Tuesday, November 10, 2020

Matthew 8:1-4 Chúa chữa cho người phong hủi (P4)

 

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit, one true God. Amen. 

Vinh quang dành cho Đức Chúa Cha, Đức Chúa Con và Đức Thánh Linh, một vị Chúa thực sự. Amen.

Dear brothers and sisters in Christ,

Các anh chị em trong đấng Christ thân mến,

We are studying the healing of a leprosy patient by our Lord Jesus Christ. Let us read Matthew 8:1-4 again.

Chúng ta đang học Chúa Giê Su chữa lành của người phong hủi. Chúng ta hãy đọc Matthew 8:1-4 một lần nữa.

We started studying about the ritual of cleansing of the leprosy patient in the temple by the priests. Let us read Leviticus 14: 1-20 once again. As we see, there are a few things used for the ritualistic cleansing process. In the last class we studied about the spiritual significance of cedar wood and crimson yarn. Cedar wood reminds us how beautiful and fragrant human beings were created. Crimson yarn signifies the dark red sins which needs to be cleansed. When our dark red sins are cleansed, we will become again like cedar wood- tall, strong, beautiful and fragrant. 

Chúng ta đã bắt đầu học về nghi lễ thanh tẩy của bệnh nhân phong hủi ở đền thờ bởi các thầy tế lễ. Chúng ta hãy đọc Leviticus 14:1-20 một lần nữa. Như chúng ta thấy ở đây có một vài điều được sử dụng cho quá trình thanh tẩy. Trong buổi trước, chúng ta đã học về ý nghĩa tâm linh của cây gỗ bá hương và sợi chỉ đỏ. Gỗ bá hương nhắc chúng ta rằng con người đã được tạo ra đẹp đẽ và tỏa hương thơm như thế nào. Sợi chỉ đỏ biểu trưng cho những tội lỗi màu đỏ thẫm cần được thanh tẩy. Khi những tội lỗi đỏ thẫm được thanh tẩy, chúng ta sẽ một lần nữa trở nên giống như cây bá hương cao, mạnh mẽ, đẹp đẽ và đầy hương thơm.

3. The third thing that we see is hyssop. Hyssop was a plant that was used for cleansing. In those days, hyssop made anything completely clean. Psalm 51:7 Purge me with hyssop, and I shall be clean; wash me and I shall be whiter than snow. As we see in Leviticus 14: 7 we read that the hyssop was used to sprinkle the blood on the leprosy patient who was delivered. The very first time hyssop is mentioned in the Bible is in Exodus 12:22-23 Take a bunch of hyssop, dip it in the blood that is in the basin, and touch the lintel and the two doorposts with the blood in the basin. None of you shall go outside the door of your house until morning. For the Lord will pass through to strike down the Egyptians; when He sees the blood on the lintel and on the two doorsteps, the Lord will pass over that door and will not allow the destroyer to enter your house to strike you down. Here we see that hyssop was used to transfer the blood to the doorposts. In the same way, the blood was transferred to the leprosy patient by sprinkling on.  

3. Điều thứ ba chúng ta thấy ở đây là chùm bài hương. Bài hương là một loại cây được sử dụng để thanh tẩy. Ngày xưa, bài hương được làm để thanh tẩy mọi thứ dơ bẩn. Chúng ta đọc trong Thi Thiên 51:7 rằng “Xin hãy lấy chùm bài hương tẩy sạch tội lỗi con thì con sẽ được tinh sạch, cầu Chúa rửa con thì con sẽ trở nên trắng hơn tuyết. Như chúng ta thấy ở trong Leviticus 14:7, chúng ta đọc được rằng bài hương được sử dụng để rảy máu lên người bị bệnh phong hủi được giải cứu. Lần đầu tiên bài hương được đề cập đến trong Kinh thánh là trong Exodus 12:22-23 Rồi lấy một bó bài hương nhúng vào máu trong chậu, bôi lên thanh ngang và hai thanh dọc cửa ra vào. Từ đó cho đến sáng, không ai trong anh em được đi ra khỏi cửa nhà mình. Đức Giê Hô Va sẽ đi qua để hành hại người Ai Cập; khi thấy máu nơi khung cửa ra vào, Ngài sẽ đi lướt qua và không cho thiên sứ hủy diệt vào nhà anh em để hành hại. Ở đây chúng ta thấy rằng, bài hương được sử dụng để bôi máu lên cửa ra vào. Tương tự, máu cũng được bôi lên người phong hủi bằng cách rảy lên.  

