Su.

This is what we see in the case of this leprosy patient too. He submitted to Jesus; and Jesus delivered him from the unclean spirit. In the last class, I said that deliverance does not mean the sickness is gone completely from the body. Deliverance means the root cause of sickness is cast out of the body. It means the control of the demon over the body of the affected person is cancelled. Let me give you an example: You can destroy a tree by just cutting off its taproot. Taproot is the main root of a tree. If it is cut off the tree will die.

Đây là điều chúng ta nhìn thấy trong trường hợp của người bệnh nhân phong hủi. Anh ta đã phó thác mình cho Chúa Giê Su và Chúa Giê Su đã giải cứu anh ta khỏi ác linh ô uế. Trong buổi trước, tôi đã nói rằng việc giải cứu này không có nghĩa là sự ốm đau đã lìa hẳn khỏi thân thể. Giải cứu nghĩa là phần gốc rễ của việc ốm đau đó đã bị đánh bật ra khỏi thân thể. Nghĩa là sự kiểm soát của quỷ trên thân xác của người bệnh được bãi bỏ. Ví dụ, bạn chỉ có thể phá hủy một cái cây bằng cách chặt đứt cái rễ cái của cái cây mà thôi. Rễ cái là cái rễ chính, quan trọng nhất của cái cây. Nếu nó bị cắt khỏi cây thì cây đó sẽ chết.

After cutting off the roots, you can still see the tree green and healthy for a few more days. Only after a few days you will see that the tree has dried off. In the same way, the wounds of the sickness will still be there for some time after the demonic control is cancelled. This is what happened when Jesus cursed the fig tree. Let us read Mark 11:12-14 and 20-21. Here we see that it took a day for the fig tree to get dried off but actually it was killed at the moment itself when Jesus cursed it. 

Tuy nhiên, sau khi chặt rễ, bạn vẫn có thể thấy cái cây trông xanh tốt và khỏe mạnh trong thêm vài ngày nữa. Chỉ sau vài ngày bạn  mới thấy rằng cái cây bắt đầu khô héo và chết. Tương tự, vết thương của người bệnh sẽ vẫn còn ở đó sau khi quyền kiểm soát của quỷ được bãi bỏ. Đây là điều xẩy ra khi Chúa rủa cây vả. Chúng ta hãy đọc Mark 11:12-14 và 20-21. Ngày hôm sau khi rời Bê tha ni thì Ngài đói. Từ xa, Ngài thấy một cây vả đầy lá nên đến xem thử có tìm được gì trên cây không. Nhưng khi đến gần, Ngài không thấy gì khác ngoài lá, vì bấy giờ chưa đến mùa vả. Ngài phán với cây vả: Không một ai còn ăn trái của mầy nữa. Các môn đồ đều nghe thấy lời ấy. Sáng hôm sau, khi đi ngang qua đó, họ thấy cây vả đã khô đến tận rễ. Phi e rơ nhớ lại chuyện hôm qua nên thưa với Ngài: Thầy ơi, xem kìa! Cây vả mà thầy quở đã chết khô rồi. Ở đây chúng ta thấy rằng, cây vả sau một ngày thì mới héo nhưng thật ra nó đã bị quở chết từ lúc Chúa Giê Su quở nó rồi.

The root of leprosy was the unclean spirit and Jesus cast the unclean spirit out of the body of the leprosy patient. The root got cut off, but the healing process had only started. Healing is the third and final stage. In this stage, the body of  a sick person is completely restored and reconnected to God. Jesus advised a few steps to get completely reconnected. The first step is complete silence. Jesus said to the leprosy patients, not to speak to anyone but go straight to the temple and meet the priests.  

Cái cội rễ của bệnh phong hủi là ác linh ô uế và Chúa Giê Su đã loại bỏ ác linh này ra khỏi thân thể của bệnh nhân phong hủi. Cội rễ đã bị cắt bỏ nhưng sự lành bệnh lúc ấy mới chỉ bắt đầu mà thôi. Chữa lành là giai đoạn thứ ba và là giai đoạn cuối cùng. Ở giai đoạn này, thân thể người bệnh được hồi phục hoàn toàn và kết nối trở lại với Chúa. Chúa Giê Su đã khuyên một vài bước để có được sự kết nối hoàn toàn với Chúa. Bước đầu tiên là phải tuyệt đối yên lặng. Chúa nói với bệnh nhân phong hủi, đừng nói với ai nhưng hãy đi thẳng tới đền thờ và gặp các thầy tế lễ tức là các linh mục.

We studied about how to practice silence in the last class. Silence is not practiced just by not talking to anyone. Silence is not practiced just by sleeping. Instead, silence is talking to God. More clearly, silence is the conversation between our spirit and the spirit of God. During this time, one should not talk about the healing to anyone. There is a reason why one should not talk about it with anyone. According to John 10:10, the devil comes to steal, destroy and kill. When a person gets healing or any blessings from the Lord, the devil will immediately come to steal and take away those blessings. As a result, the person will again fall sick or lose the blessings after a few days. 

Chúng ta đã học làm thế nào để thực hành sự yên lặng trong buổi trước. Sự yên lặng không thể được thực hiện chỉ bằng cách không nói chuyện với người khác. Yên lặng không có nghĩa là nằm ngủ. Thay vào đó, yên lặng nghĩa là nói chuyện với Chúa. Rõ hơn, yên lặng là sự đối thoại của linh hồn và thánh linh của Chúa. Trong khoảng thời gian này, một người không nên nói chuyện về sự chữa lành với bất kỳ ai. Theo Kinh Thánh, John 10:10, quỷ là kẻ trộm, nó tới cướp, giết và hủy diệt. Khi một người nhận được ơn phước chữa lành hay bất cứ ân điển nào khác từ Chúa, quỷ sẽ tới mau chóng để ăn cắp và lấy đi những phước lành này. Kết quả là, người đó sẽ lại ốm trở lại và mất đi ân phước của họ chỉ vài ngày sau khi lành bệnh.

In order to avoid this situation, one should protect the blessings and healings and keep the blessings in the spirit. If you have something precious, you will not just keep it in your drawing room to show off to everyone. For example, you do not keep your money or gold outside for everyone to see. Instead, you will keep them safe in the locker in your bedroom. 2 Timothy 1:14 Guard the good treasure entrusted to you, with the help of the Holy Spirit living in us. When our spirit is connected to the Holy Spirit, the treasure of healing and blessings will remain in us. 

