Sunday, July 7, 2019

Lời cầu nguyện của Chúa: Vương Quốc Cha được đến...

Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit!!!
Vinh quang cho Đức Chúa Cha, Chúa Con và Đức Thánh Thần!!!
In the last class, we studied Hallowed be the name of God the Father. 
Trong buổi học lần trước, chúng ta đã học câu đầu tiên trong lời cầu nguyện của Chúa “Lạy Cha chúng con ở trên trời, Danh Cha được tôn thánh”.
Tonight, we are going to slook into the next verse (10) “Your Kingdom come; and your will be done, on earth as it is in heaven”. 
Trong tối nay, chúng ta sẽ học câu tiếp theo, câu số 10 “Vương Quốc Cha được đến; Ý Cha được nên, ở đất cũng như ở trời”.
We all know what a kingdom means. Let us have a quick look into the meaning of ‘kingdom’. Kingdom has two words joined together: king and dom. Dom means authority, jurisdiction etc., Therefore, kingdom means the authority or jurisdiction of a king. In other words, it means, wherever a king has authority is his kingdom. For example, the Prime Minister of Vietnam has authority over the whole of Vietnam. 
Chúng ta đều biết “vương quốc” có nghĩa là gì. Chúng ta hãy cùng nhìn nhanh vào ý nghĩa của “Vương Quốc”. Vương Quốc là từ gồm hai chữ: Vương và Quốc. Quốc nghĩa là quyền năng, quyền lực pháp lý etc…, Do đó, vương quốc có nghĩa là bất cứ nơi nào nhà vưa có quyền năng thì đó gọi là vương quốc. Ví dụ, Tổng thống của Việt Nam có quyền lực trên khắp lãnh thổ Việt Nam. 
Likewises, the Kingdom of God, means, a situation in which God is the King. The whole gospel of Matthew was written to prove that Jesus is the King of Kings. For example, read Matthew 2:2, “Where is the child who has been born King of the Jews”. In 1 Timothy 6:14-15 we read, “................Jesus Christ…...who is the blessed and only Sovereign, the King of kings and Lord of lords”.  
Tương tự như vậy, vương quốc của Chúa có nghĩa là nơi mà Chúa là Vua. Toàn bộ Tin lành của Matthew được viết để chứng minh rằng Chúa là Vua của mọi Vua. Ví dụ khi chúng ta đọc Matthew 2:2 “Vua Dân Do Thái vừa sinh ra tại đâu?” và trong 1 Timothy 6:14-15 chúng ta đọc “….cho đến ngày Chúa chúng ta là Đức Chúa Giê Su Christ hiện đến, là điều mà Đấng Chúa Tể hạnh phước là duy nhất, là Vua của các Vua, Chúa của các Chúa…”
What does it mean when we say Lord is the King? How is it different to the kings of this world? We have heard and read about so many kings and their kingdoms. For example, Egyptians kings, Roman kings, Chinese kings, and even Vietnamese kings. They were very powerful. But, all of them have disappeared. Their kingdoms also have collapsed. 
Điều đó có nghĩa là gì khi chúng ta nói rằng Chúa là Vua? Có gì khác với Vua của thế gian này không? Chúng ta đã nghe nói và đọc nhiều về rất nhiều vua và vương quốc của họ. Ví dụ, Vua Ai cập, Hoàng đế La Mã, Hoàng thượng Trung Hoa và thậm chí các Vua Chúa của Việt Nam. Họ đều rất quyền lực. Nhưng tất cả họ đều đã biến mất. Triều đại của họ cũng đã sụp đổ.
Let us have a look at the first verses of Psalms 93, 97 and 99. In all these Psalms, it starts with the statement: “The Lord is King”. Let us look at each of these Psalms:
Chúng ta hãy cùng đọc các câu của Thi Thiê 93, 97, và 99. Trong tất cả những Thi thiên này, đều bắt đầu bằng câu: “Đức Giê Hô Va cai trị..”. Chúng ta hãy đọc từng câu trong những Thi Thiên này:
1. Psalms 93:1, “The Lord is King, He is robed in majesty; the Lord is robed, he is girded with strength”. Here, King means ‘majesty’ and ‘strength’. God is the strongest and the most powerful. Let us read Isaiah 6:1-5. In this section, we see that the Lord is seated on the highest of the thrones.
1. Thi Thiên 93:1 “Đức Giê Hô Va cai trị, Ngài mặc vẻ uy nghiêm; Đức Giê Hô Va mặc và thắt lưng bằng sức mạnh”. Ở đây, Nhà vua có nghĩa là “quyền năng” và “sức mạnh”. Chúa mạnh nhất và quyền năng vĩ đại nhất. Chúng ta cũng hãy đọc Isaiah 6:1-5 “Vào năm Vua Ô-xia băng hà, tôi thấy Chúa ngự trên ngai rất cao, vạt áo của Ngài đầy rẫy đền thờ. Các sê-ra-phim đứng chầu quanh Ngài. Mỗi vị có sáu cánh: hai cái che mặt, hai cái che chân, và hai cái dùng để bay. Các sê-ra-phim cùng nhau tung hô rằng: “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Đức Giê Hô Va vạn quân! Khắp đất đầy rẫy vinh quang Ngài.” Tiếng tung hô ấy vang dội làm cho các trụ cửa nơi ngưỡng cửa rung chuyển, và đền thờ đầy rẫy khói. Tôi liền kêu lên: “Khốn cho tôi! Tôi chết mất! Vì tôi là người có môi ô uế ở giữa một dân có môi ô uế, bởi mắt tôi đã thấy Vua, tức là Đức Giê Hô Va vạn quân!” Ở đây, chúng ta thấy rằng Chúa ngồi trên Ngai cao nhất.