4. The fourth thing that we see is oil. Oil was used to anoint a person. Let us look at a few references: 

4. Điều thứ tư chúng ta thấy ở đây là dầu. Dầu được sử dụng để xức dầu cho một người. Chúng ta hãy nhìn vào một vài dẫn chứng sau:

a. Oil was used to anoint kings. 1 Samuel 10:1 Samuel took a vial of oil and poured it on his head, and kissed him; he said, The Lord has anointed you as ruler over His people Israel….; 

a. Dầu được sử dụng để xức cho nhà vua. 1 Samuel 10:1 Sa mu ên lấy một lọ dầu nhỏ, đổ trên đầu Sau lơ, hôn người và nói: Chẳng phải Đức Giê Hô Va đã xức dầu cho anh để làm người lãnh đạo cơ nghiệp của Ngài sao?

b. Oil was used to anoint the priests of God. Leviticus 8:30 Then Moses took some of the anointing oil and some of the blood that was on the altar and sprinkled them on Aron and his vestments…; 

b. Dầu được sử dụng để xức cho các thầy tế lễ của Chúa. Leviticus 8:30 Tiếp đến Môi se lấy dầu xức và máu trên bàn thờ rảy trên Aron và trên lễ phục người

c.  Oil was used for healing. James 5:14 Are any among you sick? They should call for the elders of the church and have them pray over them, anointing them with oil in the name of the Lord. Please note, the elders here means the priests.

c. Dầu được dùng để chữa lành. James 5:14 Có ai trong anh em đau ốm chăng? Người ấy hãy mời các trưởng lão Hội Thánh đến; Họ sẽ nhân danh Chúa cầu nguyện và xức dầu cho người bệnh. Chú ý rằng trưởng lão ở đây nghĩa là các Linh Mục, các Cha ở nhà thờ.  

Based on these references, we can infer that the spiritual significance of oil is to transform a person to perfection. If the person is sick, oil is used to cure him. We use two oils in baptism. At the first instance, the baptismal candidate is anointed with plain olive oil. Later, the candidate is anointed with the holy oil. I will talk about this more when we study later about holy sacraments. Besides, baptism oil is used in the church to anoint and pray for a sick person. Oil is used one last time on a person during the burial ceremony in the church. In all these cases, oil is used to protect and spiritually transform the person on whom it is applied. 

Dựa trên những dẫn chứng này, chúng ta có thể suy ra rằng, ý nghĩa tâm linh của dầu là để biến đổi một người tới chỗ toàn hảo. Nếu một người bị bệnh, dầu được sử dụng để chữa trị. Chúng ta cũng sử dụng hai loại dầu trong lễ rửa tội. Ở lần đầu tiên, người được rửa tội sẽ được xức bằng dầu ô liu. Sau đó, người đó được xức bằng dầu thánh. Tôi sẽ nói đến nhiều hơn khi chúng ta học về bí tích thánh thể. Ngoài ra, dầu rửa tội còn được sử dụng trong nhà thờ để xức dầu và cầu nguyện cho người bị bệnh. Dầu được sử dụng lần cuối cùng trên một người trong lễ chôn cất trong nhà thờ. Trong tất cả các trường hợp này, dầu được sử dụng để bảo vệ và chuyển hóa về tâm linh cho người được bôi lên.

5. The fifth thing that we see is water. Water represents baptism. In the New Testament we read about two types of baptism. The first baptism was administered by John the Baptist. As we studied in Matthew 3:6 the people were baptised by John the Baptist in river Jordan when they confessed their sins (also see Mark 1:4). The second baptism is the baptism in Jesus Christ. It is mentioned in John 3: 5 where Jesus told Nicodemus very truly I tell you, no one can enter the kingdom of God without being born of water and spirit. In the ritual of the cleansing of the leprosy patient water represents the cleansing of the sins. Water is used as a ritualistic washing of the sins of the leprosy patients. 