Để tránh tình trạng này, một người cần phải bảo vệ những phước lành và giữ các phước lành này trong tâm linh của họ. Nếu bạn có thứ gì quý giá, bạn sẽ không phô trương ra để khoe với mọi người. Ví dụ, bạn không mang tiền hay vàng ra khoe cho mọi người nhìn thấy. Thay vào đó, bạn sẽ giữ cho chúng được an toàn trong tủ có khóa ở phòng ngủ của bạn. 2 Timothy 1:14 trong Kinh Thánh viết, Hãy nhờ Đức Thánh Linh, Đấng đang ngự trong chúng ta, mà gìn giữ điều tốt đẹp đã được ủy thác cho con. Khi tâm linh của chúng ta được kết nối với Thánh Linh, thì kho báu của sự chữa lành và ân điển sẽ được giữ ở trong chúng ta.

When you get a healing, it is the healing of the body that happens because the diseases are in the body. After receiving the healing, it is your responsibility to take it inside and keep it in the locker, which is your spirit. And, if the spirit is connected to God, then the devil cannot steal it. In this way, the healing will remain safe inside you. Psalm 39:1 I said, I will guard my ways that I may not sin with my tongue; I will keep a muzzle on my mouth as long as the wicked are in my presence. If you start boasting about the healing or blessings that you received, always remember, the devil is waiting there to snatch them away. Therefore, one should remain silent after being delivered. 

Khi bạn có được sự chữa lành, đó chính là sự chữa lành của thân thể xảy ra bởi bệnh có trong thân thể. Sau khi nhận được sự chữa lành, trách nhiệm của chúng ta là giữ nó ở trong tủ có khóa đó là tâm linh của chúng ta. Và nếu tâm linh chúng ta được kết nối với Chúa, thì quỷ không thể ăn cắp nó được. Theo cách này, sự chữa lành sẽ an toàn ở trong bạn. Thi Thiên 39:1 nói Con nói rằng, con sẽ giữ các đường lối con, để giữ lưỡi con không phạm tội: Đang khi kẻ ác ở trước mặt con, Con sẽ khớp miệng con lại” Nếu bạn bắt đầu khoe khoang, khoác lác về những ân điển mà bạn nhận được thì hãy nhớ rằng quỷ đang chờ sẵn để cướp đi. Do đó, một người cần phải giữ yên lặng sau khi được giải cứu.

As I said earlier, during silence we read the Word of God and meditate on them. We read the Word of God from the Bible. When we have the Word of God, the devil cannot come in and steal our healing and blessings. Let us see how the Word of God protects our healing and blessings from the devil. Jeremiah 23:29 Is not my Word like fire, says the Lord, and like a hammer that breaks a rock in pieces? As this verse clearly shows, the Word of God covers and protects the healings and blessings with fire, and if any devil attempts to break in, he will be hammered and crushed into pieces.

Như tôi đã nói, trong suốt lúc yên lặng, chúng ta đọc Lời của Chúa và suy ngẫm. Chúng ta đọc Lời của Chúa từ trong Kinh thánh. Khi chúng ta có Lời của Chúa ở trong, quỷ không thể vào trong để ăn cắp sự chữa lành và các ân điển của chúng ta được. Chúng ta hãy xem Lời của Chúa bảo vệ sự chữa lành và ân điển của chúng ta khỏi quỷ như thế nào. Jeremiah 23:29 “Lời Ta chẳng phải như lửa, như búa đập vỡ đá sao?” Câu này nói rằng, Lời của Chúa bao phủ và bảo vệ sự chữa lành và ân điển bằng lửa và nếu quỷ vào trong, nó sẽ bị đập vỡ và nghiền nát thành từng mảnh.

It simply means that without the Word of God whatever blessings or healings you receive will be temporary. Therefore, what you need to do is, first have the Word of God and then seek healings and blessings. When people come to me for healing or for any kind of blessings, I do not give them straight away. I ask them first to read the Bible and have the Word of God. Only after that I cast the demons out of them and pray for their healing. I said earlier that healing happens in the body but when you read the Bible, the Word of God straight away goes to your spirit. Having the Word of God inside means having Jesus inside you, because Jesus is the Word of God as is given in John 1:14 The Word became flesh and made His dwelling among us. We have seen His glory, the glory of the one and only Son, who came from the Father, full of grace and truth. This verse is talking about the Son of God, who is Jesus Christ. So, when Jesus is inside us, the spirit becomes strong and helps protect the healing of the body from being stolen by the devil. 

Điều này cũng có nghĩa là, nếu không có Lời của Chúa, không đọc Kinh Thánh thì những sự chữa lành hay phước lành mà chúng ta có sẽ chỉ là tạm thời mà thôi. Do đó, điều chúng ta cần làm là, trước hết cần phải có Lời của Chúa và sau đó tìm cầu sự chữa lành và các ân điển. Khi một người đưa đến cho tôi để chữa lành hay ân điển, tôi không bao giờ làm ngay. Tôi thường bảo họ phải học Kinh thánh và có Lời của Chúa ở bên trong trước đã. Chỉ sau đó, tôi mới đuổi quỷ ra khỏi họ và cầu nguyện cho sự chữa lành cho họ. Sự chữa lành xảy ra trong thân thể và khi bạn đọc Kinh Thánh, Lời của Chúa sẽ đi thẳng vào trong tâm linh của bạn. Có Lời của Chúa ở trong nghĩa là có Chúa Giê Su ở trong bạn, bởi vì Chúa Giê Su chính là Lời Của Chúa như trong John 1:14 “Ngôi Lời đã trở nên xác thể, sống giữa chúng ta, đầy ân điển và chân lý. Chúng ta đã chiêm ngưỡng vinh quang Ngài, thật là vinh quang của Con Một đến từ nơi Cha”. Con Một đến từ nơi Cha chính là Chúa Giê Su. Vì vậy, khi Chúa Giê Su ở trong chúng ta, tâm linh chúng ta trở nên mạnh mẽ và giúp bảo vệ sự chữa lành diễn ra trong thân thể chúng ta để không bị quỷ ăn cắp mất.

You may ask, then why did Jesus heal the leprosy patient instantly? Did he have the Word of God? The answer is ‘yes, the leprosy patient had the word of God. Let us read Matthew 8: 2 again. He prayed: Lord, if you choose, you can make me clean. Now let us read Jeremiah 17:14: Heal me, O Lord, and I shall be healed; save me, and I shall be saved; for you are my praise. These are the words that the leprosy patient used to pray to Jesus. It means that he had the Word of God inside. Hence, he received healing from Jesus. You will need to read this class again and again and meditate to understand.  