It means the throne above all the thrones. In order to understand the Lord’s power we need to read vs.2-4. The Seraphs (angels) covered their faces and feet with two wings each, and with two they flew. Moreover, they are talking to each other saying, Oooooh, how holy is our Lord. Whole earth is filled with his majesty. Another important thing that we see here is that when these angels spoke, “The pivots on the thresholds shook at the voices of those who called..” (vs4). It means the angels were also very powerful. 
Điều này có nghĩa là ngai cao trên tất cả mọi ngai. Để hiểu được quyền năng của Chúa, chúng ta cần phải đọc câu 2-4. Các sê ra phim tức là các thiên thần, Mỗi vị có sáu cánh: hai cái che mặt, hai cái che chân, và hai cái dùng để bay. Các sê-ra-phim cùng nhau tung hô rằng: “Thánh thay, Thánh thay, Thánh thay là Đức Giê Hô Va vạn quân! Khắp đất đầy rẫy vinh quang Ngài. Một điều quan trọng khác chúng ta thấy ở đây là khi các Thiên thần này tung hô “Tiếng tung hô ấy vang dội làm cho các trụ cửa nơi ngưỡng cửa rung chuyển..” (câu 4). Có nghĩa rằng, các thiên thần cũng rất quyền năng.
We know that, when we speak, no shaking or trembling happens. But, when these angels spoke, the place shook. Even with so much of power, the angels could not stand in front of Lord or look at Him. Hence, they covered their faces and bodies. 
Chúng ta biết rằng, khi chúng ta nói, thì chẳng có cái gì rung chuyển hay run rẩy cả. Nhưng khi các thiên thần tung hô, các nơi đều rung chuyển. Ngay cả với sức mạnh như vậy, các thiên thần không thể đứng trước Chúa và nhìn Chúa. Họ phải che mặt và thân thể của họ lại.
We have studied in Science that the earth rotates on its axis. Have you ever thought how such a huge earth is fixed on a tiny axis? What would happen if the earth stops rotating and revolving? How is the Sun fixed at a particular distance from earth? What would happen if one day, the Sun comes closer to earth? We will be burnt. What will happen if the Sun goes far away from earth? We will be frozen to death. There must be someone that is more powerful than the Sun and the Moon, the stars and the planets. He is the one who makes the Sun rotate, and controls everything in this universe. 
Chúng ta đã học trong khoa học rằng trái đất quay xung quanh trục của nó. Bạn đã bao giờ nghĩ xem vì sao trái đất to lớn nhường ấy mà lại được cố định bằng một cái trục nhỏ như vậy? Chuyện gì xẩy ra nếu như Trái Đất dừng quay? Tại sao mặt trời lại phải cách xa mặt đất nhường đó? Nếu một ngày mặt trời lại gần Trái Đất thì sẽ như thế nào? Chúng ta sẽ bị đốt cháy. Nếu Mặt trời đi xa khỏi Trái Đất thì chúng ta sẽ bị chết rét. Có một người còn mạnh hơn cả mặt trăng, mặt trời, các hành tinh, các ngôi sao, người kiểm soát tất cả mọi thứ trong vũ trụ này.
People depend on Sun and Moon for their fortune. But, the interesting fact is that the Sun and Moon and stars are controlled by Lord. Psalms 148:3- “Praise Him, sun and the moon; praise Him all you shining stars”. 
Con người phụ thuộc vào mặt trăng và mặt trời cho vận may của họ. Nhưng điều thú vị đó là mặt trăng và mặt trời đều do Chúa. Thi Thiên 148:3- “Hỡi mặt trời, mặt trăng hãy ca ngợi Ngài! Hỡi tất cả các vì sao sáng, hãy ca ngợi Ngài”
People try to argue that the functioning of the Sun, the moon and the stars are all scientific, and hence following the zodiac is also scientific. In the book of Job 38:4-11, Lord asks a question, “Where were you when I laid the foundation of the earth? Then Lord goes on explaining what he did. In vs 11 we see Lord telling the sea, “thus far shall you come, and no farther.”
Mọi người thường tranh biện rằng hoạt động của Mặt trời và Mặt trăng đều là khoa học, và do đó, tử vi là tử vi khoa học. Trong sách của Job 38:4-11, Chúa hỏi một câu hỏi, “Khi ta đặt nền Trái Đất thì con ở đâu? Sau đó, Chúa giải thích những gì Ngài làm. Ở câu số 11, chúng ta nhìn thấy Chúa nói với biển, “Ngươi chỉ đến đây thôi, không đi xa hơn nữa, các đợt sóng ngạo nghễ của ngươi phải dừng lại tại nơi nầy.”
Here we see that the sea is under the command and control of the Lord. In Matthew 8: 23-27, Jesus rebuked the wind and the sea; and the storm stopped. Psalms 89:9 - “You rule the raging of the sea; when its waves rise, you still them.” 
Ở đây chúng ta thấy rằng, biển nằm dưới quyền kiểm soát của Chúa. Trong Matthew 8:23-27, Chúa đã quở gió và biển và cơn bão liền tan đi. Thi Thiên 89:9 – “Chúa cai trị sự gầm thét của biển; Khi sóng nổi lên, Ngài khiến chúng lặng im.”
All these means that the sun, the moon, the stars and the entire creation is under the command of Lord. The zodiac follows the pattern of the movement of the sun and the moon and the stars. But, when Lord ask the sun or the moon or the stars to change the direction, they will change, and the zodiac predictions will go wrong.
Tất cả những điều này nghĩa là mặt trăng, mặt trời, các vì sao và tất cả các sinh vật đều dưới quyền kiểm soát của Chúa. Tử vi tuân theo quy luật vận hành của mặt trăng, mặt trời và các vì sao. Nhưng, khi Chúa yêu cầu mặt trăng, mặt trời và các vì sao thay đổi hướng của nó thì nó sẽ liền thay đổi và các phán đoán của tử vi sẽ sai.