5. Thứ thứ năm được nhắc đến ở đây là nước. Nước tượng trưng cho sự rửa tội. Trong Tân Ước, chúng ta được đọc về hai loại rửa tội. Rửa tội đầu tiên là bởi John The Baptist. Như chúng ta đọc trong Matthew 3:6, mọi người được John The Baptist rửa tội bằng nước ở sông Jordan khi họ thú nhận tội lỗi của họ (Hãy đọc trong Mark 1:4). Lần rửa tội thứ hai là sự rửa tội trong Chúa Giê Su, như được nhắc đến trong John 3:5 khi Chúa nói với giáo sư Nicodem là Thật Ta Bảo thật ngươi, Nếu một người không nhờ nước và Thánh Linh mà sinh ra thì không thể vào Vương quốc của Đức Chúa Trời. Trong nghi lễ thanh tẩy người phong hủi, nước tương trưng cho sự thanh tẩy tội lỗi. Nước được sử dụng như sự rửa sạch về nghi lễ cho tội của người phong hủi.

Apart from these things, we see birds and lamb being slaughtered and their blood used in the cleansing process. The birds used for purification were the turtle doves and pigeons as we read in Leviticus 5:7 But if you cannot afford a sheep, you shall bring to the Lord, as your penalty for the sin that you have committed, two turtle doves or two pigeons, one for a sin offering and other for a burnt offering. 

Ngoài ra, chúng ta còn thấy chim và con chiên bị làm thịt và máu của chúng được sử dụng trong quá trình thanh tẩy. Chim được sử dụng thanh tẩy này chính là loài chim bồ câu mà chúng ta đọc được trong Leviticus 5:7 Nếu người ấy không đủ khả năng dâng một con chiên cái hay một con dê cái thì để đền tội mình đã phạm, người ấy phải dâng lên Đức Giê Hô Va một cặp chim gáy hay là một cặp bồ câu con: một con dùng làm tế lễ chuộc tội, một con dùng làm tế lễ thiêu.

6. The dove or pigeon represents the Holy Spirit. We studied this in Matthew 3: 16 And when Jesus had been baptised, just as He came up from the water, suddenly the heavens were open to Him and He saw the Spirit of God descending like a dove and alighting on Him. Two birds are brought to the temple for purification. So one represents the spirit of the person to be cleansed and the other one represents the Spirit of God. 

6. Con chim gáy hay chim bồ câu tượng trưng cho Thánh Linh. Chúng ta học trong Matthew 3:16 rằng Khi được báp tiêm xong, vừa lúc Đức Chúa Giê Su lên khỏi nước thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài. Hai con chim được đêm đến đền thờ để thanh tẩy. Một con đại diện cho tâm linh của người được thanh tẩy và một con tượng trưng cho Thánh Linh của Chúa.

7. The leprosy patient also needs to bring two male lambs and one female lamb. Now if the leprosy patient was poor, then only one male lamb was enough. The most important thing that we see here is the male lamb is offered for the sins of the person as we read in Leviticus 14: 19 The priest shall offer the sin offering, to make atonement for the one to be cleansed from his uncleanness. I said in the beginning that leprosy was due to the sin of the person. This verse is the evidence that leprosy is due to the unclean spirit that enters inside the body when a person commits sins.

7. Người phong hủi cũng cần phải đem đến hai con chiên đực và một con chiên cái. Nếu người phong hủi quá nghèo thì chỉ cần đem một con chiên đực là đủ. Điều chúng ta thấy ở đây là con chiên đực được dâng lên cho tội lỗi của người đó như chúng ta đọc được trong Leviticus 14:19 Thầy tế lễ sẽ dâng tế lễ chuộc tội để chuộc tội cho người ấy được thanh tẩy khỏi mọi ô uế. Sự phong hủi là do tội lỗi của một người. Và đây là bằng chứng cho thấy rằng bệnh phong hủi là do ác linh ô uế đã vào bên trong thân thể khi một người mắc tội lỗi.  

8. One last thing that is also mentioned is the flour mixed with oil that the leprosy patient needed to bring. The dough was used to make bread. The bread represents that God is the resource of our life. It also represents a thanksgiving for God’s blessings on us. When a leprosy patient brings dough, it means that God is being thanked for deliverance from the disease as well as for complete healing. So it is also called a thanksgiving offering. 

8. Điều cuối cùng được nhắc đến ở đây là bột được trộn với dầu mà người phong hủi cần phải mang theo. Bột được sử dụng để làm bánh mì. Bánh mì tượng trưng rằng Chúa Trời là nguồn của sự sống. Nó cũng tượng trưng cho một sự tạ ơn cho những phước lành của Chúa trên chúng ta. Khi người bệnh nhân mang bột nghĩa là Chúa đang được cảm ơn bởi Ngài đã giải cứu người đó khỏi bệnh tật cũng như để có được sự chữa lành hoàn toàn. Vì thế nó cũng được là lễ tạ ơn.