Bạn có thể thắc mắc, vậy tại sao Chúa Giê Su lại chữa lành cho bệnh nhân phong hủi ngay tức khắc? Anh ta có Lời của Chúa ở trong mình không? Câu trả lời là Có, người đó có. Chúng ta hãy đọc lại Matthew 8:2, anh ta đã cầu rằng, Lạy Chúa, nếu Ngài muốn thì con được sạch. Chúng ta tìm được câu này trong Jeremiah 17:14, Lạy Đức Giê Hô Va xin chữa lành cho con để con được lành, Xin Ngài cứu con để con được cứu, Vì Ngài là đấng con tôn ngợi. Đây là những lời mà bệnh nhân phong hủi đã dùng để cầu nguyện Chúa Giê Su. Điều này có nghĩa là người nầy biết Kinh Thánh và có Lời của Chúa ở trong. Do đó, anh ta đã nhận được sự chữa lành từ Chúa. Bạn sẽ cần phải đọc đi đọc lại và suy ngẫm để hiểu được bài nầy.

The first thing Jesus asked was to keep silent. The second thing Jesus asked was to show himself to the priest at the temple. I need to explain what happens when a person who is healed of leprosy presents himself to the priest at the temple. Let us read Leviticus 14:1-20 (Read slowly). During the Old Testament period, this was the process of ritual that took place at the temple of God to complete the healing process of a leprosy patient. This needs to be understood clearly. 

Chúa yêu cầu là phải giữ yên lặng. Điều thứ hai, Chúa Giê Su yêu cầu là phải trình diện cho thầy tế lễ ở đền thờ. Tôi sẽ giải thích điều xảy ra khi một người được chữa lành trình diện với thầy tế lễ ở nhà thờ thì sẽ xảy ra như thế nào. Điều nầy được đưa ra trong Leviticus 14:1-20. “Đây là luật lệ dành cho người mắc bệnh phong hủi trong ngày được thanh tẩy. Người ấy sẽ được đưa đến gặp thầy tế lễ, thầy tế lễ sẽ ra ngoài doanh trại để khám. Nếu người mắc bệnh phong hủi đã khỏi rồi thì thầy tế lễ sẽ truyền đem cho người sắp được thanh tẩy hai con chim sống và tinh sạch, một khúc gỗ hương nam, một sợi chỉ đỏ màu sậm và cành bài hương. Thầy tế lễ ra lệnh giết một trong hai con chim đó, hứng máu chim trong một chậu sành, có chứa nước suối. Sau đó, bắt con chim còn sống cùng với khúc gỗ hương nam, sợi chỉ đỏ và cành bài hương, nhúng hết vào máu của con chim đã bị giết trong chậu sành có chứa nước suổi. (Đọc tiếp trong Lê vi ký chương 14)Trong Cựu ước, đây là nghi lễ thanh tẩy xảy ra ở đền thờ ở hoàn tất quá trình chữa lành của bệnh nhân phong hủi. Chúng ta cần phải hiểu rõ hơn điều nầy.

Bird, lamb and a few things are used in the ritual of the purification of the leprosy patient. We need to understand the spiritual meaning of each of these. Before explaining the spiritual meaning of the bird and the lamb, let me explain the meaning of each of the things used:

Chim, con chiên và vài thứ khác được sử dụng trong nghi lễ thanh tẩy của bệnh nhân phong hủi. Chúng ta hãy cùng tìm hiểu ý nghĩa tâm linh của mỗi loại này.

1.    Cedar wood: There are a few references for cedar wood in the Bible:     

1. Cây bá hương: Có một số câu trong Kinh Thánh nói về gỗ hương như sau:      

a. The importance of cedar wood is that it is planted by the Lord. Psalm 104:16 The trees of the Lord are watered abundantly, the cedars of Lebanon that He planted; 

a. Cây bá hương quan trọng bởi nó được Chúa trồng. Thi Thiên 104:16 viết rằng Cây cối của Đức Giê Hô Va được gội nhuần mưa móc, Tức cây bá hương tại Li Ban mà Ngài đã trồng.

b. It was used in the building of the temple of God. 1 Kings 5:5-6 So I intend to build a house for the name of the Lord my God, as the Lord said to my father David, Your son, whom I will set on your throne in your place, shall build the house for me. Therefore, command that cedars from lebanon be cut for me…;

b. Nó được sử dụng để xây dựng đền thờ của Chúa. 1 Kings 5:5-6 “Tôi định xây cất đền thờ cho danh Đức Giê Hô Va tôi như Đức Giê Hô Va đã phán bảo David, thân phụ tôi rằng “Con trai con, mà Ta đặt ngồi trên ngai kế vị con, sẽ xây một đền thờ cho danh Ta. Vậy bây giờ xin Ngài truyền lệnh cho đốn những cây bá hương trên núi Li Ban cho tôi.

c. Cedar wood is strong and durable. Isaiah 9:10 The bricks have fallen, but we will build with dressed stones; the sycamores have been cut down, but we will put cedars in their place; 

c. Gỗ bá hương thì mạnh và bền. Isaiah 9:9 gạch đã đổ xuống nhưng chúng tôi sẽ xây lại bằng đá quý. Cây sung đã bị đốn ngã nhưng chúng tôi sẽ thay bằng cây bá hương.

d. Cedar woods are graceful and beautiful. Psalm 80:10 The mountains were covered with its shade, the mighty cedars with its branches; 

d. Cây bá hương rất đẹp. Thi Thiên 80:10 Cả núi bị bóng nó che phủ và cành nó giống như cây bá hương của Đức Chúa Trời.

e.  Cedar woods are compared to the righteous people. Psalm 92:12 The righteous flourish like the palm tree, and grow like a cedar in Lebanon.

e. Cây bá hương được so sánh với những người công chính. Thi Thiên 92:12 Người công chính sẽ mọc lên như cây kè, và lớn lên như cây bá hương ở Li ban.

We see here that cedar trees are planted by the Lord and it is tall, strong, beautiful and fragrant. In the same way, human beings are created by God and they are created healthy and beautiful. As the children of God, every human being is expected to be a fragrant in their family and society. 2 Corinthians 2:15-16 For we are the aroma of Christto God among those who are being saved and among those who are perishing; to the one a fragrance from death to death, to the other a fragrance from life to life…

Chúng ta đọc được ở đây rằng, cây bá hương được Chúa trồng và nó cao lớn, đẹp và tỏa hương thơm. Tương tự, con người cũng được Chúa tạo dựng và được tạo nên khỏe mạnh và đẹp đẽ. Là con cái Chúa, mọi người cũng sẽ tỏa hương trong gia đình và xã hội. “Vì chúng tôi là hương thơm của Đấng Christ dâng lên Đức Chúa Trời, giữa những người được cứu rỗi và những kẻ bị hư mất, đối với những người bị hư mất, chúng tôi là mùi sự chết, dẫn đến sự chết. Đối với những người được cứu rỗi, chúng ta là mùi sự sống, dẫn đến sự sống” (2 Corinthians 2:15-16).