Therefore, God is the most powerful, and we must follow only Lord God. Psalms 24:1-2 “The earth is the Lord’s and all that is in it, the world and all those who live in it.” Hence, we need to know and accept that God’s Kingdom is the most powerful and God is our King. He is robed in majesty. 
Do đó, Chúa là quyền năng nhất và chúng ta chỉ tuân theo mình Chúa mà thôi. Thi Thiên 24:1-2 “Đất và muôn vật trên đất, Thế Giới và những người ở trong đó đều thuộc về Đức Giê Hô Va.” Do đó, chúng ta cần phải biết và chấp nhận rằng Vương Quốc của Chúa là quyền năng nhất và Chúa là Vua của chúng ta. Ngài thắt lưng bằng sự quyền năng.
2. Psalms 97:1 - “The Lord is King! Let the earth rejoice.”
When we are in the Kingdom of God, we have a reason to rejoice. It is because we are safe. We are safe because “righteousness and justice are the foundation of His throne (vs. 2). There is no country or kingdom in the world where people feel fully safe. For example, there is a strong government in Vietnam. But still, there is mafia, there is corruption, there is cheating. People do not feel fully safe. 
2. Thi Thiên 97:1 – “Đức Giê Hô Va cai trị! Hỡi trái đất, hãy mừng rỡ”. Khi chúng ta ở trong vương quốc Chúa trời, chúng ta có lý do để vui mừng. Đó là bởi vì chúng ta được an toàn. Chúng ta bình an bởi vì “sự công chính và công lý làm nền móng cho ngôi Ngài.(câu 97:2). Không có vương quốc nào hay đất nước nào trên thế giới nơi mà con người cảm thấy hoàn toàn an toàn. Mà luôn có mafia, nhũng loạn, lừa dối. Con người hoàn toàn không an toàn tuyệt đối.
In God’s Kingdom, we are fully safe. Why and how are we safe in God’s Kingdom? 
Trong vương quốc của Chúa, chúng ta được an toàn tuyệt đối. Bằng cách nào và tại sao mà chúng ta được an toàn trong vương quốc của Chúa?
Vs. 3 - “Fire goes before Him and consumes His adversaries on every side.” When we are within the Kingdom of God, we are also covered by Lord’s fire. In Exodus 13: 21 we read that when God’s children were travelling, Lord went in front of them in a pillar of fire during the nights. Psalms 91:5 “You will not fear the terror of the night.” Why? The answer is in Psalms 91:9-10 “Because you have made the Lord your refuge, the Most High your dwelling place, no evil shall befall you, no scourge come near your tent.”
Câu số 3, - “Lửa bay ra trước mặt Ngài và thiêu đốt hết kẻ thù xung quanh”. Khi chúng ta ở trong vương quốc của Chúa, chúng ta được bao bọc bởi lửa của Chúa. Trong Exodus 13:21, chúng ta đọc rằng, Đức Giê Hô Va đi trước dân chúng, ban ngày thì ở trong một trụ mây để dẫn đường, ban đêm trong một trụ lửa để soi sáng. Thi Thiên 91:5 “người sẽ không sợ dịch lệ lây ra trong tối tăm.” Tại sao? Câu trả lời là Thi Thiên 91:9-10 “Bởi vì ngươi đã nhờ Đức Giê Hô Va làm nơi nương náu mình và đấng Chí cao làm nơi cư trú mình”.
In other words, you have decided to accept Lord as your King and you live in the Kingdom of God. Therefore, no demons or devils can destroy you. All what could happen is Psalms 91:7 “A thousand may fall at your side, ten thousand at your right hand, but it will not come near you.” As we are covered by God in His Kingdom, we will see many destructions around.
Nói cách khác, nếu bạn đã quyết định chấp nhận Chúa như là Vua và sống trong vương quốc của Chúa. Do đó, không có quỷ dữ nào có thể hủy diệt bạn. Tất cả những gì có thể xảy ra đó là trong Thi Thiên 91:7 “Hàng vạn người sa ngã bên ngươi và vạn người bên phải ngươi nhưng tai họa sẽ chẳng đến gần ngươi.” Vì chúng ta đã được bảo vệ và bao bọc trong vương quốc của Chúa, chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều sự hủy hoại xung quanh chúng ta.
We will see many evils; we will see people fighting, cheating, killing etc.,; we will see many diseases; we will see many sufferings. But, when we submit our lives to the Lord, we will be protected from all these. If the devil tries to attack us, fire will proceed from the Lord and destroy them.  Psalms 32:10 “Many are the torments of the wicked; but steadfast love surrounds those who trust in the Lord.” 
Chúng ta có thể nhìn thấy rất nhiều điều độc ác; Chúng ta sẽ nhìn thấy mọi người đánh nhau, lừa lọc, giết nhau vv.. chúng ta nhìn thấy bệnh tật, chúng ta cũng nhìn thấy rất nhiều đau khổ. Nhưng khi chúng ta phó thác cuộc đời của chúng ta cho Chúa, chúng ta sẽ được bảo vệ khỏi mọi tai họa. Nếu quỷ cố tình tấn công chúng ta, lửa sẽ đi ra từ Đức Giê Hô Va và hủy diệt chúng. Thi Thiên 32:10 “Kẻ ác có nhiều nỗi đau đớn nhưng người nào tin cậy Đức Giê – Hô – Va thì sự nhân từ bao phủ người ấy.”
There is an incident reported in Luke 10: 38-42. Here we see that Martha is distracted by worldly things but Maria is just sitting at the feet of Jesus. When Martha complained that her sister Maria is not helping her, Jesus replied, “Martha, you are worried and distracted by many things; there is need of only one thing. Maria has chosen the better part, which will not be taken away from her” (vs. 41-42). 