Until now, we were looking at all the items that were used to conduct a cleansing ritual to spiritually cleanse a leprosy patient before officially declaring the person cleans. The priests conducted a cleansing ritual in the Holy Place of the temple after which the leprosy patient was declared clean. But, this process of cleansing has been stopped after the death and resurrection of Jesus Christ. 

Cho đến giờ, chúng ta đang học tất cả những thứ được sử dụng để tiến hành nghi lễ thanh tẩy để thanh tẩy về tâm linh một người phong hủi trước khi công bố chính thức rằng người đó được sạch. Thầy tế lễ tiến hành nghi lễ thanh tẩy trong đền thờ sau đó người bệnh được công bố là sạch sẽ. Nhưng quá trình này đã hoàn toàn chấm dứt sau cái chết và sự phục sinh của Chúa Giê Su.

The question arises why it has been stopped. The answer is given in Hebrews 9:12 He (Jesus Christ) entered once for all into the Holy Place, not with the blood of goats and calves, but with His own blood, thus obtaining eternal redemption. Eternal redemption in this verse redemption forever until the end of the world for all the human beings. Unfortunately, even today, people follow the rituals and believe that no redemption from sin is possible without rituals. Thus we see people offering flowers, gifts and doing so many things in temples and pagodas. They think that after committing sins they just need to perform some rituals and can be set free. That is wrong because God has permanently stopped accepting rituals. It is clearly stated in Hebrews 10:26-27 For if we wilfully persist in sin after having received the knowledge of truth, there no longer remains a sacrifice for sins, but a fearful prospect of judgement, and a fury of fire that will consume the adversaries.

Câu hỏi được đưa ra ở đây là tại sao nó lại chấm dứt. Câu trả lời được đưa ra trong Hebrew 9:12 Ngài đã bước vào nơi Chí Thánh một lần đủ cả, không bằng máu dê đực và bò con, nhưng dùng chính huyết mình để đem đến sự cứu chuộc đời đời cho chúng ta. Sự cứu chuộc đời đời nghĩa là sự cứu chuộc cho tới tận cùng của thế giới cho tất cả nhân loại. Không may, cho đến tận ngày nay, người ta vẫn làm theo đủ loại cúng bái và tin rằng nếu không cúng bái như vậy thì không thể cứu chuộc được tội lỗi. Do đó, chúng ta thấy người ta mang hoa, quả và đủ thứ tới các đền thờ rồi chùa. Họ nghĩ rằng, sau khi mắc tội lỗi, chỉ cần cúng tế và thực hiện nghi lễ này kia là có thể được cứu. Điều này là sai lầm hoàn toàn bởi Chúa đã không còn chấp nhận nghi lễ như vậy nữa. Điều này được đưa ra trong Hebrews 10:26-27 Vì nếu chúng ta đã nhận biết chân lý rồi mà còn phạm tội thì không còn có sinh tế nào chuộc tội được nữa, nhưng chỉ kinh khiếp đợi chờ sự phán xét và lửa hừng sẽ đốt cháy những kẻ chống nghịch mà thôi.

What we see today is- people committing all types of sins and then going to the pagoda and performing certain rituals. After the rituals they come back and repeat the same things. This verse clearly states that the best ritual has already been performed for the remission of sins. That sacrifice was performed by God Himself once for all. So, human beings cannot even think of a ritual better than the ritual performed by God. And, we read in I John 1:7 but if we walk in the light as He Himself is in the light, we have fellowship with one another, and the blood of Jesus His Son cleanses us from all sin. Those who sin and perform rituals and again sin are actually walking the dark. But, those who confess their sins and make a decision not to commit the same sin again ever in life walk in the light of God. Such people receive the blood of Jesus which was ritualistically shed on the cross. 