A healthy and strong body does not have any diseases. A fragrant life means others will enjoy coming closer and staying with us. But, as we see in the case of the leprosy patient, his body became weak, and instead of the fragrance there was a foul smell from his wounds. As a result, people hated him and did not want to come anywhere near to him. 

Một thân thể khỏe mạnh thì sẽ không có bệnh. Một thân thể tỏa hương thơm nghĩa là người khác sẽ thích lại gần và ở cạnh bên chúng ta. Nhưng như chúng ta nhìn thấy ở bệnh nhân phong hủi, thân thể anh ta trở nên yếu đuối và thay vì tỏa hương thì anh ta bốc mùi gớm giếc từ những vết lở loét. Kết quả là, người ta ghét anh ta và không muốn lại gần anh ta.

When the cedar wood is used in the healing process, it symbolises the leprosy patient being restored back to his healthy and fragrant state. It means that once again, he becomes a person who he was when God created him. Hence, cedar wood represents restoring the person back to become the child of God.  

Khi cây bá hương được sử dụng trong quá trình chữa lành, nó tượng trưng cho việc người phong hủi được phục hồi quay trở lại trạng thái khỏe mạnh và tỏa hương thơm. Có nghĩa rằng, một lần nữa, anh ta lại được trở thành người ban đầu như khi Chúa tạo ra anh ta. Do đó, cây bá hương đại diện cho sự phục hồi một người quay trở lại để làm con cái Chúa.  

2.              The second thing that is used for purification is crimson yarn. I hope you know the colour crimson. It is deep red. It is also termed scarlet. This deep red colour represents the sin of the people. Let us look at a few references: 

2. Thứ thứ hai được dùng để thanh tẩy là sợi chỉ đỏ. Sợi chỉ này có màu đỏ thẫm. Nó nhuộm màu đỏ tía. Màu đỏ này tượng trưng cho tội lỗi của con người. Chúng ta cũng có những ví dụ trong Kinh Thánh như sau:

a. Isaiah 1: 18 Come now, let us argue it out, says the Lord: though your sins are like scarlet, they shall be like snow; though they are red like crimson, they shall become like wool; 

a. Ê sai 1:18 Bây giờ hãy đến để chúng ta biện luận với nhau. Mặc dù tội các ngươi đỏ như son, sẽ trở nên trắng như tuyết, mặc dù đỏ thắm như vải điều, sẽ trở nên trắng như lông chiên.

b. In Matthew 27: 28 we read that the soldiers stripped Jesus and made Him wear a scarlet robe; 

b. Trong Matthew 27:28 chúng ta đọc được rằng Chúng lột áo Ngài ra và mặc cho Ngài một chiếc áo điều màu đỏ thẫm.

c. At the second coming of Jesus, we will see Him wearing deep red coloured dress. Revelation 19:13 He is clothed in a robe dipped in blood, and His name is called the Word of God. As I said earlier, the Word of God is Jesus Christ. 

c. Vào lần đến thứ hai của Chúa, chúng ta sẽ thấy Ngài mặc áo đỏ thẫm. Khải huyền 19:13 Ngài mặc áo đã được nhúng trong máu. Danh Ngài được gọi là Lời của Đức Chúa Trời. Chúng ta biết rằng, Lời của Đức Chúa Trời chính là Chúa Giê Su.

The health, beauty and fragrance of a person is lost when the demons enter inside the body. The crimson represents the sin of the human being as we read in Isaiah 1:18. When crimson is used in the ritual it means that your sins are taken away through the rituals. That is what we see in the robe of Jesus Christ forced to wear by the soldiers. It meant that all the sins of the human beings were cast on the body of Jesus Christ. Jesus Christ silently accepted that and it represents that all our sins and diseases were carried over by Lord Jesus. 1 Peter 2:24 He Himself bore our sins in His body on the cross, so that, free from sins, we might live for righteousness; by His wounds you have been healed. 

Sức khỏe, vẻ đẹp và hương thơm của một người bị mất đi khi quỷ xâm nhập vào người đó. Màu đỏ thẫm tượng trưng cho tội lỗi của con người như chúng ta đọc trong Ê Sai 1:18. Khi màu đỏ thẫm được sử dụng trong nghi lễ, có nghĩa là qua nghi lễ này, tội lỗi của chúng ta được thanh tẩy. Đó là màu của áo điều mà các tên lính đã bắt Chúa mặc khi đi khổ hình. Có nghĩa rằng, tất cả tội lỗi của con người đã được đặt lên thân xác của Chúa Giê Su. Chúa Giê Su lặng lẽ chấp nhận và điều đó có ý nghĩa rằng tất cả tội lỗi cũng như bệnh tật của chúng ta được mang trên thân thể của Chúa. 1 Peter 2:24 Ngài mang tội lỗi chúng ta trong thân thể Ngài trên cây gỗ, để chúng ta chết đối với tội lỗi và sống cho sự công chính; nhờ những vết thương của Ngài mà anh em được chữa lành.

In short, the deep and dark red sins in our body and lives are cleansed through this ritual and the leprosy is completely healed through this process. 

Tóm lại, những tội lỗi màu đỏ thẫm trong thân thể và đời sống của chúng ta được thanh tẩy qua nghi lễ này và người phong hủi được chữa lành hoàn toàn qua quá trình này.

The remaining are hyssop, oil, and then the meanings of bird and lamb. We will continue this in the next class. 

Chúng ta sẽ học về chim, con chiên, dầu và bài hương ở buổi sau.

God bless you all. Amen. 

Cầu Chúa ban phước cho tất cả các bạn. Amen.

 

Sunday, October 25, 2020

Matthew 8:1-4: Chúa chữa lành cho người phong hủi (Phần 2)

 

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong Đấng Christ thân mến,

We are studying the healing of a leprosy patient by our Lord Jesus Christ. Let us read Matthew 8:1-4 again. 

Chúng ta đang học việc Chúa chữa lành của bệnh nhân phong hủi. Chúng ta hãy đọc Matthew 8:1-4 một lần nữa.

In the last class, we studied how the unclean spirit enters the body and mind. We also saw the entry points of the unclean spirit. If we close those entry points, then the unclean spirit cannot enter and block our spirit. The unclean spirit controls the human body and mind to block the spirit. As a result, the connection between the human spirit and God is cut off. 

Ở buổi trước, chúng ta đã học làm cách nào mà ác linh ô uế vào trong tâm trí và thể xác. Chúng ta cũng học các con đường để ác linh ô uế thâm nhập vào trong chúng ta. Nếu chúng ta bịt hết các con đường này, thì ác linh này không thể vào và cản trở tâm linh của chúng ta được. Ác linh ô uế kiểm soát thân xác con người và cản trở tâm linh của chúng ta. Kết quả là, sự kết nối giữa tâm linh con người và Chúa bị cắt đứt.