Có một tình huống được ghi chép lại trong Luke 10:38-42. Ở đây chúng ta thấy rằng Martha bị xao lãng bởi những điều của thế gian nhưng Maria thì chỉ ngồi dưới chân chúa Giê Su. Khi Martha phàn nàn rằng em gái mình là Maria không giúp đỡ cô, chúa Giê Su đáp “Hỡi, Martha, con lo lắng và bối rối về nhiều việc nhưng chỉ có một việc cần mà thôi. Maria đã chọn phần tốt, là phần sẽ không ai đoạt lấy của nàng được.”
Dear friends, the one and only one that we need is Jesus Christ. Romans 8:31, “If God is for us, who is against us?” When we are in God’s Kingdom, we do not have to worry about any troubles. All we need to do is to submit to the Lord. Worries, tension, and anxiety are only for those people who do not know the Lord, or have not invited God’s Kingdom into their lives. 
Các bạn thân mến, người duy nhất mà chúng ta cần là chúa Giê Su. Romans 8:31, “Nếu Đức Chúa Trời đứng về phía chúng ta thì còn ai nghịch với chúng ta?” Khi chúng ta ở trong vương quốc của Chúa, chúng ta không phải lo lắng về bất kỳ khó khăn nào. Tất cả những gì chúng ta cần là phải phó thác cho Chúa. Những lo lắng, những sự căng thẳng và lo âu chỉ dành cho những ai không biết đến Chúa, hoặc không mời gọi vương quốc của Chúa vào đời sống của họ.
We know many people who joined our Bible class and then left. Many people just come in the beginning of the session and then disappear. The reason is that they are distracted by many things. A few later say, sorry, I was busy with studies, Others make the excuse of work, and so on. Actually, it is not study or work or anything. It is the interest. It is because they have no faith in the Lord.
Chúng tôi biết nhiều người đã tham gia lớp học của chúng tôi và đã bỏ đi. Nhiều người chỉ đến vào đầu buổi học và sau đó biến mất. Lý do là bởi vì họ bị xao lãng bởi nhiều thứ. Một số người nói rằng, xin lỗi, em bận học. Người khác viện lý do công việc. Thực ra không phải học, công việc hay bất kỳ cái gì khác. Nó là sự ưu tiên. Nó là bởi vì họ không có đức tin nơi Chúa.
They think that they can better make use of their time by doing other things. Habakkuk 2:4 “Look at the proud! Their spirit is not right in them, but the righteous live by their faith. When we put our complete trust in the Lord, He will go ahead of us. His fire will destroy all the troubles and we can walk fearless. 
Họ nghĩ rằng, họ có thể dành thời gian vào việc khác tốt hơn là dành cho Chúa. Habbakkuk 2:4 “Hãy xem kẻ kiêu căng! Không có tâm hồn ngay thẳng, nhưng người công chính sẽ sống bởi đức tin mình.” Khi chúng ta đặt trọn vẹn niềm tin nơi Chúa, Chúa sẽ đi trước chúng ta. Lửa của Chúa sẽ phá hủy tất cả những khó khăn và chúng ta sẽ bước đi không chút sợ hãi.
Distraction means, instead of trusting the Lord, people go after false things. For example, when we advice, that you just read Psalms and submit to the Lord, there are people who do not believe or follow. Instead, they will go and try to fix their problems by other means. A few people would go to offer flowers to idols. Others go to fortune tellers. Yet others go for black magicians. In Psalms 97: 7 we read, “All worshippers of images are put to shame..” So, the second point is that, we rejoice because The Lord is King. 
Sự xao lãng có nghĩa là, thay vì tin tưởng Chúa, mọi người chạy theo những điều giả dối. Ví dụ, khi chúng tôi khuyên rằng, bạn chỉ cần đọc Thi thiên và phó thác cho Chúa, có những người không tin hay đi theo. Một vài người sẽ đem hương hoa cúng bái. Những người khác đi xem bói. Những người khác lại đi làm phép. Trong Thi Thiên 97:7, chúng ta đọc “Tất cả những người thờ hình tượng đều sẽ bị hổ thẹn”. Như vậy điểm thứ hai là hãy vui mừng bởi vì Chúa là Vua.
The third point is in Psalms 99:1 which we will study in the next class. 
Điểm thứ ba sẽ nằm ở Thi Thiên 99:1, chúng ta sẽ học tiếp trong buổi sau.
God bless you all. Amen. 
Cầu Chúa ban phước cho tất cả mọi người. Amen.



Tuesday, July 2, 2019

Lời cầu nguyện của Chúa - P2: Danh Cha được Tôn Thánh


Glory be to the Father, the Son and the Holy Spirit!!!
Vinh quang cho Đức Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh thần!!!
In the last class, we started with Lord’s prayer. We looked into the first verse about ‘our father’. 
Ở buổi học lần trước, chúng ta đã bắt đầu học lời cầu nguyện của Chúa. Chúng ta đã học về câu đầu tiên đó là về “Cha của chúng ta”.
Tonight, let us look into the following half of verse 9, ‘Hallowed be your name.’ It means, Lord’s name be glorified. 
Tối nay chúng ta sẽ cùng học nửa còn lại của câu 9, “Danh cha được tôn thánh”. Câu này có nghĩa là danh của Chúa được tôn vinh.
‘What is in a name’ is a famous quote from Shakspeare’s Romeo and Juliet. In the play, Juliet’s family opposes her affair with Romeo citing the reason that he belongs to their rival family. In response to this, Juliet replies, “a rose by any other name would smell as sweet”. It means that it is not the name of the person but the true character of the person which is more important. 
“Trong cái tên là có gì” là một câu nổi tiếng trích dẫn trong vở kịch Romeo và Juilet của Shakespeare. Trong vở kịch, gia đình Juliet đã phản đối chuyện tình với Romeo nói rằng anh ta thuộc về gia đình của kẻ thù. Để đáp lại, Juliet đáp rằng “một bông hồng dù dưới cái tên gọi khác thì cũng vẫn thơm như vậy mà thôi.” Điều này có nghĩa rằng, không phải là tên của một người mà chính bản chất của con người đó mới là quan trọng hơn.