Điều chúng ta nhìn thấy ngày nay là người ta mắc phải đủ các kiểu tội lỗi và sau đó đi đến Chùa và thực hiện các nghi lễ cúng bái. Sau cũng bái xong thì họ quay về và lại lặp lại tội lỗi đó. Câu trên chúng ta đọc nói rằng nghi lễ tốt nhất đã được thực hiện để chuộc tội rồi. Sự tế chuộc đó do chính Chúa thực hiện một lần và đủ cả. Vì vậy, con người không thể nghĩ ra được một tế lễ hay nghi lễ nào tốt hơn nghi lễ được Chúa thực hiện. Và chúng ta đọc trong 1 John 1:7 Nhưng nếu chúng ta bước đi trong ánh sáng, cũng như chính Ngài ở trong ánh sáng, thì chúng ta được tương giao với nhau và huyết của Đức Chúa Giê Su, con Ngài tẩy sạch mọi tội lỗi của chúng ta. Những ai mắc tội và thực hiện nghi lễ sau đó lại tiếp tục phạm tội thực ra đang bước đi trong bóng tối. Nhưng những ai thú nhận mọi tội lỗi của mình và quyết định sẽ không phạm tội đó một lần nữa thì được bước đi trong ánh sáng của Chúa. Những người đó nhận được máu của Chúa Giê Su được rỏ xuống trên Cây Thánh Giá.

Until Jesus shed His blood on the cross, people had to follow the old ritual. This is the reason why Jesus asked the leprosy patient to go and perform the ritual Jesus was still on earth at that time, and was not crucified. The Old Testament ritual was a shadow of the New Testament ritual. The New Testament ritual is the submission of Jesus’ body and blood on the cross. This is stated in Hebrews 8:5-6 They offer worship in a sanctuary that is a sketch and shadow of the heavenly one; for Moses, when he was about to erect the tent, was warned “see that you make everything according to the pattern that was shown you on the mountain. But Jesus has now obtained a more excellent ministry, and to that degree He is the mediator of a better covenant, which has been enacted through better promises. As I said before, Jesus has replaced the old ritual with a new one by giving His own body and blood for us. Therefore, we do not need to look back to the old rituals. We completely depend on the new ritual which is the body and blood of Jesus Christ. 

Cho tới khi Chúa Giê Su rỏ máu trên Thánh Giá, người ta làm theo những nghi lễ cũ. Lý do tại sao Chúa yêu cầu người phong hủi đi và thực hiện nghi lễ là bởi khi đó, Chúa vẫn còn ở thế gian. Ngài chưa bị khổ hình. Cựu Ước chỉ là bóng của Tân Ước. Nghi lễ trong Tân Ước chính là sự giao nộp và phó thác thân xác và máu của Chúa Giê Su trên Cây Thánh Giá. Điều này được nhắc đến trong Hebrews 8:5-6 Sự phục vụ của họ là mô phỏng và là cái bóng của những thực thể trên trời; vì khi Môi se sắp dựng đền tạm thì được Đức Chúa Trời phán dặn: Hãy cẩn thận, làm mọi việc theo kiểu mẫu đã chỉ cho con trên núi. Nhưng bây giờ đấng Christ đã nhận lãnh một chức vụ cao trọng hơn, vì Ngài là Đấng Trung Gian của giao ước tốt hơn, bởi giao ước ấy được lập lên trên lời hứa tốt hơn. Chúa đã thay thế nghi lễ cũ bằng nghi lễ mới bằng chính thể xác và máu của Ngài cho chúng ta. Do đó, chúng ta không còn cần quay trở lại nghi lễ cũ nữa. Chúng ta có thể phụ thuộc hoàn toàn vào nghi lễ mới đó chính là máu và thân xác của Chúa Giê Su.

In order to fully understand the new ritual, it is good to understand the old ritual. I explained the spiritual meanings of each item and the birds and animals used in the old ritual. In the old ritual blood of the bird and the lamb is used to cleanse the sinner. In the new ritual, the blood of the bird and lamb is replaced by the blood of Jesus. We earlier referred to John 1: 29 The next day he saw Jesus coming toward him and declared, Here is the Lamb of God who takes away the sin of the world! So now we do not need a lamb because Jesus is the lamb and this new lamb was slaughtered on the cross whose blood we use now for the remission of sins. 

Để hiểu hoàn toàn nghi lễ mới, cần phải hiểu được nghi lễ cũ. Vì vậy bài học hôm nay chúng ta được học về những ý nghĩa tâm linh của các thứ vật và chim hay các con vật được sử dụng trong nghi lễ cũ. Trong nghi lễ cũ, máu của chim và con chiên đã được thay bằng máu của Chúa Giê Su. Chúng ta đọc trong John 1:29 rằng Ngày hôm sau, Giăng thấy Đức Chúa Giê Su đến với mình, thì nói rằng: Kìa, Chiên con của Đức Chúa Trời là Đấng cất tội lỗi của thế gian đi. Vì thế giờ đây, chúng ta không cần một con chiên bởi vì Chúa Giê Su chính là con chiên và con chiên mới này đã bị giết trên cây Thánh Giá để máu của Ngài được dùng để rửa tội và cứu chuộc cho tội lỗi của chúng ta.