In tonight’s class, we are going to study how Jesus helps us to get rid of the unclean spirit. The conversation between the leprosy patient and Jesus demonstrates a few things for us to learn from:

Trong lớp học tối nay, chúng ta sẽ học làm thế nào Chúa Giê Su có thể giúp chúng ta loại bỏ ác linh ô uế. Đoạn hội thoại giữa bệnh nhân phong hủi và Chúa có những điều để chúng ta học được như sau:

The most important thing that we see in this incident is the confidence of the leprosy patient in Jesus. He has no doubt about the power of Jesus Christ. He knows that Jesus can cast out the unclean spirit from his body. He also knows that Jesus can heal and restore his body back to that of a healthy man. Therefore, the very first thing that we need is full confidence in Jesus Christ. You must have noticed how little kids demand what they want from their parents. When they ask, they have full confidence that their parents will give them what they ask for. The same children will not have confidence to ask anything from the neighbour or an outside because they are not their real parents. 

Điều quan trọng nhất mà chúng ta thấy trong tình huống này đó là sự tin tưởng của bệnh nhân phong hủi đối với Chúa Giê Su. Anh ta không có bất cứ sự ngờ vực nào về quyền năng của Chúa Giê Su. Anh ta biết rằng Chúa hoàn toàn có thể đuổi ác linh ô uế ra khỏi thân thể của mình. Anh ta cũng hiểu rằng Chúa có thể chữa lành và làm hồi phục thân thể anh ta quay trở lại một người khỏe mạnh. Bạn hẳn đã nhìn thấy một đứa trẻ khi đòi bố mẹ làm cho hay mua cho cái gì. Khi nó hỏi, nó tin chắc rằng bố mẹ sẽ có thể làm cho nó thỏa mãn. Nhưng cũng vẫn đứa trẻ đó nếu nó hỏi xin người hàng xóm hoặc người ngoài thì nó không thể tự tin được bởi họ không phải cha mẹ của nó.

In order for us to have full confidence in God, the very first thing that we need to do is to develop a father-child relationship with Him. In other words, we must accept God as our eternal father. When we receive God as your father, He will accept us and give us the legal right to become His children. John 1:12 But to all who received Him, who believed in His name, He gave power to become children of God. As we see in this verse, the condition to become God’s children is to accept Him as the only God and heavenly Father. That is why the Lord’s prayer starts with “Our Father who art in heaven”. 

Để chúng ta có được lòng tin tuyệt đối ở nơi Chúa, điều đầu tiên và trước nhất chúng ta cần làm là cần phải có mối quan hệ Cha – Con với Ngài. Nói cách khác, chúng ta phải chấp nhận Chúa như là Cha đời đời của chúng ta. Khi chúng ta tiếp nhận Chúa như là Cha mình, Ngài sẽ nhận chúng ta và cho chúng ta quyền hợp pháp để trở nên con cái Ngài. John 1:12 Nhưng bất cứ ai tiếp nhận Ngài, tức là tin danh Ngài, thì Ngài ban cho quyền trở nên con của Đức Chúa Trời. Như chúng ta thấy ở trong câu này, điều kiện để trở thành con cái Chúa là phải chấp nhận Ngài như là vị Chúa duy nhất và Cha trên thiên đàng. Đó là lý do tại sao lời cầu nguyện Chúa bắt đầu bằng câu “Lạy Cha chúng con ở trên trời.”

Once we are accepted by God, we receive the legal right to call Him the Father. It means, after that we can live with God in His house or God comes and lives in our house and leads our house and family. Once we have Jesus living with us in our homes, we are very close to Him. We can talk to Him freely and share everything with Him. We have full rights. Romans 8:16-17 it is that very Spirit bearing witness with our spirit that we are children of God, and if children, then heirs of God and joint heirs with Christ…As we read in this verse, only those who have legal rights can be heirs. For example, only the children of a father can have legal rights and be heirs of a father’s property. 

Khi chúng ta được Chúa chấp nhận, chúng ta nhận được quyền hợp pháp để gọi Ngài là Cha. Nghĩa là, sau đó, chúng ta có thể sống với Chúa trong nhà của Chúa hoặc Chúa sẽ tới và sống trong nhà của chúng ta và dẫn dắt gia đình chúng ta. Khi chúng ta có Chúa sống trong gia đình chúng ta, chúng ta trở nên gần gũi với Ngài. Chúng ta có thể thoải mái nói chuyện với Chúa và chia sẻ mọi điều với Ngài. Chúng ta có toàn quyền. Romans 8:16-17 Chính Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời. Nếu là con cái thì chúng ta cũng là người thừa kế, vừa là người thừa kế của Đức Chúa Trời vừa là người cùng thừa kế với Đấng Christ. Như chúng ta đọc trong câu này, chỉ có con của một người Cha thì mới có quyền thừa kế và là người thừa kế tài sản của Cha.

We have seen the parable of the prodigal son in earlier classes. The prodigal son in Luke 15:11-24 rebelled against his father and went away. But, when he came back and repented, the father accepted him as his child again. In order to develop confidence, the first thing that we need to do is come to our Father, Lord Almighty, and repent. When we repent, we are forgiven of all our sins, and accepted as God’s children. When we are accepted as God’s children we have full confidence to stand in front of Him and ask what we need. We have already studied Matthew 7:7 Ask, and it will be given to you. Asking without confidence means you doubt. You have doubt because you are not a true child of God. You are not a true child of God because you have not been accepted by the Lord. You have not been accepted by the Lord because you have not confessed and repented your sin. In short, it means that you are not willing to clean yourselves. You still want to have unclean spirit inside but also want the blessings from the Lord. It is not possible at all. 

Chúng ta đọc câu chuyện dụ ngôn về người con trai đi hoang ở trong những bài trước. Người con trai đi hoang trong Luke 15:11-24 đã nổi loạn chống lại Cha mình và bỏ đi. Nhưng khi nó quay lại và ăn năn, Cha đã lại chấp nhận nó làm con. Để có được lòng tin, điều đầu tiên là chúng ta cần phải trở về với Cha, Chúa quyền năng và ăn năn. Khi chúng ta ăn năn, chúng ta sẽ được tha thứ mọi tội lỗi và được chấp nhận là con cái Chúa. Khi chúng ta được chấp nhận như là con cái Chúa, chúng ta sẽ có đủ lòng tin để đứng trước Ngài và cầu xin những nhu cầu của bản thân. Chúng ta cũng đã học Matthew 7:7 Hãy xin sẽ được. Xin mà không lòng tin nghĩa là chúng ta còn nghi ngại. Bạn nghi ngờ bởi vì bạn không phải là con cái thật của Chúa. Bạn không phải con cái thật của Chúa vì bạn chưa được Chúa chấp nhận. Bạn chưa được Chúa chấp nhận bởi vì bạn chưa xưng tội, chưa sám hối. Tóm lại, nghĩa là bạn chưa sẵn sàng để tẩy sạch bản thân mình. Bạn vẫn muốn có ác linh ở bên trong nhưng cũng vẫn muốn nhận được ơn phước từ Chúa. Điều đó là không thể nào xảy ra được.