Let us analyse our name and see whether the meaning of our name and our true nature are the same. We might discover that our name has little relationship with our true nature. It is a fact that when we were born, our parents did not know what our nature and character would be. So, they just gave a name with the hope that their child will be like the name. But, we grew up differently. 
Chúng ta hãy cùng phân tích cái tên của chúng ta và hãy cùng xem xem cái tên và bản chất của chúng ta có giống nhau không nhé. Chúng ta sẽ nhận ra rằng, cái tên của chúng ta gần như chẳng liên quan gì tới bản chất của chúng ta cả. Thực tế là khi chúng ta được sinh ra, bố mẹ chúng ta không biết bản chất và tính cách của chúng ta sẽ như thế nào. Vì vậy, họ chỉ đặt một cái tên với hy vọng rằng con mình sẽ được như cái tên đó. Nhưng, chúng ta lớn lên thường là khác như vậy.
Dear friends, our names have two problems. 1. Our first name is just randomly chosen by our parents, and most often those names are opposite to what we are. 2. We automatically get the name of our father as the family name. In some cases children get their mother’s name instead of father’s name. In fact, our family name is our true identity. People use their family name with pride. However, in many cases the father’s are not reliable. They live an immoral life, never knew God, and are spoilers. There are people who haven’t even seen their father but still carries his name. 
Các bạn thân mến, tên của chúng ta có 2 vấn đề 1. Tên gọi thì thường do cha mẹ đặt ngẫu nhiên, và thường là trái ngược với bản chất của chúng ta. 2. Chúng ta lấy tên họ theo tên cha. Trong một số trường hợp, con lấy họ của mẹ. Thực tế, tên họ là định danh đích thực của chúng ta. Người ta dùng tên họ với sự tự hào. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp, người cha không đáng tin cậy. Họ sống một đời sống thiếu đạo đức, không biết đến Chúa và là những kẻ trác táng. Có những người thậm chí chưa bao giờ gặp cha mình nhưng vẫn cứ mang họ của cha.
We studied in the last class, what true father means. Our earthly father is often imperfect but we have a heavenly Father who is God Almighty. He is the perfect Father. We need to have His name. It does not mean that we simply accept a Christian name. No one just accept the name of a person who is not the true father. We only do it legally. In the same way, We should have God’s name legally, and not just by name sake acceptance. So the question is, how can we have God’s name legally?
Chúng ta đã học trong buổi học trước, người cha thực sự nghĩa là như thế nào. Người cha ở trần gian của chúng ta thì thường không hoàn hảo nhưng chúng ta có Cha ở trên trời là Đức Giê Hô Va quyền năng. Chúa là vị Cha hoàn hảo. Chúng ta cần phải có tên của Chúa. Nó không có nghĩa là chúng ta chỉ nhận đại một cái tên thánh. Không ai nhận đại một cái họ và tên của người không phải cha mình. Chúng ta cần làm nó một cách hợp pháp. Tương tự, chúng ta cần phải có tên của Chúa một cách hợp pháp chứ không phải là chỉ nhận đại khái như vậy. Vậy câu hỏi là, làm thế nào chúng ta có thể có tên Thánh một cách chính thức.
Before accepting God’s name, we need to know three things:
Trước khi chấp nhận tên của Chúa, chúng ta cần phải biết 3 điều:
1. God’s name is the perfect name for us to accept. Philippians 2:9-11 “Therefore, God also highly exalted Him and gave Him the name that is above every name…………..to the glory of God the Father.” Here, we see that Jesus Christ is ‘the name’. 
1. Tên Thánh là một cái tên hoàn hảo để chúng ta nhận lấy. Philippians 2:9-11
“Chính vì thế mà Đức Chúa Trời đã tôn Ngài lên rất cao,
và ban cho Ngài danh trên hết mọi danh.
Để khi nghe đến danh Đức Chúa Giê Su,
Mọi đầu gối trên trời, dưới đất, bên dưới đất
Đều phải quỳ xuống.
Và mọi lưỡi đều phải xưng nhận
Đức Chúa Giê Su Christ là Chúa
Mà tôn vinh Đức Chúa Trời là Đức Chúa Cha.
Ở đây, chúng ta thấy rằng, danh của Chúa Giê Su được tôn vinh.
2. God has graciously decided to give us His name, by accepting us as His children. Romans 8:15-16 “For you did not receive a spirit of slavery to fall back into fear, but you have received a spirit of adoption. When we cry Abba Father, it is that very Spirit bearing witness with our spirit that we are children of God.” 
Chúa đã nhân từ quyết định ban cho chúng ta tên Thánh bằng cách nhận chúng ta làm con. Romans 8:15-16 
“Thật vậy, anh em đã không nhận lấy tinh thần làm nô lệ để cứ sống trong sự sợ hãi, nhưng hãy nhận lấy tinh thần làm con nuôi, và nhờ đó, chúng ta gọi rằng: “Abba! Cha”. Chính Thánh Linh làm chứng với tâm linh chúng ta rằng chúng ta là con cái Đức Chúa Trời.”
Galatians 4:7 says, “So you are no longer a slave but a child, and if a child then heir, through God.” We know only the children are heirs of their father’s name and property. Neighbours cannot come and claim our dad’s name or property. When God has decided to accept us as His children, we are His legal heirs. God is our true Father and we are His children. Because we are His children, God is happy to give His name to us. 
Galatians 4:7 “Như vậy, nhờ ơn Đức Chúa Trời, anh em không còn là nô lệ nữa mà là con; và nếu là con, thì anh em cũng là người thừa kế.”Chúng ta biết rằng chỉ những ai là con thì mới được thừa kế tên và gia sản của Cha. Những người hàng xóm không thể tới và nhận tên hay gia sản của Cha được. Khi Chúa quyết định nhận chúng ta như là con của Chúa, chúng ta là những người thừa kế hợp pháp. Chúa là Cha thật sự của chúng ta và chúng ta là con cái Chúa. Bởi vì chúng ta là con cái Chúa, nên Chúa sẽ vui mừng ban tên Thánh cho chúng ta.