So what is the meaning of the blood of the bird? I said earlier that the bird which is the dove represents the Holy Spirit. But the question remains, was the Holy Spirit slaughtered. No, the Holy Spirit was not slaughtered. Then why was the bird slaughtered? We can understand the blood of the lamb but how is the blood of the bird related? Let us again refer to the incident that happened at the baptism of Jesus Christ. Matthew 3:16 And when Jesus had been baptised, just as He came up from the water, suddenly the heavens were opened to Him and He saw the Spirit of God descending like a dove and alighting on HIm. 

Vậy ý nghĩa của máu của Chim là gì? Chim là Thánh Linh. Vậy liệu có phải là Thánh Linh bị làm thịt không? Không phải vậy. Thánh Linh không bị làm thịt. Vậy tại sao chim lại bị làm thịt. Chúng ta có thể hiểu máu của chiên vậy còn máu của chim thì liên quan như thế nào? Chúng ta hãy đọc lại tình huống trong Matthew 3:16 Khi được báp tiêm xong, vừa lúc Đức Chúa Giê Su lên khỏi nước, thì kìa, các tầng trời mở ra, Ngài thấy Thánh Linh của Đức Chúa Trời ngự xuống như chim bồ câu đậu trên Ngài.

What happened here was, the Holy Spirit came and settled in the body and blood of Jesus. Now, in the body and blood of Jesus, the Holy Spirit was present. Hence, only the blood of Jesus is mentioned in the New Testament. We also need to know that when God created man, the Holy Spirit entered the human body. Let us read Genesis 2: 7 then the Lord God formed man from the dust of the ground, and breathed in his nostrils the breath of life; and the man became a living being. The breath of life is the Holy Spirit. This is the reason why it is commanded in Leviticus 17:10 If anyone of the house of Israel or of the aliens who reside among them eats any blood, I will set my face against that person who eats blood, and will cut that person off from the people. The reason for this strict order is given in the next verse (11) For the life of the flesh is in the blood; and I have given it to you for making atonement for your lives on the altar; for, as life, it is the blood that makes atonement. 

Như vậy, Thánh Linh đã tới và đậu trên thân xác và máu của Chúa Giê Su. Giờ đây, trong thân xác và máu của Chúa, Thánh Linh đã hiện diện. Do đó, chỉ có máu của Chúa được đề cập trong Tân Ước mà thôi. Chúng ta cũng cần nhớ rằng, khi Chúa tạo ra con người, Thánh Linh đã vào trong thân thể người. Chúng ta hãy đọc Genesis 2:7 Bấy giờ, Giê Hô Va Đức Chúa Trời lấy bụi đất nắn nên hình người, hà sinh khí vào lỗ mũi, thì người trở nên một vật thể sống. Sinh khí ở đây là Thánh Linh. Đây là lý do Chúa nói trong Leviticus 17:10 Người nào thuộc nhà Isarel hoặc các ngoại kiều ở giữa họ mà ăn huyết thì ta sẽ chống lại kẻ đó và truất nó khỏi dân tộc mình. Lý do do điều luật đó là vì: Vì sinh mạng của xác thịt ở trong huyết, và Ta đã ban huyết cho các con rảy trên bàn thờ để làm lễ chuộc tội linh hồn các con. Vì chính huyết là sinh mạng nên mới chuộc tội được.

The ‘life’ mentioned in this verse is the Holy Spirit. So, the Holy Spirit is present in the flesh and blood. When Jesus gave His body and blood as a sacrifice, the flesh and blood of Jesus already contained the Holy Spirit. In the old ritual the blood of the bird represented the Holy Spirit. In the new ritual, the blood of Jesus already had the Holy Spirit. 

Sinh mạng chính là Thánh Linh. Vì thế, Thánh Linh có trong huyết và xác thịt. Khi Chúa đưa thân xác và máu Ngài như là vật tế chuộc, xác và máu Chúa đã có Thánh Linh ồi. Trong nghi lễ cũ, máu của chim tượng trưng cho Thánh Linh còn trong nghi lễ mới, máu của Chúa Giê Su có Thánh Linh.

No comments:

Post a Comment