The leprosy patient desperately wanted the unclean spirit to leave him. So he completely submitted to Jesus. He knelt before Jesus. Kneeling means complete submission to Jesus. Then, with full confidence he said, Lord if you choose you can make me clean. Therefore, the first step is to confess the sins and become a child of God. 

Người bệnh nhân phong hủi rất muốn ác linh ô uế rời khỏi anh ta. Vì vậy anh ta đã phó thác hoàn toàn cho Chúa Giê Su. Anh ta đã quỳ xuống trước Chúa Giê Su. Quỳ gối nghĩa là phó thác hoàn toàn cho Chúa. Sau đó, với toàn bộ đức tin, anh ta nói, Chúa, nếu Ngài muốn con sẽ được sạch. Do đó, bước đầu tiên là chúng ta cần phải sám hối tất cả tội lỗi và trở thành con cái Chúa.

The second step is deliverance from the unclean spirit. As we read, Jesus replied to the leprosy patient I do choose. Be made clean. Immediately, his leprosy was cleansed. You need to clearly understand the process here. The leprosy patient was not healed immediately. It says that immediately, his leprosy was cleansed. It means that the unclean spirit inside him was cast out by Jesus. So the unclean spirit stopped working in the leprosy patient. I gave you the example of the mouse eating the book in the last class. It is hiding in the bookshelf and eating the book. As soon as it sees the light or hears any noise, it will flee only to come back later. In the same way, in the presence of Jesus, the devil cannot stand, so it will flee. But, as soon as Jesus leaves you, or you leave Jesus, the demons will come back. 

Bước thứ hai là giải cứu khỏi ác linh ô uế. Như chúng ta đọc, Chúa Giê Su đã đáp lại bệnh nhân phong hủi rằng, Ta muốn. Hãy sạch đi. Ngay lập tức, người phong hủi được sạch. Bạn cần phải hiểu rõ quá trình này. Người bệnh nhân phong hủi thật ra không được chữa lành ngay lập tức. Ở đây nói rằng, ngay lập tức, người phong hủi được sạch. Nghĩa là ác linh đã bị Chúa Giê Su đuổi ra. Vì thế ác linh ô uế đã ngừng hoạt động trong bệnh nhân phong hủi. Tôi đã từng đưa ra ví dụ về con chuột gặm cuốn sách ở buổi trước. Con chuột nó trốn giữa giá sách và gặm nhấm sách. Ngay khi nó nhìn thấy ánh sáng hoặc nghe thấy tiếng động, nó sẽ bỏ trốn và nó sẽ trở lại sau. Tương tự, khi Chúa Giê Su rời khỏi bạn, hoặc bạn rời khỏi Chúa, quỷ sẽ trở lại với bạn.

It means even though you are delivered from evil spirits, you are still not healed. The wounds caused by the unclean spirit in the body  of the leprosy patient was still there. But, before being healed completely, deliverance is needed. Deliverance is a power and a gift given by God to the priests. Priests are chosen by the Lord to do His work. Jesus first appointed the disciples as the first priests and gave the authority to cast out demons and heal the sick. Let us read Matthew 10: 1 Then Jesus summoned his twelve disciples and gave them authority over unclean spirits, to cast them out, and to cure every disease and every sickness. 

Điều này nghĩa là, mặc dù bạn đã được giải cứu khỏi ác linh, bạn vẫn chưa được lành. Vết thương gây ra bởi ác linh ô uế trong thân thể của người phong hủi vẫn còn đó. Nhưng trước khi được lành hoàn toàn, sự giải cứu là rất cần thiết. Giải cứu là quyền năng và món quà Chúa ban cho các linh mục. Các linh mục được Chúa lựa chọn để làm việc cho Ngài. Chúa Giê Su đã bổ nhiệm những thánh đồ như là những linh mục đầu tiên và trao thẩm quyền cho họ để đuổi quỷ và chữa lành cho người bệnh. Chúng ta hãy đọc Matthew 10:1 Đức Chúa Giê Su gọi mười hai môn đồ đến, ban thẩm quyền để đuổi các uế linh và chữa lành mọi bệnh tật.

Those who were baptised last time at our Malaysian church may remember that before baptism, there was a deliverance ceremony. The priest places hand on the head of the baptismal candidate and commands the demons to leave. That is the process of deliverance. Do not think that the demons will immediately leave when you ask them to leave. Let me give you an example from Acts 19: 11-16. See how dangerous the situation was. Saint Paul had the authority to cast out the demons. But these guys did not have that authority, but they tried to copy and paste Saint Paul. The demons retaliated and the guys had to flee wounded and naked. 

Những ai đã được rửa tội báp tiêm lần trước ở nhà thờ ở Malaysia hẳn nhớ rằng, trước khi được rửa tội, có một lễ giải cứu. Linh mục đặt tay lên đầu của người được rửa tội và lệnh cho quỷ phải rời đi. Đó là quá trình giải cứu. Đừng nghĩ rằng quỷ sẽ rời đi ngay khi bạn bảo chúng phải rời đi. Để tôi cho bạn một ví dụ trong Acts 19:11-16. Các bạn đã thấy tình huống nguy hiểm như thế nào chưa. Thánh Paul có thẩm quyền để đuổi quỷ. Nhưng những người này không có thẩm quyền đó nhưng họ cố bắt chước và làm theo Thánh Paul. Quỷ đã trả thù và những người này đã phải bỏ chạy trần truồng và đầy thương tích.

For those who are not yet baptised: do not think that all the demons have left you just because you have started reading the Bible and praying, and attending the Bible class. These are only the first steps towards deliverance. The demons are still inside, but are quite in the same way as the mouse becomes temporarily quiet. If you have sincerely started following the Lord, the attack will become slower. The more the Word of God enters inside you through Bible reading, the fewer the attacks will be. But the demons are still inside. Only during baptism they will be cast out. 