In fact the first thing that Lord does when He accept us as His children is to change our names. There are several examples in the Bible regarding name changes. In Genesis 17:5, God changed the name of Abram to Abraham. Similarly, Abraham’s wife Sarai’s name was changed to Sarah (Genesis 17:15). In both these cases, it is a gift from the Lord that they will be called Abraham which means ancestor of a great multitude; and Sarah means ‘mother of nations’.  
Trên thực tế, điều đầu tiên mà Chúa làm khi Chúa chấp nhận chúng ta là con cái Chúa ấy là đổi tên của chúng ta. Có một vài ví dụ trong Kinh Thánh liên quan đến việc đổi tên. Trong Sáng Thế Ký, 17:5, Chúa đã đổi tên Abram thành Abraham. Một cách tương tự, Chúa đổi tên vợ của Abraham từ Sarai thành Sarah (Genesis 17:15). Ở cả hai trường hợp này, đây đều là ơn của Chúa rằng họ sẽ được gọi là Abraham có nghĩa là tổ phụ của dòng dõi lớn và Sarah có nghĩa là mẹ của các dân tộc.
Here we need to understand the difference between the former names and the new names after Abraham and Sarah were accepted by God. The previous name Abram means ‘exalted ancestor’. Now, the interesting fact is that Abram did not have any children. So how can he be an ancestor when there is no children to remember him. So after death his name would have faded away. But, when God called and accepted Abram, his name was changed and a son was promised. Moreover, Lord promised that your children will be like the stars of heaven and sands of the seashore (Genesis 22:17). 
Ở đây, chúng ta cần phải hiểu sự khác biệt giữa tên lúc trước và lúc sau của Abram và Sarai khi họ được Chúa chấp nhận. Tên trước đó của Abraham là Abram có nghĩa là “tổ tiên đáng kính”. Tuy nhiên, điều thú vị ở đây là lúc đó Abram lại không có đứa con nào. Vì vậy, làm thế nào để trở thành một tổ tiên đáng kính khi mà mình không có đứa con nối dõi nào. Sau khi chết, cái tên sẽ đi vào quên lãng. Nhưng khi Chúa gọi và chấp nhận Abram, tên đã được đổi và Chúa đã hứa cho Abram một người con trai. Hơn thế, Chúa hứa rằng, con cái của Abram sẽ nhiều như sao trên trời hay cát ở biển (Genesis 22:17). 
Similarly, Sarai means ‘my princess’. But what is the point of being a princess of this world only. After the death, people will forget and follow another princess. But God made her name always remember by changing it to Sarah. After name change she is the mother of nations. And her name remains forever. 
Tương tự, Sarai có nghĩa là “công chúa của ta.” Nhưng có giá trị gì nếu chỉ là công chúa của thế gian này. Sau khi chết, người ta sẽ quên và chạy theo một công chúa khác. Nhưng Chúa đã thay đổi tên để người đời đời phải nhớ đến Sarah. Sau khi đổi tên, Sarah trở thành mẹ của các dân tộc. Và cái tên trở nên vĩnh viễn.
People have names which means wisdom, beauty, intelligent, kind, loving, bold, courageous, smart, intelligent, sunrise, star, moon etc. But, all those names will fade away. In Luke 10:20, Jesus said, do not rejoice about the power that you have, but rejoice because your name is written in heaven. 
Con người có những cái tên để thể hiện sự khôn ngoan, sắc đẹp, thông minh, lòng tốt, sự can đảm, thông minh, bình minh, sao, trăng vv.. Nhưng tất cả những cái tên này sẽ chìm khuất. Trong Luke 10:20, Chúa Giê Su nói, đừng vui mừng về sức mạnh mà con có nhưng hãy vui vì tên của con được viết trên thiên đàng.
Written in heaven means there is a book maintained by God. In that book, God writes down the names of His children only. At the second coming of Jesus, the world will be judged according to this book. Please read Revelations 20:11-15. So if our names are not found in the book we will be thrown away from God. Therefore, it is essential that we have a name that reflects God as our Father. 
Được viết trên thiên đàng nghĩa là có một cuốn sách được Chúa cất giữ. Trong cuốn sách đó, Chúa viết xuống tên của chỉ mình con cái Chúa. Ở lần đến thứ hai của Chúa, thế gian sẽ bị phán xét theo cuốn sách này. Xin hãy đọc Khải Huyền.
Revelations 20:11-15
“Bấy giờ tôi thấy một ngai lớn và trắng với Đấng ngồi trên ngai. Trước mặt Ngài, đất trời đều trốn hết, không còn tìm thấy chỗ nào cho chúng. Tôi thấy những ngừoi chết, cả lớn lẫn nhỏ, đều đứng trước Ngài và các sách được mở ra. Một sách khác là sách sự sống cũng được mở. Những người chết bị phán xét tùy theo công việc họ làm, căn cứ trên những điều đã ghi trên sách ấy. Biển giao lại những người chết mình chứa; sự chết và âm phủ cũng giao lại những người chết mà mình giữ. Mỗi người bị phán xét theo điều mình đã làm. Rồi Sự Chết và Âm phủ bị ném xuống hồ lửa. Hồ lửa là sự chết thứ hai. Người nào không được ghi tên vào sách sự sống thì bị ném xuống hồ lửa.”
Vì vậy, nếu tên của chúng ta không được tìm thấy trong sách của sự sống thì chúng ta sẽ bị ném xuống hồ lửa. Do đó, điều quan trọng là chúng ta cần phải có một cái tên Thánh là tên Chúa ban cho chúng ta.
3. So can we simply accept a name. No. As I said, God has to accept us. God is always willing to accept us. But, the question is, are we willing to accept God as our eternal father? Only when we accept Lord, He will accept us. Then He will give us a Godly name to be used as our name. It simply means that we need to change. How do we change?