Với những ai chưa được rửa tội, đừng nghĩ rằng tất cả quỷ đã rời bạn chỉ bởi vì bạn đã bắt đầu đọc Kinh thánh và cầu nguyện và tham dự lớp học này. Đây mới chỉ là những bước đầu tiên để được giải cứu mà thôi. Quỷ vẫn còn nằm bên trong, nhưng nó giống như những con chuột vậy, tạm thời yên lặng. Nếu bạn thành tâm theo Chúa, tấn công sẽ trở nên chậm hơn. Càng có nhiều Lời của Chúa vào trong, sự tấn công sẽ càng ít đi. Nhưng quỷ vẫn còn ở bên trong. Chỉ khi rửa tội thì chúng mới được đuổi ra ngoài thôi.

For those who are baptised: the demons are cast out. There is no demon inside you. But, you only get attacked from outside. You are sealed by the blood of Jesus. Let us read Exodus 12: 21-23. In the Old Testament the blood of lamb was the shadow of the blood of Jesus Christ. We read in John 1: 29 The next day he saw Jesus coming toward him and declared, Here is the lamb of God who takes away the sin of the world. Again in 1 Corinthians 5:7 we read our paschal lamb, Christ has been sacrificed. In the Old Testament, it was the blood of the lamb, but now  for us, it is the blood of Jesus Christ that protects us. It is extremely difficult for the demons to enter inside a baptised person. So what they do is keep tempting and attacking from outside. If a baptised person falls into the temptation then demons can enter inside and cause trouble again. For such people the problems will be even more as we read in Matthew 12:43-45. I will explain more about this when we come to this chapter. 

Với những ai đã được rửa tội: quỷ đã được đuổi ra rồi. Không còn quỷ ở trong bạn. Bạn sẽ chỉ gặp những tấn công từ bên ngoài mà thôi. Bạn đã được phong ấn bởi máu của Chúa Giê Su rồi. Chúng ta hãy đọc Exodus 12:21-23 Vậy Môi se mời tất cả các trưởng lão Israel lại và nói “Hãy đi bắt một Chiên con tùy theo gia đình mình và giết nó làm lễ vượt qua. Rồi lấy một bó bài hương nhúng vào máu trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai thanh dọc cửa ra vào. Từ đó đến sáng không ai trong anh em được ra khỏi cửa nhà mình. Trong Cựu Ước, máu của Chiên Con cũng chính là hình bóng của máu của Chúa Giê Su. Chúng ta đọc trong John 1:29 rằng Hôm sau Giăng thấy Đức Chúa Giê Su đến với mình, thì nói rằng, Kìa Chiên Con của Đức Chúa Trời, là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Và trong 1 Corinthians 5:7 Vì Đấng Christ, Chiên con lễ Vượt qua của chúng ta đã được dâng làm sinh tế rồi. Trong Cựu Ước, đó là máu của Chiên Con, còn bây giờ với chúng ta, đó là máu của Chúa Giê Su bảo vệ chúng ta. Sẽ là cực kỳ khó để quỷ có thể vào được một người đã được báp tiêm rửa tội. Vì vậy những gì chúng làm là sẽ liên tục cám dỗ và tấn công từ bên ngoài. Nếu một người được rửa tội rồi mà lại rơi vào cám dỗ thì quỷ sẽ vào trong và gây rắc rối một lần nữa. Với những người như vậy, lần sau sẽ còn tai hại hơn lần trước như chúng ta đọc được trong Matthew 12:43-45 Khi uế linh ra khỏi một người, nó đi qua những nơi khô cằn, tìm chỗ nghỉ nhưng không tìm được. Rồi nó nói: Ta sẽ trở về nhà ta, nơi ta vừa ra khỏi. Khi về đến, thấy nhà trống, quét dọn sạch sẽ, sắp đặt ngăn nắp. Nó liền đi, và đem về bảy quỷ khác dữ hơn, cùng vào ở đó. Như vậy tình trạng sau của người ấy còn tệ hại hơn trước.

The unclean spirit living in the leprosy was affected by two things. First this demon became scared of the repentance and the confidence of the leprosy patient. When he repented, the unclean spirit should have increased the attack. This will happen to you too. When you repent, the demons become violent and start troubling you more. But, this attack is more because the demons start panicking and try to scare you. But, they themselves are scared. If you fall at this stage, the demons win. But if you stay strong the demons start losing. So they will remain quiet. Secondly, when the leprosy patient went to Jesus, the unclean spirit started trembling with fear. Now, the demon clearly knew that he had no choice but to leave. But, that was not the end. He needed to be healed too. This leads us to the third step.

Ác linh ô uế sống trong người phong hủi bị ảnh hưởng bởi hai điều. Đầu tiên, nó rất sợ sự sám hối và lòng tin của người bệnh. Khi anh ta sám hối, ác linh ô uế ban đầu sẽ tấn công dữ dội hơn. Điều này xảy ra với các bạn nữa. Khi các bạn bắt đầu sám hối, quỷ trở nên dữ tợn và gây hấn với bạn nhiều hơn. Nhưng sự tấn công này thật ra bởi vì nó hoảng sợ và muốn dọa bạn. Nhưng bản thân nó thì đang rất sợ. Nếu bạn thất bại ở giai đoạn này thì quỷ sẽ thắng. Nhưng nếu bạn cứ mạnh mẽ, quỷ sẽ bắt đầu thua cuộc. Và nó sẽ trở nên yên lặng. Thứ hai, khi bệnh nhân phong hủi đến với Chúa, ác linh ô uế bắt đầu run lên vì sợ. Giờ nó biết nó không còn cách nào khác là phải rời đi. Nhưng đó chưa phải là xong. Anh ta cần phải được chữa lành nữa. Điều này sẽ dẫn tới bước thứ ba.

The third step is complete healing. Jesus advised the leprosy patient two things: 1. Do not tell anyone; 2. Go and show yourself to the priest and offer the gift that Moses commanded. This third and final step is the most important. After being delivered, you need to keep quiet. Do not go out and boast to everyone heyy Jesus blessed me. I am delivered, I am free, I got this and I got that from Jesus. Plato has said that an empty vessel makes the most noise. If the vessel is full and you hit on it, you won’t get to hear any loud noise. This happened with Saint Peter a couple of times though he was with Jesus. Once when Jesus came walking on water, Saint Peter said, Lord I also want to walk on water. Jesus said, ok, come. After walking on water for a few steps, Saint Peter started drowning. In another incident, Saint Peter declared with overconfidence that even if everyone leaves you, I will not leave you. Jesus said, Peter, you will deny me three times before the cock crows this day. We will study about these later. The reason for both these situations was because the faith of Saint Peter was still not fully developed. The disciples were delivered from the demons. But Jesus was still alive. He had not yet been crucified. It means Jesus’s body and blood were not yet given for the full spiritual development of the disciples and other followers. 

Bước thứ ba là sự chữa lành hoàn toàn. Chúa khuyên người bị phong hủi hai điều 1. Đừng nói với ai 2. Hãy đi và trình diện với thầy tế lễ và dâng tế lễ mà Mô sẽ đã dạy. Giai đoạn thứ ba và cuối cùng này là điều quan trọng nhất. Sau khi được giải cứu, bạn cần phải giữ yên lặng. Đừng đi ra và khoe khoang với mọi người rằng, nhìn này, tôi được Chúa ban phước. Tôi được cứu rồi. Tôi được tự do rồi, tôi được Chúa ban cho cái này cái kia. Plato nói rằng thùng rỗng thường kêu to. Nếu thùng đầy thì khi mình gõ vào, nó cũng không phát ra tiếng gì cả. Điều này cũng xảy ra với cả Thánh Peter một vài lần mặc dù ông được ở với Chúa. Một lần khi Chúa đi bộ trên mặt biển, Thánh Peter nói Chúa ơi, con cũng muốn được đi trên mặt nước. Chúa nói, được, con lại đây. Sau khi đi bộ được vài bước, thánh Peter bắt đầu chìm. Trong một tình huống khác, thánh Peter tuyên bố với sự tự tin rằng, ngay cả nếu mọi người có rời bỏ Ngài, con cũng sẽ không rời Ngài đâu. Chúa Giê Su nói, Peter, đêm nay trước khi gà gáy con sẽ chối bỏ Ta ba lần. Chúng ta sẽ học tất cả những câu chuyện này sau. Lý do cho cả hai tình huống này là đức tin của Thánh Peter là chưa đủ. Vào lúc này, các thánh đồ đã được giải cứu khỏi quỷ. Nhưng Chúa Giê Su lúc ấy vẫn sống. Lúc ấy, Ngài chưa bị khổ hình. Nghĩa là thánh thể và máu của Chúa vẫn chưa được trao cho để các thánh đồ có được sự phát triển về Thánh linh trọn vẹn.

Coming back, what we need is complete silence. No blabbering, no foul mouthing, no boasting. In the Orthodox church, the first deliverance happens when you confess your sins to the priest. This session normally happens on Saturday evening. During this session, you confess your sins to the priest and the priest cast out the demons from you and pray over you. After this session, you are expected to maintain complete silence for the rest of the night. Just read a few Psalms and pray and sleep. The next morning, you get up early in the morning and silently reach the church and attend the Holy Qurbana. This is exactly what Jesus told the leprosy patient after he was cleansed. Jesus said, do not talk to anyone, do not speak until you reach the temple and show yourselves to the priest and make the offerings and fulfill the rituals. 

Quay trở lại, chúng ta cần ở đây là sự yên lặng tuyệt đối. Không được ba hoa, khoác lác, không được xì xào, bàn tán. Ở nhà thờ Chính thống giáo, sự giải cứu đầu tiên xảy ra khi bạn xưng tội với linh mục. Phần này thường diễn ra vào tối thứ bảy. Sau đó, bạn xưng tất cả tội lỗi với linh mục và linh mục sẽ đuổi quỷ ra khỏi bạn và cầu nguyện trên bạn. Sau phần này, bạn cần phải giữ yên lặng trong phần còn lại của đêm. Chỉ đọc Thi Thiên sau đó cầu nguyện và ngủ. Sáng hôm sau, bạn dậy sớm vào buổi sáng, yên lặng tới nhà thờ và tham dự lễ gọi là Holy Qurbana. Đây chính là điều Chúa đã dặn người bệnh nhân phong hủi sau khi anh ta được thanh tẩy. Chúa nói, đừng nói với ai, đừng nói cho đến khi bạn đến đền thờ và trình diện thầy tế lễ và dâng lễ vật để hoàn thành nghi lễ.

Staying silent and just meditating on the Word of God is the preparation for the major event of your life. That major event is your complete healing. The leprosy patient led a pathetic life. His whole body was bleeding. His flesh was getting rotten and was falling in chunks. He smelled terrible. He was cut off from his family and society. He had to stay away and remained isolated. There was no one to feed him. There was no one to cloth him. Everyone hated him. The unclean spirit was in full control of his body. He might have even wished to die. In all his distress and pathetic life, one day he found Jesus the saviour. Psalm 18:4-6 The cords of death encompassed me; the torrents of perdition assailed me; the cords of sheol entangled me; the snares of death confronted me. In my distress I called upon the Lord; to my God I cried for help. From his temple He heard my voice, and my cry to Him reached His ears. 

Giữ yên lặng và suy ngẫm về Lời của Chúa là sự chuẩn bị cho sự kiện quan trọng trong cuộc đời bạn. Sự kiện đó là sự chữa lành hoàn toàn. Người bệnh nhân phong hủi sống một cuộc đời lâm ly bi đát. Toàn thân mục nát. Thịt thối rữa và rơi xuống từng mảng. Anh ta bốc mùi hôi thối. Anh ta bị cách ly khỏi gia đình và xã hội. Anh ta phải lánh xa tất cả. Không ai cho anh ta ăn. Không ai mặc cho anh ta. Mọi người ghét bỏ anh ta. Ác linh ô uế tràn ngập anh ta. Anh ta có lẽ đã mong được chết đi thì hơn. Trong tất cả sự tuyệt vọng và bi đát đó, anh ta đã tìm thấy Chúa Giê Su là Đấng Cứu Rỗi của mình. Thi Thiên 18:4-6 Dây sự chết vương vấn con. Thác hủy diệt làm con sợ hãi. Các dây âm phủ quấn lấy con, các bẫy sự chết giăng bắt con. Trong cơn gian truân, con cầu khẩn Đức Giê Hô Va, Con kêu cầu Đức Chúa Trời của con. Từ đền thờ, Ngài nghe tiếng con và tiếng kêu cứu của con thấu đến tai Ngài.

From His temple He heard my voice. Temple means church. Jesus asked the leprosy patients to go to the temple for complete healing. After being delivered from the demons, the final step is to go to the temple, which is the church, which is the house of God. 

Từ đền thờ Ngài nghe tiếng con. Đền thờ chính là Nhà thờ. Chúa Giê Su đã bảo bệnh nhân phong hủi đi tới đền thờ để hoàn tất sự chữa lành. Sau khi được giải cứu khỏi quỷ, bước cuối cùng là đi tới đền thờ, đó chính là nhà thờ, và là nhà của Chúa.

We will study this final step, and what happens in the church, in the next class. 

Chúng ta sẽ học bước cuối cùng này và những điều xảy ra trong nhà thờ ở buổi học tiếp theo.

God bless you all. Amen.

Cầu Chúa ban phước cho tất cả các bạn. Amen.