3. Vậy thì chúng ta có thể nhận đại một cái tên không. Không, như tôi đã nói, Chúa phải nhận chúng ta. Chúa luôn sẵn sàng để chấp nhận chúng ta. Nhưng câu hỏi là, chúng ta có sẵn sàng nhận Chúa là vị Cha đời đời của chúng ta không. Chỉ khi chúng ta nhận Chúa, thì Chúa mới nhận chúng ta. Sau đó Chúa sẽ ban tên Thánh cho chúng ta. Điều này đơn giản có nghĩa là, chúng ta cần phải thay đổi để chấp nhận Chúa.
Galatians 2:19-20: “.........I have been crucified with Christ; and it is no longer I who live, but it is Christ who lives in me.” The meaning of this verse is even clearer in Galatians 5:24: “And those who belong to Christ Jesus have crucified the flesh with its passions and desires.” 
Galatians 2:19-20

“Vì bởi luật pháp, tôi đã chết đối với luật pháp để sống cho Đức Chúa Trời. Tôi đã bị đóng đinh vào thập tự giá với Đấng Christ, mà tôi sống, không phải là tôi sống nữa, nhưng Đấng Christ sống trong tôi.”

It means, in order to be accepted by the Lord, we need to submit and nail all our evil deeds, all our sins, and all our dirty lives on the cross. Anything that is devilish, should be submitted to the cross of Jesus Christ. Each of us have different kinds of devilish things in our lives. Some have fear; some have anxiety, some have short tempered nature; some are greedy; some are jealous; some have pride; some have lack of confidence; some have the habit of telling lies; some are lazy. Again another set of people that are cheats, drunkards, addicts, adulterers, abusers, and even murderers. Yet another set of people who are worried of their sickness or the sickness of their dear ones; people who are suffering from debts; failures, disappointments, heart-broken etc etc. 
Điều này có nghĩa là, để được Chúa chấp nhận, chúng ta cần phải giao nộp và đóng đinh tất cả những việc ác, những tội lội và đời sống bẩn thỉu của chúng ta trên cây Thánh giá. Bất cứ điều gì ác độc, cần phải được phó thác và giao nộp trên cây Thánh giá của Chúa Giê Su. Mỗi chúng ta đều có những điều ác khác nhau trong đời sống của mình. Một số người sợ hãi, một số lo lắng, một số có bản chất nóng nảy, một số lại tham lam, ghen tị, một số lại tự cao tự đại, một số thiếu tự tin, một số lại hay nói dối và lười biếng. Lại có những kiểu người khác lừa dối, nghiện ngập, ngoại tình, lạm dụng thậm chí giết người. Hoặc lại có những người luôn lo lắng về bệnh tật của mình hay bệnh tật của người thân, những người bị nợ nần, thất bại, tuyệt vọng, tan vỡ vv…
We need to first realise that all these are from the devil. Secondly, always remember that Jesus defeated the devil on the cross forever. So when we submit all these things or whatever is our problem, on the cross, it means that we are kicking out the devil from our life. When we nail our problem on the cross, Jesus immediately accept us and washes us with His blood. After washing, we are completely clean. Once we are clean, we are a new creation in Christ (2 Corinthians 5:17). Once we are new in Christ, we get His name. That is our new name and that new name is our new identity. 
Chúng ta cần phải nhận ra rằng, tất cả những điều này đều đến từ quỷ. Thứ hai, nhớ rằng Chúa Giê Su đã chiến thắng Quỷ trên cây Thánh giá vĩnh viễn. Vì vậy, khi chúng ta phó thác những điều này hay bất cứ điều gì của chúng ta trên cây Thánh giá có nghĩa là chúng ta đang đuổi quỷ ra khỏi đời sống của chúng ta. Khi chúng ta đóng đinh vấn đề của chúng ta trên cây Thánh giá, Chúa sẽ ngay lập tức chấp nhận chúng ta và rửa sạch chúng ta bằng máu của Ngài. Sau khi rửa sạch, chúng ta sẽ trở nên sạch. Khi chúng ta sạch, chúng ta sẽ trở nên một sinh vật mới (2 Corinthians 5:17). Một khi chúng ta là sinh vật mới trong Chúa, chúng ta sẽ có tên của Chúa. Đó sẽ là tên mới của chúng ta và tên đó sẽ là định danh mới của chúng ta.
This is what happens in baptism. In baptism we are washed completely with water outside of our body, and inside with the body and blood of Christ. After baptism, we have  a new name in Lord. It is a Christian name. That becomes our identity in heaven. That is the name written in the Book of Life kept in heaven. After death, when we reach in front of Lord, this is the name that Lord will look for in the book. And, if the name is not found, we are not accepted in heaven, as we read in Revelation 20:15. 
Đây là điều xảy ra khi chúng ta rửa tội. Trong lễ rửa tội, chúng ta được rửa hoàn toàn bằng nước và bên trong bởi thân thể và máu của Chúa. Sau lễ rửa tội, chúng ta sẽ có một cái tên mới trong Chúa. Đó sẽ là tên Thánh của chúng ta. Và đó sẽ trở thành định danh của chúng ta trên thiên đàng. Đó là cái tên được viết trong sách Sự sống được giữ trên thiên đàng. Sau cái chết, khi chúng ta đến trước mặt Chúa, đây sẽ là cái tên mà Chúa sẽ tìm trong sổ Chúa. Và nếu cái tên không được tìm thấy, chúng ta sẽ không được chấp nhận trên Thiên đàng, như chúng ta đã đọc trong Khải Huyền.
When we pray, hallowed be your name, we acknowledge that my name is nothing. It is your name O’Lord which is the most important. So I praise your name. And, O’Lord please accept me, wash away my sins, baptise me and give me your name. We then carry the name of our Lord Jesus Christ in our body. Galatians 6:17: “From now on, let no one make trouble for me; for I carry the marks of Jesus branded on my body.” 
Khi cầu nguyện, Danh cha được tôn thánh, chúng ta thừa nhận rằng, tên của chúng ta không là gì cả. Mà chính tên của Chúa mới là quan trọng nhất. Vì vậy, con ngợi khen danh của Chúa. Và xin Chúa hãy chấp nhận con, hãy rửa mọi tội lỗi của con, rửa tội cho con và cho con danh của Ngài. Sau đó chúng ta sẽ mang danh của Chúa Giê Su trên thân thể của chúng ta. Galatians 6:17. “Từ nay về sau, không ai gây phiền toái cho tôi nữa, vì tôi mang dấu vết của Đức Chúa Giê Su trên thân thể tôi.”
Through baptism, we receive two marks on our body: 1. The cross sign on the forehead at the baptism ceremony; 2. The new name as a permanent mark and identity. 
Qua việc rửa tội, chúng ta nhận được hai dấu vết trên thân thể: 1. Dấu Thánh Giá trên trán trong lễ rửa tội; 2. Tên Thánh là tên mới, và là cái tên vĩnh viễn.
As we read earlier in Philippians 2:10 - at the name of Jesus, every knee shall bend in heaven, on earth and under the earth. It means that in heaven angels worship the name of Jesus by kneeling down (Revelation 4). On earth and under the earth, it is we the people and the devil. We kneel down and worship the name. The devil does not worship, but it cannot stand in front of Lord. So what happens is that when we carry the name of Jesus as our name, the devil will start trembling and kneel down and surrender. Let us look at an example:
Như chúng ta đọc trước đó trong Phillipians 2:10 – trước danh Chúa Giê Su, mọi đầu gối trên trời, dưới đất và dưới lòng đất đều phải quỳ xuống. Điều này có nghĩa là ở trên Thiên đàng, các thiên sứ quỳ xuống để thờ phượng Chúa. Dưới mặt đất và dưới lòng đất, chúng ta và quỷ. Chúng ta quỳ xuống và thờ phượng danh Ngài. Quỷ không thờ Chúa, nhưng trước danh Chúa thì nó sẽ phải quỳ xuống. Vì thế, chuyện xảy ra khi khi chúng ta mang tên Thánh ấy là quỷ sẽ bắt đầu run rẩy và quỳ xuống hàng phục. Chúng ta hãy cùng xem một ví dụ nhé. Acts 3:1-8

1 Buổi cầu nguyện giờ thứ chín, Phi-e-rơ với Giăng cùng lên đền thờ. 2 Vả, có một người què từ lúc sanh ra, cứ hằng ngày người ta đem đặt tại cửa đền, gọi là Cửa Đẹp, đặng ăn mày những người vào đền. 3 Người thấy Phi-e-rơ và Giăng vào, thì xin hai người bố thí. 4 Phi-e-rơ với Giăng ngó chăm người, rồi nói rằng: Hãy nhìn xem chúng ta. 5 Vậy, người bèn nhìn chăm chăm hai người, tưởng sẽ được chút gì. 6 Nhưng Phi-e-rơ nói với người rằng: Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, hãy bước đi! 7 Phi-e-rơ nắm tay hữu người đỡ dậy. Tức thì bàn chân và mắt cá người trở nên cứng vững; 8 người liền nhảy, đứng lên và bước đi cùng hai người vào đền thờ, vừa đi vừa nhảy, vừa ngợi khen Đức Chúa Trời.

We see there Peter saying, “I have no silver or gold, but what I have I give you; in the name of Jesus Christ of Nazareth, stand up and walk.” So what did Peter have? It was the name of Jesus Christ. 
Chúng ta thấy ở đây Peter nói rằng “Ta chẳng có vàng bạc chi hết, song điều ta có thì ta cho ngươi: nhân danh Đức Chúa Jêsus Christ ở Na-xa-rét, hãy bước đi!” Vậy ở đây Peter có gì? Đó chính là danh của Chúa Giê Su Christ.
Dear friends, we are also troubled everyday by the devil in the form of sickness, depression, anxiety, failures, losses etc., All we need to do is to simply command like Peter. I have no silver or gold. It means I have no money to waste with fortune tellers, black magicians, false doctors and so on. But I have the name of Jesus. In the name of Jesus, you sickness, you devil go away. And it will immediately go away, because every knee shall bend at Jesus’s name. 
Các bạn thân mến, chúng ta hàng ngày đều bị rắc rối gây ra bởi quỷ dưới hình dạng của ốm đau, buồn khổ, thất bại, mất mát vv.. Tất cả những gì chúng ta cần là hãy ra lệnh giống như Peter. Ta không có vàng bạc gì cả. Có nghĩa là chúng ta không có tiền để phung phí vào thầy bói, phù thủy, ma thuật hay những bác sỹ giả. Nhưng chúng ta có danh của Chúa Giê Su. Nhân danh Chúa Giê Su, ngươi con quỷ gây ốm, hãy rời khỏi ta. Và nó sẽ phải rời đi. Bởi mọi đầu gối đều phải cúi xuống dưới danh của Chúa Giê Su.
Therefore, tonight, my beloved friends, make a decision to wash away all your sins, and get cleansed and get accepted by Jesus. Then, you will get a new name, and you will have a new identity, as the child of God. You will have God as your Father, and His name will be your legal and eternal identity. 
Do đó, tối nay, các bạn thân mến, hãy quyết định thanh tẩy tội lỗi của bạn, được rửa sạch và được Chúa Giê Su chấp nhận. Sau đó, bạn sẽ có một danh mới, và bạn sẽ có một định dạng mới, là con cái Chúa. Bạn sẽ có Chúa là cha bạn và tên Cha ban cho sẽ là định danh hợp pháp và suốt đời của bạn.
God bless you. Amen.
Cầu chúa ban phước cho bạn. Amen.